Khác biệt giữa các bản “Mông Cổ bao vây Khai Phong”

n
không có tóm lược sửa đổi
n (→‎Tham khảo: AlphamaEditor, thêm thể loại, Excuted time: 00:00:19.2427533)
n
Người Mông Cổ biết tin Kim đang chịu nạn đói,{{sfn|Franke|1994|p=252}} và tiến hành xâm chiếm vào năm 1211.{{sfn|Lane|2004|p=46}} Hai đạo quân Mông Cổ được phái đến lãnh thổ Kim, một dưới quyền chỉ huy của Thành Cát Tư Hãn.{{sfn|Allsen|1994|p=351}} Kim tập hợp quân đội và củng cố thành trì để chuẩn bị kháng cự Mông Cổ xâm nhập. Chiến lược của Mông Cổ dựa trên việc chiếm các khu dân cư nhỏ và bỏ qua các công sự của các thành phố chính.{{sfn|Lane|2004|p=46}} Họ cướp phá rồi triệt thoái vào năm 1212.{{sfn|Allsen|1994|p=351}} Người Mông Cổ trở lại vào năm sau và bao vây kinh đô Trung Đô (Bắc Kinh ngày nay) của Kim vào năm 1213. Người Mông Cổ không thể vào trong thành trong khi giao chiến, song đe dọa buộc hoàng đế Kim phải cống nạp.{{sfn|Allsen|1994|p=351}} Họ triệt thoái vào năm 1214. Trong cùng năm, lo sợ trước một cuộc bao vây khác, Kim chuyển kinh đô từ Trung Đô đến Biện Kinh Khai Phong phủ. Người Mông Cổ lại bao vây Trung Đô vào năm 1215 khi biết tin triều đình Kim đã đào thoát khỏi thành. Thành Trung Đô thất thủ vào ngày 31 tháng 5,{{sfn|Franke|1994|p=254}} và đến năm 1216, Kim đã để mất những phần lãnh thổ lớn vào tay Mông Cổ{{sfn|Allsen|1994|p=352}}
 
Trong khi đó, Kim bị tác động do nhiều cuộc nổi loạn.{{sfn|Franke|1994|pp=254–259}} Tại Mãn Châu, người Khiết Đan dưới quyền lãnh đạo của [[Da Luật Lưu Ca (nhà Nguyên)|Da Luật Lưu Ca]] tuyên bố độc lập khỏi Kim và liên kết với người Mông Cổ. Da Luật Lưu Ca được tôn làm một quân chủ bù nhìn của nước [[Đông Liêu (nước)|Liêu]] lệ thuộc vào Mông Cổ vào năm 1213.{{sfn|Franke|1994|pp=257–258}} Đạo quân Kim dưới quyền [[Bồ Tiên Vạn Nô]] được phái đi chinh phạt Da Luật Lưu Ca song không thành công, Bồ Tiên Vạn Nô nhận thấy Kim bên bờ sụp đổ nên quyết định nổi loạn và xưng là vương của Đại Chân vào năm 1215.{{sfn|Franke|1994|p=258}} Ở phía nam, các cuộc nổi loạn nổ ra tại khu vực Sơn Đông, bắt đầu với cuộc nổi loạn của Dương Anh Quốc vào năm 1214. Những người nổi loạn được gọi là Hồng Áo quân, do màu của quân phục mà họ mặc từ năm 1215.{{sfn|Franke|1994|pp=254–256}} Sau khi Trung Đô thất thủ vào năm 1215, người Mông Cổ giảm bớt nỗ lực chiến tranh chóng Kim, và chuyển tài nguyên của họ nhằm chuẩn bị cho việc [[Mông Cổ xâm lược Trung Á|xâm chiếm Trung Á]].{{sfn|Allsen|1994|p=352}} Người Kim nỗ lực bù đắp tổn thất lãnh thổ của họ cho Mông Cổ bằng cách [[Chiến tranh Kim-Tống (1217-1223)|xâm chiếm Nam Tống]] vào năm 1217.{{sfn|Franke|1994|p=259}} Chiến dịch thất bại, vì thế dù Kim muốn hòa đàm, song Tống từ chối đề nghị này. Đến năm 1218, các sứ thần của Kim bị cấm đến Nam Tống.{{sfn|Franke|1994|p=259}} Người Mông Cổ giảm bớt chiến tranh với Kim, song không phải là ngưng lại, và tiếp tục đến đầu thập niên 1220 dưới quyền [[Mộc Hoa Lê]].{{sfn|Allsen|1994|pp=357–360}} Mộc Hoa Lê bệnh mất vào năm 1223, và các chiến dịch chống Kim của Mông Cổ được đình hoãn. Kim làm hòa với Nam Tống, song Nam Tống tiếp tục trợ giúp Hồng Áo quân chống Kim.{{sfn|Allsen|1994|p=360}} Thành Cát Tư Hãn mất vào năm 1227.{{sfn|Allsen|1994|p=365}} Oa Khoát Đài là người kế vị,{{sfn|Allsen|1994|p=366}} và nối lại chiến tranh chống Kim vào năm 1230.{{sfn|Allsen|1994|p=370}}
 
==Bao vây Khai Phong==