Âm nhạc Triều Tiên

(đổi hướng từ Âm nhạc Hàn Quốc)
Diễu hành nhạc truyền thống ở Seoul.

Nhạc truyền thống Triều Tiên bao gồm nhạc dân tộc, thanh nhạc, tôn giáo và phong cách âm nhạc nghi lễ của người Triều Tiên. Nhạc Triều Tiên, cùng với nghệ thuật, tranh vẽ và điêu khắc được hình thành từ thời tiền sử.[1] Hai sự khác biệt văn hoá âm nhạc tồn tại ở Triều Tiên ngày nay là: nhạc truyền thống (Gugak) và nhạc phương Tây (yangak).

Lịch sửSửa đổi

Tiền–Tam quốc Triều TiênSửa đổi

Nhạc truyền thống Triều Tiên của thời tiền-tam quốc không được biết đến nhiều, trong khi một số ghi chép lịch sử của Trung Quốc viết rằng người của Phù Dư, Cao Câu Ly, Đông UếTam Hàn đã uống và nhảy múa trong mùa thu hoạch. Một số văn bản còn nói rằng bộ tộc Triều Tiên có thói quen cúng trời đất, nhảy múa và uống nhiều ngày như một nghi lễ nông sản.[2]

Tam HànSửa đổi

Các bản ghi chép lâu đời nhất về âm nhạc Triều Tiên xuất hiện trong văn bản lịch sử Trung Quốc, Tam quốc chí được viết bởi Trần Thọ (233-297). Nó nói rằng người Mã Hàn thực hiện nghi thức vào tháng năm và tháng mười không nhảy múa trong vài ngày. Triều Tiên vương triều thực lục trong suốt thời Triều Tiên Thế Tông nói rằng Tam Hàn có một phong cách âm nhạc riêng nhưng không có nhạc cụ.[3]

Tam quốc Triều TiênSửa đổi

Cao Câu LySửa đổi

Lịch sử âm nhạc của Cao Câu Ly chủ yếu chia thành ba giai đoạn: đầu tiên là giai đoạn trước khi bị ảnh hưởng từ bên ngoài khi đàn tranh geomungo, một nhạc cụ truyền thống được phát minh.;[4] thứ hai là khoảng thế kỉ thứ 4 đến thế kỉ thứ 6 khi Cao Câu Ly bắt đầu thiết lập mối quan hệ với Bắc Ngụy; giai đoạn sau cùng là cuối thế kỉ 6 cho đến sau khi vương quốc sụp đổ

Hwangjoga (Hangul황조가; Hanja黃鳥歌) là một bài hát từ Cao Câu Ly sáng tác bởi vua Lưu Ly. Bài hát nói về một công chúa mang tình cảm của mình trao cho ông.[5]

Theo Tam quốc sử ký (Niên sử của tam quốc), được viết vào năm 1145, đàn tranh geomungo được phát minh bởi tướng Vương Sơn Nhạc được sử dụng như các nhạc cụ cổ đại Trung Quốc cổ cầm (còn được gọi là chilhyeongeum, nghĩa là "đàn bảy dây"). Sau khi ông mất, nhạc cụ được truyền lại cho Ok Bogo, Son Myeong-deuk, Gwi Geum, An Jang, Cheong Jang, và Geuk Jong, khi được lan truyền rộng rãi truyền toàn quốc.

Nguyên mẫu của nhạc cụ được vẽ trong lăng Cao Câu Ly. Họ tìm thấy trong lăng của Muyongchong và lăng mộ Anak thứ 3.

Bách TếSửa đổi

Ca khúc duy nhất của Bách Tế được truyền lại cho đến bây giờ là Jeongeupsa (hangul: 정읍사), nhưng vì không có những di tích cụ thể như những bức tranh trong lăng mộ của Cao Câu Ly, nên rất khó khăn để hiểu được nó như thế nào. Hiển nhiên rằng Bách Tế cũng tổ chức lễ hội thu hoạch vào tháng năm và tháng mười giống như Cao Câu Ly.[6]

Âm nhạc của Bách Tế đã được biết đến Nam TốngBắc Nguỵ, trong khi một số người trình bày được mời đến Nhật Bản.[7] Đáng chú ý, một người đàn ông của Bách Tế tên là Mimaji (hangul: 미마지) đã học nhạc và múa ở Trung Quốc và di cư đến Nhật Bản vào năm 612.[8][9] Vào năm 2001, hoàng đế Nhật Bản Akihito đã nói rằng âm nhạc của Bách Tế là nguồn gốc của nhạc hoàng gia Nhật Bản, vì Thiên hoàng Kanmu (871-896) là hậu duệ của vua Vũ Ninh. (r.501-523).[7]

Tân LaSửa đổi

 
Bảo tàng Vu Lặc ở Goryeong, Gyeongssangbuk-nơi mà cho thấy âm nhạc phát triển ở Già Da và Tân La.
 
Đàn tranh Sanjo gayageum

Trước khi Tân La thống nhất tam quốc, âm nhạc của Tân La được đại diện cho âm nhạc truyền thống, đàn tranh gayageum được người ta nói rằng nhạc công Vu Lặc (Wureuk) từ Già Da mang đến triều đại vua Chân Hưng khi vương quốc của ông đã liên kết với lực lượng Tân La. Mặc dù Samguk Sagi truyền tải 12 tên tác phẩm mà Wureuk đã làm, nhưng nó không được thừa hưởng đầy đủ. Vào năm thứ 13 của Chân Hưng, Ureuk đã dạy đàn tranh gayageum, bài hát và điệu múa cho ba đồ đệ Gyego, Beopji y Mandeok.[10]

Sau đó các học giả nổi tiếng, Thôi Trí Viễn (Hangul: Choe chiwon) người đã học ở nhà Đường tách biệt hệ thống cấp bậc hình xương của Tân La Silla luật ngũ thơ của hyangak (bài hát địa phương) miêu tả nghệ thuật biểu diễn ở Tân La vào cuối kỉ nguyên đó.[11]

Thời kì Nam-Bắc quốcSửa đổi

Tân La thống nhấtSửa đổi

Sau khi đất nước thống nhất, âm nhạc của Tân La đã trải qua những dòng nhạc đa dạng từ Bách Tế và Cao Câu Ly với sự phát triển mạnh mẽ hơn hyangak, đặc biệt là hai loại đàn tranh là gayageum và geomungo cùng sự phát triển của đàn tỳ bà.[12] Ngoài ra, âm nhạc từ nhà Đường được giới thiệu dưới triều đại của vua Văn Vũ. Thánh ca Phật giáo, Beompae (hangul:범패) được áp dụng rộng rãi với nhiều nhạc cụ, hình thành một nghệ thuật độc đáo ở Tân La.[13][14] Trong suốt Tân La thống nhất, viện âm nhạc hoàng gia (hangul:음성서) được thành lập.[15]

Nhã nhạc - Nhạc cung đình Triều TiênSửa đổi

 
Dàn biên chung Triều Tiên trong Nhã nhạc cung đình

“Âm nhạc cung đình” theo nghĩa thông thường được hiểu là các thể loại ca nhạc, kể cả các thể loại ca nhạc đi kèm với múa và diễn xướng âm giai nhạc thính phòng, dùng trong các lễ nghi cúng tế và triều chính, các ngày quốc lễ do triều đình tổ chức và sinh hoạt vui chơi giải trí của vua và hoàng tộc. Còn tên gọi “Nhã Nhạc” (a-ak 아악) được các triều đại thời Choseon dùng với những nội hàm khác nhau: khi để chỉ âm nhạc cung đình nói chung, lễ nhạc cung đình nói riêng, khi để chỉ một tổ chức âm nhạc, thậm chí một dàn nhạc cụ thể.

Nền tảng ban đầu của Nhã nhạc – Âm nhạc cung đình Triều Tiên đã bắt đầu thịnh hành từ năm 1116 của thế kỷ 11. Âm nhạc cung đình Triều Tiên chính thức hình thành với sự lên ngôi của Triều Tiên Thái Tổ. Các thể loại âm nhạc cung đình Triều Tiên gồm Jeongak (chính nhạc), Sinawi (hòa tấu hầu đồng), ả đào pansori, gagok, sanjo (tương tự như thể cách hát nói trong ca trù Việt Nam), Dangak (Đường nhạc), Gugak (Quốc nhạc) và Hyangak (Hương nhạc).

Ở Hàn Quốc, không gian thờ cúng Khổng Tử tiêu biểu có thể kể đến Daeseongjeon (Điện Đại Thành) trong Seonggyungwan. Ở đây, cứ tới tháng 2 và tháng 8 âm lịch hàng năm, người ta lại cử hành nghi lễ cúng tế và Nhạc tế lễ Văn Miếu được diễn tấu trong các nghi thức này. Trong kho âm nhạc cúng tế Văn Miếu Munmyojeryeak, Hwangjonggung là nhạc phẩm cơ bản. Âm nhạc tế lễ Văn Miếu có 15 bản nhạc được kế truyền, ca từ có đôi chút khác biệt tùy theo mức độ cao thấp của bản nhạc. Hiện giờ, nghi lễ cúng tế Văn Miếu Munmyojeryeak sử dụng âm nhạc cung đình thời nhà Tống, du nhập vào Hàn Quốc từ thời Goryo (thế kỷ X – XIV). Mặc dù đã trải qua hơn 1.000 năm lịch sử phát triển và được cải biến theo văn hóa và lối tấu nhạc của người Hàn Quốc, nhưng âm nhạc tế lễ Văn Miếu vẫn mang nét đặc trưng cơ bản. Ở Trung Quốc, sau khi nhà Thanh sụp đổ, nhà nước cộng sản đứng lên nắm chính quyền, nghi thức tế lễ Văn Miếu đã hoàn toàn bị xóa sổ. Gần đây trong tiến trình khôi phục văn hóa truyền thống, Trung Quốc đã nghiên cứu tham khảo nghi lễ cúng tế Văn Miếu còn được lưu truyền ở Hàn Quốc. Âm nhạc cung đình dưới thời Joseon ở Hàn Quốc gồm ba dòng nhạc lớn là Ahak (Nhã nhạc), Dangak (Đường nhạc) và Hyangak (Hương nhạc). Trong số này Nhã nhạc là dòng âm nhạc du nhập vào bán đảo Hàn Quốc từ Trung Quốc. Hiện giờ nhạc tế lễ Văn Miếu Munmyojeryeak là ví dụ duy nhất của nhã nhạc. Âm nhạc thông thường của Trung Quốc, không phải nhạc cúng tế, được lưu truyền tới bán đảo Hàn Quốc được gọi là Đường nhạc. Hương nhạc là âm nhạc của Hàn Quốc. Boheoja (Bộ hư tử) và Nakyangchun (Lạc Dương xuân, tức “Mùa xuân ở Lạc Dương”) là hai nhạc phẩm Đường nhạc còn lại được lưu truyền tới ngày nay. Nhạc phẩm thơ chữ Hán phổ nhạc Boheoja (Bộ hư tử) được bắt đầu với câu thơ “Thiên môn hải nhật tiên hồng…”, có nghĩa là:

Khi cửa trời vừa mở, biển đã vội đỏ au
Cát đỏ, rìu ngọc, khí vận linh thiêng trỗi dậy
Tấu nhạc trời trên nền trời tươi đẹp
Rực rỡ từng hàng phượng hoàng ánh vàng, ngỗng ánh bạc.

Boheoja (Bộ hư tử) còn có tên gọi là Jangchunbullojigok (Trường xuân bất lão chi khúc). Ở đây Boheoja có nghĩa là “người đi trên không trung”, nên có ý kiến cho rằng nhạc phẩm này liên quan tới Đạo giáo. Đường nhạc tồn tại và phát triển ở Hàn Quốc đã không còn đặc trưng của âm nhạc Trung Hoa. Giờ đây Đường nhạc đã được hương nhạc hóa với nét đặc trưng độc đáo. Trong ba dòng nhạc cung đình là nhã nhạc, đường nhạc và hương nhạc thì hương nhạc là dòng âm nhạc thuần Hàn. Khác với dòng dân ca là âm nhạc dành cho bách tính, hương nhạc là âm nhạc tế lễ Tông Miếu (Jongmyojeryeak) do nhà vua Sejong (Thế Tông) sáng tác, gần giống với âm nhạc cung đình Sujecheon (Thọ tề thiên) có gốc gác từ khúc ca Jeongeupsa (Tỉnh ấp từ) của thời Baekje (Năm 18 trước Công Nguyên – thế kỷ VII) ở Hàn Quốc.

Âm nhạc đương đạiSửa đổi

Sáu khi Chiến tranh Triều Tiên kết thúc năm 1953, bán đảo Triều Tiên bị chia cắt thành Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (còn gọi là Triều Tiên hoặc Bắc Triều Tiên) ở phía bắc và Đại Hàn Dân quốc (còn gọi là Đại Hàn, Hàn Quốc hoặc Nam Hàn) ở phía nam. Như vậy 2 miền nam-bắc đã phát triển thành 2 nền âm nhạc riêng biệt.

Hàn Quốc là một môi trường sôi động với âm nhạc đương đại. Quốc gia đã sản xuất ra nhiều nhạc sĩ và ca sĩ quốc tế bao gồm PSY một trong những ca khúc của anh đã trở thành hiện tượng toàn cầu. Hơn nữa, một thể loại mới được gọi là K-pop (pop Hàn Quốc) cũng nổi lên vào những năm 1990 cho đến nay.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Triều Tiên – Tôn giáo và ý nghĩa văn hoá”. 
  2. ^ Don Michael Randel (2003). The Harvard Dictionary of Music. Harvard University Press. tr. 273. ISBN 0674011635. 
  3. ^ Royal Asiatic Society, Transactions of the Korea Branch of the Royal Asiatic Society, 48–51, tr. 7 
  4. ^ 《三國史記》 〈雜紙〉 1
  5. ^ Kim, Hung-gyu. “Tìm hiểu văn học Triều Tiên”. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  6. ^ Yoon, seoseok. “Festive Occasions: The Customs in Korea”. Google E-books. Đại học nữ sinh Ewha. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  7. ^ a ă Tudor, Daniel. “Korea: The Impossible Country”. Google ebooks. Tuttle Publishing. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  8. ^ Pratt, Keith. “Everlasting Flower: Lịch sử của Triều Tiên”. Reaktion Books. 
  9. ^ Harich-Schneider, Eta (1954). “The rhythmical Patterns in gagaku and bugaku. [Mit Illustr. u. Notenbeisp.]”. Ethno-Musicologica (Netherlands) 3: 10. 
  10. ^ Yi, Pyŏng-ok. “Korean folk dance”. Korea Foundation. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  11. ^ Elisseeff, Vadime. “The Silk Roads: Highways of Culture and Commerce”. Berghahn Books, 1998. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  12. ^ Elisseeff, Vadime. “The Silk Roads: Highways of Culture and Commerce”. Berghahn Books, 1998. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  13. ^ Randel, Michael. “The Harvard Dictionary of Music”. Harvard University Press, 2003. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  14. ^ Tokita, Alison; W. Hughes, David. “The Ashgate Research Companion to Japanese Music”. Ashgate Publishing, 2008. 
  15. ^ Wiet, Gaston (1975). “History of Mankind: The great medieval civilizations (2 v. in 4)”. History of Mankind: Cultural and Scientific Development. 2 Volumes in 4 (International Commission for a History of the Scientific and Cultural Development of Mankind): 763. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  • Provine, Rob, Okon Hwang, and Andy Kershaw (2000). "Our Life Is Precisely a Song". In Broughton, Simon and Ellingham, Mark with McConnachie, James and Duane, Orla (Ed.), World Music, Vol. 2: Latin & North America, Caribbean, India, Asia and Pacific, pp 160–169. Rough Guides Ltd, Penguin Books. ISBN 1-85828-636-0.
  • Thông tin chi tiết văn hoá Hàn Quốc. "Nghệ thuật truyền thống". Hàn Quốc. p 27. Tổng cục du lịch Hàn Quốc, 2007.

Liên kếtSửa đổi