Khác biệt giữa các bản “Lưu Đạo Liên”

n
→‎Tiểu sử: sửa chính tả 1, replaced: thân mẫu → mẹ, Phụ thân → Cha using AWB
n (→‎Tiểu sử: sửa chính tả 1, replaced: thân mẫu → mẹ, Phụ thân → Cha using AWB)
== Tiểu sử ==
 
Phụ thânCha của Lưu Đạo Liên là Lưu Kiều, cháu đời thứ 20 của Sở vương Lưu Giao, người em của [[Hán Cao Tổ]] Lưu Bang<ref>[[Tống thư]], [http://zh.wikisource.org/wiki/%E5%8D%97%E5%8F%B2/%E5%8D%B71 quyển 1]: Cao Tổ Vũ hoàng đế húy Dụ, tự Đức Dư Bành Thành huyền Tuy Dư lí nhân, Hán Cao Đế đệ Sở vương giao chi hậu dã</ref>, mẹ là Tiêu Văn Thọ. Thời niên thiếu, Lưu Đạo Liên được phong làm Quốc tử học sinh. Những năm anh ông chưa nắm quyền trong triều thì Lưu Đạo Liên vẫn ở nhà hầu hạ mẹ<ref>[[Nam sử]], [http://zh.wikisource.org/wiki/%E5%8D%97%E5%8F%B2/%E5%8D%B713 quyển 13]: Vũ đế khắc Kinh thành cập bình Kiến Nghiệp, Đạo Liên thường lưu thị thái hậu</ref>. Đến năm [[405]], sau khi Lưu Dụ bình định được loạn [[Hoàn Huyền]] và trở thành người thao túng triều chính, Lưu Đạo Liên được tiến cử lên làm Viên ngoại tán kị thị lang, sau thăng lên làm Kiến Uy tướng quân, Nam Bành Thành nội sử<ref>[[Tống thư]], [http://zh.wikisource.org/wiki/%E5%AE%8B%E6%9B%B8/%E5%8D%B751 quyển 51]: Hoàn Huyền tẩu, Đại tướng quân Vũ Lăng Vương Tuân thừa chế, trừ Viên ngoại tán kị thị lang. Tầm thiên Kiến Uy tướng quân, Nam Bành Thành nội sử</ref>.
 
Năm [[405]], [[Bắc Ngụy]] cử Dự châu thứ sử Tác Đô Chân và Đại tướng quân Hộc Tư Lan tiến công Từ châu của nhà Tấn, sau đó tiến về Bành Thành. Tướng quân Dương Mục ở Bành Thành sai sứ đến xin Lưu Đạo Liên cử quân cứu viện. Quân của Lưu Đạo Liên tiến vào Bành Thành, buộc quân Ngụy thối lui. Nhân đó ông lại dẫn quân đánh quân nổi dậy của Lưu Cai, giết chết Lưu Cai và thái thú [[Tôn Toàn]] (vốn tư thông với Lưu Cai từ trước), lập được chiến công lớn. Về sau, Lưu Đạo Liên được thăng lên chức Long tương tướng quân, thái thú Đường Ấp.
Năm [[412]], Lưu Dụ đưa quân công đánh Lưu Nghị, nên lại đổi Lưu Đạo Liên làm Đô Đốc hai châu Thanh và Cổn, Tấn Lăng Kinh khẩu Hoài Nam chư quận quân sự, thứ sử hai châu Thanh, Duyện, trì tiết, tướng quân. Sang năm [[413]], ông được thăng từ tước hầu lên làm Cánh Lăng huyện công, thực ấp 1000 hộ<ref>[[Tống thư]], quyển 51: Cải phong Cánh Lăng huyền công, thực ấp thiên hộ</ref>. Sang năm [[414]], ông được thăng làm Trung quân tướng quân, Tán kị thường thị. Đến năm [[415]], ông được thăng đến chức đô đốc của bảy châu là Kinh, Trần, Trữ, Tương, Ích, Lương, Ung và Khai phủ Nghi Đồng Tam ti. Năm [[419]], Lưu Đạo Liên được vào triều nhận chức Thượng thư lệnh và Tư không.
 
Năm [[420]], Lưu Dụ cướp ngôi nhà [[Đông Tấn]], lập ra nhà Lưu Tống. Lưu Đạo Liên do là em trai của hoàng đế nên được phong tước vị Trường Sa vương vào ngày 13 tháng 7 cùng năm. Đồng thời, ông cũng được phong chức thái úy trong triều đình. Có một lần thái hậu (thân mẫumẹ của Lưu Đạo Liên) bảo Tống Vũ đế cho ông đến trấn thủ Dương châu, là một vùng đất quan trọng như Vũ Đế không đồng ý.
 
Ngày 21 tháng 7 năm [[422]], Lưu Đạo Liên bị bệnh qua đời, thọ 55 tuổi, được truy tôn là Trường Sa Cảnh vương, truy tặng làm Thái phó, trì tiết, Thị trung và Đô đốc và được an táng theo lễ của thái tể nhà Tấn là An Bình vương Tư Mã Phu trước đây<ref>[[Nam sử]], [http://zh.wikisource.org/wiki/%E5%8D%97%E5%8F%B2/%E5%8D%B713 quyển 13]: Vĩnh Sơ tam niên hoăng, gia tặng thái phó, táng lễ y Tấn thái tể An Bình vương Phu cố sự</ref><ref>[[Tống thư]], quyển 51: Lục nguyệt hoăng, niên ngũ thập ngũ. Truy tặng thái phó, Thái phó, trì tiết, Thị trung thứ sử như cố. Tế lễ y Tấn Thái tể An Bình vương cố sự</ref>.