Khác biệt giữa các bản “Phong trào Giám lý”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (r2.7.2) (Bot: Thêm ga:Modhachas)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
{{Phong trào Giám Lý}}
'''Phong trào Giám Lý''' là một nhóm các giáo hội có mối quan hệ lịch sử với nhau thuộc Cộng đồng [[Tin Lành|Kháng Cách]] (''Protestant''). Bắt nguồn từ cuộc phục hưng tôn giáo khởi phát bởi [[John Wesley]] tại [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|Anh Quốc]] vào [[thế kỷ 18]]. John Wesley, một mục sư Anh giáo, cố giữ phong trào chấn hưng tâm linh này phát triển bên trong [[Giáo hội Anh|Giáo hội Anh Quốc]], và cũng có khá đông chức sắc [[Anh giáo]] gia nhập phong trào.<ref>http://www.bbc.co.uk/religion/religions/christianity/subdivisions/methodist_1.shtml/ BBC History</ref> Ngay từ thế kỷ 18, Phong trào Giám Lý đã bắt đầu phân nhánh: Giám Lý xứ Wales, Giám Lý theo [[Thần học Calvin]],<ref>Richard Bennett, "Howell Harris and the Dawn of Revival", (1909, Eng. tr. 1962), ISBN 1-85049-035-X</ref><ref>Gwyn Davies, "A Light in the Land", (2002), Ch 5, ISBN 1-85049-181-X</ref> và hội đoàn Giám Lý của Nữ Bá tước Hungtington qua ảnh hưởng của [[George Whitefield]].
 
Tín hữu Giám Lý đến từ mọi giai tầng trong xã hội, kể cả giới thượng lưu nhiều quyền lực.<ref>J A Clapperton, "Romance and Heroism in Early Methodism", (1901)</ref> Song, các nhà thuyết giáo Giám Lý thường tìm đến các khu vực có nhiều người lao động nghèo và tội phạm là những người bị các giáo hội bỏ rơi, đem đến cho họ thông điệp phúc âm. Sau một thời gian chần chừ, Wesley tiếp bước Whitefield tổ chức những buổi truyền giảng bên ngoài khuôn viên các nhà thờ.<ref>John Wesley, ''Journal'' [[31 March]] [[1739]]</ref>
 
== Ly giáo ==
Dù Wesley không hề có ý định rời bỏ Giáo hội Anh nhưng sau cuộc [[Cách mạng Mỹ|Cách mạng Hoa Kỳ]], Giáo hội Anh từ khước những người Mỹ theo Anh giáo và từ chối phong chức mục sư cho họ. Wesley quyết định làm lễ phong chức cho những người này, và vì ông không phải là giám mục nên điều này đặt ông vào thế đối kháng với giáo hội. Năm [[1784]], Wesley và các nhà lãnh đạo khác thành lập Giáo hội Giám Lý như là một thực thể độc lập với Anh giáo. Dù vậy, Wesley vẫn tiếp tục thi hành mục vụ của một mục sư Anh giáo cho đến khi qua đời.
 
== Thần học và giáo nghi ==
[[Tập tin:Methodist church St Martin Jersey interior.jpg|180px|nhỏ|phải|Bên trong Nhà thờ Giám Lý St. Martin, Jersey]]
Tín hữu Giám Lý, theo thần học Arminius, tin vào ý chí tự do của con người, qua [[ân điển]] tiên kiến của [[Thiên Chúa]], vì vậy bất đồng với thuyết tiền định, là thuyết được chấp nhận rộng rãi trong các giáo phái theo thần học Calvin như [[Giáo hội Trưởng Lão (Cơ Đốc)Nhiệm|Trưởng Lão]]. Tuy nhiên, tại những vùng chịu ảnh hưởng của tư tưởng Calvin như xứ [[Wales]], vẫn tồn tại các giáo hội Giám Lý theo Calvin.
 
John Wesley không phải là một nhà thần học, mặc dù nhiều sinh viên chủng viện vẫn thường nghiên cứu các bài giảng của Wesley để tìm hiểu tư tưởng [[thần học]] của ông. Thần học Giám Lý lại được thể hiện và được chấp nhận rộng rãi qua các bài thánh ca được sáng tác bởi Charles Wesley.
 
Tín hữu Giám Lý tin vào giáo lý [[Ba Ngôi]], [[Thiên Chúa]] hiện hữu trong ba thân vị [[Chúa Cha]], [[Giê-xusu|Chúa Con]] và [[Chúa Thánh Linh]]. Niềm xác tín bao hàm lời chứng của Kinh Thánh rằng Thiên Chúa tạo dựng thế giới, kiểm soát dòng lịch sử của nhân loại và tể trị đời đời. Họ chỉ cử hành hai thánh lễ: [[Thanh Tẩy|Báp têm]] và [[Tiệc Thánh]].
 
Quan điểm truyền thống của giáo hội là bất cứ tư tưởng thần học nào cũng cần quan tâm đến yếu tố lý trí. Nhờ lý trí, tín hữu đọc và giải thích [[Kinh Thánh]], xét xem lời chứng nào là đúng, và tra vấn về đức tin cho đến khi thông hiểu ý chỉ của Thiên Chúa.
==Giám Lý tại Anh Quốc==
[[Tập tin:NewInnHallSt WesleyMemorialChurch 6058.jpg|nhỏ|170px|phải|Nhà thờ Tưởng niệm Wesley, [[Oxford]], Wesley từng theo học tại đây]]
Tại Anh, phong trào Giám lý luôn được biểu trưng với cơ cấu tập quyền, hội đoàn (''connexion''), tổ chức hội nghị hằng năm. Hội đoàn được chia thành nhiều hạt (''district''), đặt dưới quyền lãnh đạo của một chủ tọa (có thể là nam hay nữ). Hạt lại được chia thành các khu vực (''circuit'') đứng đầu là một mục sư chủ nhiệm (''superintendent minister''). Giám Lý ở nước Anh không thiết lập chức [[giám mục]].<ref>[http://www.methodist.org.uk/static/conf2005/co_60_whatsortofbishops_0805.doc What sorts of bishops?:Models of episcopacy and British Methodism]</ref> Các mục sư được bổ nhiệm vào những khu vực hơn là vào những nhà thờ riêng lẻ (mặc dù một số nhà thờ tại trung tâm các thành phố lớn, gọi là central hall, xem mình là ngang bằng một khu vực (nhà thờ Methodist Central Hall, đối diện [[Tu viện Westminster|Westminster Abbey]] tại trung tâm Luân đôn là một điển hình). Hầu hết các khu vực có số mục sư ít hơn số lượng nhà thờ, nên lễ thờ phụng thường được hướng dẫn bởi các truyền đạo địa phương (''local preacher''), hay bởi các mục sư hưu trí. Phong trào Giám Lý có ảnh hưởng lớn tại xứ Wales và [[Cornwall]], tại đây người dân không mấy thiện cảm với Giáo hội Anh.
 
Những cuộc ly giáo từ bên trong giáo hội Giám Lý nguyên thủy, cùng với các cuộc phục hưng dẫn đến việc hình thành nhiều giáo phái độc lập tự xem mình là Giám Lý. Lớn nhất trong các giáo phái này là Giáo hội Giám lý Tiên khởi, xuất phát từ một cuộc phục hưng tại Mow Cop, [[Staffordshire]], và Giáo hội Giám lý Hiệp nhất (không phải giáo phái có cùng tên tại Hoa Kỳ). Từ đó, Giáo hội nguyên thủy được biết đến với tên Giáo hội Giám lý Wesley. Năm [[1933]], ba nhánh chính của Giám lý nước Anh quyết định hiệp nhất để trở thành Giáo hội Giám lý Anh.
== Truyền giáo đến Hoa Kỳ ==
[[Tập tin:Asbury 8111.JPG|180px|trái|nhỏ|Tượng [[Francis Asbury]] , [[Wilmore, Kentucky]]]]
Từ cuối [[thập niên 1760]], đã có các người truyền đạo tình nguyện di cư đến Mỹ và thành lập những hội đoàn Giám Lý đầu tiên ở vùng đất mới. [[Philip Embury]] bắt đầu ở [[Thành phố New York|New York]]. Không lâu sau đó, Đại uý Webb thuộc quân đội Anh đến trợ giúp Embury, ông thành lập một hội đoàn ở [[Philadelphia]] đồng thời tìm đến các khu dân cư dọc bờ biển để thuyết giáo. Trong năm [[1770]], hai nhà truyền giáo, Richard Boardman và Joseph Pilmoor, được gởi đến từ Anh. Rồi [[Francis Asbury]] đặt chân đến nước Mỹ, ông bắt tay tái tổ chức các hoạt động của hội thánh thuộc khu vực trung [[Đại Tây Dương]] theo mô hình của Wesley, mặc dù nảy sinh một số bất đồng nội bộ. Việc những giáo sĩ đến thay thế các người truyền đạo địa phương đã gây bất bình cho một số nhà lãnh đạo hàng đầu trong cộng đồng tín hữu. Song, do bùng nổ chiến tranh và do yêu cầu của Wesley, tất cả giáo sĩ đều rời khỏi khu vực này. Khoảng năm [[1778]], khu vực trung Đại Tây Dương chỉ còn lại một giáo hạt. Nhưng Asbury từ chối ra đi, ông ở lại [[Delaware]] suốt trong thời kỳ khó khăn này.
 
[[Robert Strawbridge]] bắt đầu phục hồi các hoạt động của phong trào Giám Lý ở [[Maryland]], cùng lúc Embury cũng khởi đầu một công tác tương tự tại New York. Hai người không cộng tác với nhau, cũng không biết về sự hiện hữu của người kia. Strawbridge tự phong chức cho mình và thiết lập một giáo hạt. Ông đào tạo nhiều phụ tá tài năng, sau này trở nên những nhà lãnh đạo đầu tiên có nhiều ảnh hưởng trên phong trào Giám Lý tại Mỹ. Công việc của ông tiến triển nhanh chóng, thu hút nhiều tân tín hữu cũng như mở rộng địa bàn hoạt động. Lúc này, các truyền đạo địa phương cộng tác mật thiết với các giáo sĩ, tiếp tục tuyển dụng, đào tạo và sai phái nhiều truyền đạo tình nguyện hơn vào công trường thuộc linh. Trong khi đó, ở miền Nam, phong trào Giám Lý không phụ thuộc vào các giáo sĩ như ở khu vực trung Đại Tây Dương.
[[Thập niên 1730]] và [[thập niên 1740|1740]], bùng nổ ở Mỹ trong những khu định cư phong trào phục hưng tôn giáo gọi là [[Đại Tỉnh thức]]. Nhà thuyết giáo người Anh George Whitefield là người thủ giữ vai trò quan trọng trong phong trào. Ông tìm đến các khu định cư trên khắp đất nước để rao giảng Phúc âm với sức thuyết phục mạnh mẽ và khơi dậy các tình cảm tôn giáo.
 
Cung cách thuyết giảng mới lạ và sinh động cùng nhiệt tâm sống đạo của tín hữu đã thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống tôn giáo tại Mỹ. Người ta bày tỏ sự quan tâm đến tôn giáo với lòng nhiệt thành và đầy xúc cảm thay vì thụ động lắng nghe cách vô cảm những bài thuyết giảng thông thái. Họ bắt đầu nghiên cứu Kinh Thánh ngay tại nhà, điều này làm suy giảm ảnh hưởng của phương pháp phổ biến [[Đứcđức tin Kitô Đốcgiáo|đức tin]] trong các buổi lễ tôn giáo, và đến gần với khuynh hướng chú trọng đến những trải nghiệm cá nhân trong qui đạo và sống đạo, được quảng bá ở [[Châu Âu|Âu châu]] trong cuộc [[Cải cách Kháng Cách]].
 
Những giám mục đầu tiên của Giáo hội Giám Lý tại Mỹ là [[Thomas Coke]] và [[Francis Asbury]]. Vào [[Hội đồng Giáng sinh Baltimore]] năm [[1784]] khai sinh [[Giáo hội Giám Lý Hoa Kỳ]], Coke (đã được phong chức trong Giáo hội Anh) tấn phong cho Asbury các chức vụ chấp sự, trưởng lão và giám mục trong ba ngày liên tiếp. Các truyền đạo khu vực, hầu hết là tình nguyện, dong ruỗi trên lưng ngựa đi khắp nơi để rao giảng phúc âm và thành lập giáo đoàn cho đến khi khó có thể tìm thấy một cộng đồng dân cư nào ở Mỹ mà không tiếp xúc với thông điệp [[Kitô giáo|Cơ Đốc giáo]] theo cung cách giải bày của người Giám Lý. Một trong những nhà truyền đạo nổi tiếng nhất là Robert Strawbridge, sống ở vùng phụ cận Quận Carroll, [[Maryland]] ngay sau khi ông đặt chân đến đất Mỹ trong năm [[1760]].
 
Cuộc Đại Tỉnh thức lần thứ hai là một làn sóng phục hưng tôn giáo lan toả khắp đất nước. Tại vùng [[New England]], mối quan tâm về tôn giáo vừa được hồi sinh đã mở lối cho một làn sóng hoạt động xã hội trong vòng dân cư trong vùng; Phong trào Giám Lý phát triển mạnh mẽ và thiết lập nhiều trường đại học, nổi tiếng nhất là [[Đại học Boston]]. Trong “khu vực bùng cháy” ở phía tây New York, tinh thần phục hưng bùng phát mãnh liệt. Phong trào Giám Lý chứng kiến sự xuất hiện của [[Phong trào Thánh khiết]]. Ở miền Tây, nhất là tại [[Cane Ridge]], [[Kentucky]] và tại [[Tennessee]], cuộc phục hưng tôn giáo củng cố và phát triển đức tin Giám Lý và [[Báp-tít|Baptist]].
 
Cuộc Đại Tỉnh thức lần thứ ba từ năm [[1858]] đến năm [[1908]] chứng kiến sự gia tăng vượt bật số tín hữu Giám Lý, và phát triển mạnh mẽ con số các định chế xã hội như các trường đại học. Tín hữu Giám Lý thường tham gia tích cực vào phong trào truyền giáo và phong trào phúc âm xã hội.
 
Những bất đồng về vấn đề [[nô lệ]] đặt phong trào Giám Lý vào một giai đoạn khó khăn trong thượng bán [[thế kỷ 19]]. Trong khi các nhà lãnh đạo miền Bắc không bày tỏ lập trường rõ ràng vì e sợ xảy ra ly giáo, thì Giáo hội Giám lý Wesley và Giáo hội Giám lý Tự do, chủ trương chống nô lệ, hoạt động tích cực trong [[Tuyến hỏa xa ngầm|Tuyến hoả xa ngầm]] (''Underground Railroad''), giúp giải thoát nô lệ. Năm [[1845]], các giáo hội chủ trương sở hữu nô lệ gặp nhau tại [[Louisville]] để thành lập Giáo hội Giám Lý miền Nam, nhưng đến năm [[1939]], giáo hội tại hai miền quyết định tái hiệp nhất khi nô lệ không còn là vấn đề quan trọng.
 
[[Giáo hội Giám lý Hiệp nhất]], thành lập năm [[1968]], là sự sáp nhập của Giáo hội Giám lý và Giáo hội Tin lành Anh em của các tín hữu Giám lý gốc Đức, họ không còn muốn duy trì sự thờ phụng bằng [[tiếng Đức]]. Giáo hội Giám lý Hiệp nhất có xấp xỉ 9 triệu tín hữu vào cuối [[thập niên 1990]]. Ngày nay, trong khi Giám lý tại Hoa Kỳ đang suy yếu dần thì phong trào này lại tăng trưởng mạnh tại các quốc gia đang phát triển.
 
Về thể chế, Giám Lý tại Hoa Kỳ áp dụng mô hình liên kết. Mục sư được bổ nhiệm đến các nhà thờ bởi giám mục. Các giáo phái Giám Lý dành cho tín hữu quyền đại biểu tại các hội đồng cấp khu vực và cấp quốc gia, là các định chế có thẩm quyền xem xét và quyết định mọi vấn đề của giáo hội. Như vậy, về tổ chức, cấu trúc này khác với thể chế giám mục (''episcopalian'') như Anh giáo, cũng khác với mô hình tự trị giáo đoàn (''congregational'') như [[Báp-tít|Baptist]] và những giáo phái khác.
 
Ngoài Giáo hội Giám lý Hiệp nhất, có hơn 40 giáo phái khác bắt nguồn từ phong trào giám lý khởi xướng bởi John Wesley. Tổ chức từ thiện [[Cứu Thế Quân]] (''Salvation Army'') được thành lập bởi [[William Booth]], một mục sư Giám Lý. Tổ chức này cũng chấp nhận nền thần học Giám Lý. Một giáo phái có liên hệ với phong trào là Giáo hội Nazarene. Một số giáo phái Ngũ tuần (''pentecostal'') như ''Assemblies of God'' cũng có nguồn gốc hoặc chịu ảnh hưởng của tư tưởng Wesley.
 
Giáo hội Giám lý Hiệp nhất chấp nhận một quan điểm rộng mở về các xác tín [[thần học]] và [[chính trị]]. Điển hình là trong số các tín hữu nổi tiếng thuộc giáo hội này, [[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống]] [[George W. Bush]] và Phó Tổng thống [[Dick Cheney]] (thường xuyên đi nhà thờ dù không phải là thuộc viên) thuộc [[Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ)|Đảng Cộng hoà]], trong khi [[Hillary Clinton]] và [[John Edwards]] là đảng viên [[Đảng Dân chủ (Hoa Kỳ)|Dân chủ]].
 
Phong trào Giám Lý, khởi phát tại nước Anh từ những năm [[1720]], sớm quan tâm đến các hoạt động xã hội và giáo dục. Nhiều định chế xã hội và giáo dục được thành lập tại Hoa Kỳ từ đầu thế kỷ 19, cho đến nay có khoảng hai mươi viện đại học được đặt theo tên John Wesley.
Ước tính có khoảng 75 triệu tín hữu Giám Lý trên thế giới, mặc dù con số này đang trên đà sụt giảm nghiêm trọng, nhất là ở [[Bắc Mỹ]], khi nhiều thuộc viên Giám Lý ở đây có khuynh hướng gia nhập các giáo hội theo khuynh hướng truyền thống trong thần học.<ref>Cracknell and White (2005), [http://assets.cambridge.org/97805218/18490/frontmatter/9780521818490_frontmatter.pdf p. 'i' (frontmatter)]</ref> Phần lớn các giáo hội Giám Lý đều là thành viên của [[Hội đồng Giám Lý Thế giới]], trụ sở đặt ở [[Lake Junaluska, Bắc Carolina]], [[Hoa Kỳ]].
 
Có hai thời điểm đánh dấu sự kiện đức tin Giám Lý truyền bá đến [[Ấn Độ]]: năm [[1817]] và [[1856]].<ref>[http://www.hindu.com/fr/2004/10/29/stories/2004102903381000.htm The Hindu: Entertainment / Religion: In commemoration of John Wesley<!-- Bot generated title -->]</ref> Tiến sĩ [[Thomas Coke]] và sáu nhà truyền giáo lên tàu hướng về Ấn Độ đúng ngày đầu tiên năm [[1814]]. Tiến sĩ Coke, khi ấy đã 66 tuổi, qua đời trong chuyến hải hành. Mục sư James Lynch là người duy nhất trong đoàn đặt chân lên Madras (nay là Chennai) trong năm 1817, tại một địa điểm gọi là Black Town (Broadway), về sau đổi tên thành George Town. Ngày [[25 tháng 4]] năm [[1822]], Lynch hướng dẫn lễ thờ phượng đầu tiên tại Ấn Độ theo giáo nghi Giám Lý trong một chuồng ngựa. Nhà thờ Giám Lý đầu tiên được cung hiến tại Royapettah năm [[1819]]. Một nhà nguyện được xây dựng tại Broadway và được cung hiến ngày [[25 tháng 4]] năm 1822. Vào lúc này có khoảng 100 tín hữu Giám Lý ở Madras, họ là người Âu hoặc người lai Á Âu. Năm [[1874]], Giáo hội Giám Lý Mỹ khởi sự hoạt động tại Ấn Độ với những nhà truyền bá phúc âm nổi tiếng như William Taylor. Năm [[1947]], Giáo hội Giám Lý hiệp nhất với [[Anh giáo]], [[Trưởng Lão]], và một số giáo hội [[Tin Lành|Kháng Cách]] khác để thành lập [[Giáo hội Nam Ấn]].
 
Tại [[Úc]], sự hiệp nhất giữa giáo hội Giám Lý với [[Giáogiáo hội Trưởng Lão (Cơ Đốc)Nhiệm|giáo hội Trưởng Lão]] và [[Tự trị giáo đoàn]] (''Congregational'') vào năm [[1977]] giúp hình thành Giáo hội Hiệp nhất.
 
Tương tự, tại [[Canada]], [[Giáo hội Hiệp nhất Canada]] là kết quả của một chuỗi các nỗ lực hiệp nhất khởi đầu từ năm [[1884]] đến năm [[1968]].
Tồn tại một số nhà thờ Giám Lý ở Âu châu, mạnh nhất là tại [[Đức]]. Ở Âu châu, tư tưởng Giám Lý được truyền bá từ Hoa Kỳ chứ không phải từ Anh.
 
Giáo hội Giám Lý mạnh nhất có lẽ là tại [[Hàn Quốc]] (Xem [[Cơ Đốc giáo tại Hàn Quốc]]). Cũng có mặt tại [[Bắc Mỹ]] nhiều nhà thờ Giám Lý nói [[tiếng Triều Tiên|tiếng Hàn]], chăm sóc dân nhập cư nói tiếng Hàn, dù nhiều người trong số họ không phải là tín hữu Giám Lý.
 
Quốc gia có tỷ lệ dân số là tín hữu Giám Lý cao nhất trên thế giới là đảo quốc [[Fiji]].
986.568

lần sửa đổi