Khác biệt giữa các bản “Lê Do”

 
==Chống Chiêu Tông==
Khi Lê Chiêu Tông giết công thần [[Trần Chân]] tháng 7 năm 1518, các thủ hạ của Chân là [[Nguyễn Kính]], Nguyễn Áng ở [[Sơn Tây]] nổi dậy làm loạn để báo thù cho chủ. Một tướng khác là Vĩnh Hưng hầu [[Trịnh Tuy]] nhân lúc Chiêu Tông không trấn áp được các tướng Sơn Tây cũng mưu ly khai lập vua khác. Tháng 9 năm 1518, Trịnh Tuy cùng văn thần [[Nguyễn Sư]] lập anh Lê Do là Lê Bảng làm vua, tức là vua Đại Đức.
 
Khoảng tháng 3 năm năm 1519, Trịnh Tuy phế truất Lê Bảng và Lê Do lên làm vua, đổi niên hiệu là '''Thiên Hiến'''. Trịnh Tuy lấy xã Do Nha, huyện [[Từ Liêm]] làm chỗ cho vua Thiên Hiến ở và lấy người thôn quê chia đặt quan thuộc văn võ tiến triều. Trịnh Tuy dụ được các mãnh tướng thuộc hạ cũ của Trần Chân là Nguyễn Kính, Nguyễn Áng đi theo nên lực lượng khá mạnh.
 
Sau khi tướng [[Nguyễn Hoằng Dụ]] chết, vua Thống Nguyên ([[Lê Chiêu Tông]]) chỉ còn dựa vào [[Mạc Đăng Dung]]. Thấy vua Thống Nguyên chạy ra hành dinh Bồ Đề, Trịnh Tuy mang quân tiến đánh nhưng bị thất bại, phải rút lui.
 
Tháng 7 năm 1519, nhân lúc trời mưa to, Mạc Đăng Dung thống lĩnh các quân thuỷ bộ vây vua Thiên Hiến ở Từ Liêm. Đăng Dung phá đê cho nước vỡ vào quân Lê Do. Lê Do và Nguyễn Sư chạy đến Ninh Sơn thì bị quân của vua Thống Nguyên bắt được, giải mang về giết chết. Trịnh Tuy bỏ chạy và Thanh Hóa, các tướng Nguyễn Kính, Nguyễn Áng theo hàng Mạc Đăng Dung.
61.650

lần sửa đổi