Khác biệt giữa các bản “USS Yorktown (CV-5)”

n
robot Thêm: ko:CV-5 USS 요크타운; sửa cách trình bày
n (Thay tập tin USS_Yorktown_(May_1942).jpg bằng tập tin G13065_USS_Yorktown_Pearl_Harbor_May_1942.jpg.)
n (robot Thêm: ko:CV-5 USS 요크타운; sửa cách trình bày)
 
{|align="right" border="2" cellpadding="2" cellspacing="0" style="margin: 0 0 1em 0.5em; background: #f9f9f9; border: 1px #aaa solid; border-collapse: collapse; font-size: 95%;" width="300"
|colspan="2"|[[ImageTập tin:USS Yorktown.jpg|300px]]
|-
!style="color: white; height: 30px; background: navy;"| Mang cờ
|-
|Phần thưởng:
|Huy chương Phục vụ Phòng thủ Hoa Kỳ<br />Huy chương Chiến dịch Hoa Kỳ / Huy chương Chiến dịch Châu Á-Thái Bình Dương (3 sao) / Huy chương Chiến thắng Thế Chiến II
|-
!colspan="2" style="color: white; height: 30px; background: navy;"| Các đặc tính chung
|-
|Lượng rẽ nước:
|19.800 tấn (tiêu chuẩn)<br />25.500 tấn (chất đầy tải)
|-
|Chiều dài:
|234,7 m (770 ft) (mực ngấn nước)<br />251,4 m (824 ft 9 in) (chung)
|-
|Mạn thuyền:
|25,4 m (83 ft 3 in) (mực ngấn nước)<br />33,4 m (109 ft 6 in) (chung)
|-
|Tầm nước:
|-
|Lực đẩy:
|9 × nồi hơi Babcock & Wilcox<br />4 × turbine hơi nước Parsons, 4 trục<br />công suất 120.000 mã lực (89 MW)
|-
|Tốc độ:
|-
|Vũ khí:
|8 × pháo ''38'' 5 inch<br />4 × súng máy ''75'' bốn nòng 1,1 inch<br />24 × súng máy 0.50 inch<br />24 x pháo Oerlikon 20 mm (được bổ sung vào đầu năm 1942).
|-
|Vỏ giáp:
|đai giáp 2,5-4 inch<br />sàn bảo vệ 60 lb<br />vách ngăn 4 inch<br />4 inch bên cạnh và 2 inch trên nóc tháp chỉ huy<br />vỏ 4 inch bên hông bánh lái
|-
|Máy bay:
|90 máy bay, 3 × thang nâng<br />2 × máy phóng thủy lực trên sàn đáp<br />1 × máy phóng thủy lực trên sàn chứa
|}
 
Chiếc '''USS ''Yorktown'' (CV-5)''', là một [[tàu sân bay]] của [[Hải quân Hoa Kỳ]]. Tên nó được dùng để đặt cho [[Hạng tàu sân bay Yorktown]], và là một trong những tàu sân bay chủ lực của Mỹ trong giai đoạn đầu của [[Thế Chiến II]] tại [[Mặt trận Thái Bình Dương]], và đã bị máy bay Nhật đánh chìm ngày [[7 tháng 6]] năm [[1942]] trong [[trận Midway]].
 
== Mô tả ==
''Yorktown'' được đặt lườn vào ngày [[21 tháng 5]] năm [[1934]] tại xưởng đóng tàu [[Northrop Grumman]] ở [[Newport News, Virginia]]; được hạ thủy vào ngày [[4 tháng 4]] năm [[1936]]; được đỡ đầu bởi [[Eleanor Roosevelt]]; và được đưa vào hoạt động tại căn cứ hải quân [[Norfolk, Virginia]] vào ngày [[30 tháng 9]] năm [[1937]] dưới sự chỉ huy của Thuyền trưởng [[Ernest D. McWhorter]].
 
Sau khi được trang bị, chiếc tàu sân bay tiến hành huấn luyện tại [[Hampton Roads, Virginia]] và tại các khu vực thực hành ngoài khơi [[Virginia]] cho đến [[tháng 1]] năm [[1938]], thực hiện đạt chuẩn tàu sân bay cho các phi đội mới được bố trí.
 
== Các vai trò ban đầu ==
''Yorktown'' khởi hành hướng về [[biển Caribbe]] vào ngày [[8 tháng 1]] năm [[1938]] và đến [[Culebra]], [[Puerto Rico]], vào ngày [[13 tháng 1]]. Trong tháng tiếp theo, chiếc tàu sân bay tiến hành chạy thử ngang qua [[Charlotte Amalie, Virgin Islands|Charlotte Amalie]], [[Saint Thomas, Virgin Islands|St Thomas]], [[Virgin Islands]]; [[Gonaïves]], [[Haiti]]; [[vịnh Guantánamo, Cuba|vịnh Guantanamo]], [[Cuba]], và [[Cristóbal, Colón|Cristóbal]], [[Panama Canal Zone]]. Rời [[Colon Bay]], Cristobal ngày [[1 tháng 3]], ''Yorktown'' hướng về Hampton Roads, đến nơi ngày [[6 tháng 3]], và chuyển về [[xưởng hải quân Norfolk]] ngày hôm sau để được hiệu chỉnh sau chạy thử.
 
Việc đánh giá các hoạt động cho thấy hoạt động của các tàu sân bay – một phần của kịch bản cho các cuộc tập trận hằng năm kể từ khi đưa chiếc tàu sân bay [[USS Langley (CV-1)|''Langley'']] tham gia các cuộc tập trận giả vào năm [[1925]] – đạt đến một đỉnh cao hiệu quả mới. Cho dù những chiếc ''Yorktown'' và ''Enterprise'', những “lính mới” của hạm đội, còn kém kinh nghiệm, cả hai chiếc tàu sân bay đã góp phần đáng kể vào thành công của cuộc tập trận. Các nhà kế hoạch đã nghiên cứu việc sử dụng các tàu sân bay và các phi đội phối thuộc vào các nhiệm vụ hộ tống tàu vận tải, phòng thủ chống tàu ngầm và nhiều biện pháp khác nhau tấn công các tàu nổi và các cơ sở trên bờ. Tóm lại, họ đã làm việc để phát triển chiến thuật sẽ được sử dụng một khi chiến tranh thực sự diễn ra.
 
== Hạm đội Thái Bình Dương ==
Sau cuộc tập trận Vấn đề Hạm đội XX, ''Yorktown'' quay lại Hampton Roads một thời gian ngắn trước khi khởi hành hướng sang [[Thái Bình Dương]] vào ngày [[20 tháng 4]] năm [[1939]]. Đi ngang [[kênh đào Panama]] một tuần sau đó, ''Yorktown'' tham gia các hoạt động thường xuyên cùng [[Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ| Hạm đội Thái Bình Dương]]. Hoạt động ngoài khơi [[San Diego, California]] cho đến năm [[1940]], chiếc tàu sân bay tham gia cuộc tập trận [[Vấn đề Hạm đội XXI]] vào [[tháng 4]] năm đó. ''Yorktown'' là một trong sáu tàu chiến đầu tiên được trang bị loại [[radar]] [[RCA]] [[CXAM radar|CXAM]] trong năm [[1940]].<ref name="RADAR"/>
 
Vấn đề Hạm đội XXI, một cuộc tập trận chia làm hai phần, bao gồm một số hoạt động tiêu biểu cho một cuộc chiến tranh trong tương lai tại Thái Bình Dương. Phần thứ nhất của cuộc tập trận dành cho việc huấn luyện lập kế hoạch và ước lượng; việc che chắn bảo vệ và trinh sát; việc phối hợp cùng các đơn vị chiến đấu; và trong việc sử dụng hạm đội và bố trí chuẩn. Phần thứ hai bao gồm việc huấn luyện bảo vệ đoàn tàu vận tải, việc chiếm giữ các căn cứ tiền phương, và cuối cùng là trận giao chiến quyết định giữa hai hạm đội đối địch. Là cuộc tập trận cuối cùng thuộc loại này trước chiến tranh, Vấn đề Hạm đội XXI cũng bao gồm hai cuộc thực hành (tương đối nhỏ vào thời đó) nơi mà các hoạt động không lực đóng một vai trò then chốt. Bài tập Hạm đội liên hợp Không lực 114A đã đoán trước được nhu cầu cần phối hợp các kế hoạch phòng thủ của Lục quân và Hải quân để bảo vệ [[quần đảo Hawaii]]; và Bài tập Hạm đội 114 chứng minh rằng có thể sử dụng những chiếc máy bay để theo dõi từ độ cao các lực lượng trên mặt biển, một vai trò đáng kể dành cho máy bay sẽ được vận dụng tối đa trong cuộc chiến tranh sắp tới.
Với việc giữ lại Hạm đội tại vùng biển Hawaii sau khi kết thúc cuộc tập trận Vấn đề Hạm đội XXI, ''Yorktown'' hoạt động trên vùng biển Thái Bình Dương ngoài khơi bờ tây nước Mỹ và tại vùng biển Hawaii cho đến mùa Xuân năm sau, khi lực lượng [[tàu ngầm]] [[U-boat]] của [[Đức]] thành công trong việc săn đuổi các tàu bè Anh Quốc tại Đại Tây Dương đòi hỏi phải dịch chuyển một phần lực lượng hải quân Hoa Kỳ. Do đó, để củng cố [[Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ]], Hải quân đã chuyển một lực lượng đáng kể từ Thái Bình Dương bao gồm chiếc ''Yorktown'', Hạm đội Thiết giáp hạm 3 (gồm những chiếc thiết giáp hạm [[hạng thiết giáp hạm New Mexico|hạng New Mexico]]), ba tàu tuần dương hạng nhẹ, và 12 tàu khu trục phối thuộc.
 
== Tuần tra Trung lập ==
''Yorktown'' rời [[Trân Châu Cảng]] ngày [[20 tháng 4]] năm [[1941]] cùng với các [[tàu khu trục]] [[USS Warrington (DD-383)|''Warrington'']], [[USS Somers (DD-381)|''Somers'']] và [[USS Jouett (DD-396)|''Jouett'']]; hướng về phía Đông Nam, đi qua kênh đào Panama trong đêm [[6 tháng 5|6]]– [[7 tháng 5]], và đến [[Bermuda]] vào ngày [[12 tháng 5]]. Từ lúc đó cho đến khi Hoa Kỳ tham gia chiến tranh, ''Yorktown'' thực hiện bốn chuyến tuần tra tại Đại Tây Dương, kéo dài từ [[Newfoundland]] đến Bermuda dài tổng cộng 28.392 km (17.642 dặm) để thực thi vai trò trung lập của Hoa Kỳ.
 
Sau một chuyến Tuần tra Trung lập khác vào tháng 11, ''Yorktown'' trở về Norfolk vào ngày [[2 tháng 12]] và nó ở đấy khi năm ngày sau khi Mỹ bị lôi kéo vào Thế Chiến II.
 
== Thế Chiến II ==
{{seealso|Thế Chiến II}}
[[ImageTập tin:CV-5 Yorktown.jpg|thumb|left|''Yorktown'' đang chuẩn bị làm nhiệm vụ, [[tháng 6]] năm [[1940]].]]
Những tin tức ban đầu từ Thái Bình Dương thật ảm đạm, Hạm đội Thái Bình Dương phải chịu tổn thất đáng kể. Vì những chiếc thiết giáp hạm bị phá hỏng, tầm quan trọng của những chiếc tàu sân bay Hoa Kỳ không bị hư hỏng trở nên lớn lao. Tính đến ngày [[7 tháng 12]], chỉ có ba chiếc trên vùng biển Thái Bình Dương: [[USS Enterprise (CV-6)|''Enterprise'']], [[USS Lexington (CV-2)|''Lexington'']] và [[USS Saratoga (CV-3)|''Saratoga'']]. Trong khi những chiếc [[USS Ranger (CV-4)|''Ranger'']], [[USS Wasp (CV-7)|''Wasp'']] và chiếc [[USS Hornet (CV-8)|''Hornet'']] vừa mới đưa vào sử dụng được giữ lại chiến trường Đại tây Dương, ''Yorktown'' được điều động rời khỏi Norfolk ngày [[16 tháng 12]] năm [[1941]] để tăng cường cho chiến trường Thái Bình Dương. Hàng hỏa lực pháo thứ cấp được bổ sung các khẩu pháo [[pháo Oerlikon 20 mm|Oerlikon 20 mm]]. Nó đến San Diego ngày [[30 tháng 12]] năm [[1941]] và không lâu sau trở thành kỳ hạm của Chuẩn đô đốc [[Frank Jack Fletcher]], tư lệnh [[Lực lượng Đặc nhiệm TF 17]] mới được thành lập.
 
 
Sau khi thực hiện các nhiệm vụ, các máy bay Mỹ quay trở lại tàu sân bay, và 103 máy bay trong tổng số 104 chiếc được tung ra đã quay về an toàn vào trưa hôm đó. Một chiếc SBD-2 bị bắn rơi bởi hỏa lực pháo phòng không Nhật Bản. Cuộc không kích vào Salamaua và Lae là cuộc tấn công đầu tiên của nhiều phi công trên cả hai chiếc tàu sân bay; và trong khi kết quả về độ chính xác của những trái ngư lôi và bom còn thấp so với mức đạt được trong các hoạt động sau này, chiến dịch này cung cấp cho các phi công các kinh nghiệm vô giá, cho phép họ hoạt động rất tốt trong các trận [[trận chiến biển Coral|biển Coral]] và [[trận Midway|Midway]] sau này.
[[ImageTập tin:Brazos AO-4 refueling Yorktown CV-5.jpg|thumb|right|''Yorktown'' được tiếp nhiên liệu từ chiếc [[USS Brazos (AO-4)|''Brazos'']] tại trung Thái Bình Dương vào [[tháng 7]] năm [[1940]].]]
Lực lượng Đặc Nhiệm TF 11 rút lui với vận tốc 20 knot (23 mph, 37km/h) hướng về phía Đông Nam cho đến khi trời tối, khi các chiếc tàu chuyển hướng sang phía Đông với vận tốc 15 knot (17 mph, 28 km/h) và gặp gỡ Nhóm Đặc nhiệm TG 11.7, bốn [[tàu tuần dương hạng nặng]] và bốn tàu trục dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Đô đốc Australia [[John Crace]], nhằm hộ tống các tàu sân bay trên đường đến New Guinea.
 
Tuy nhiên, đối phương không lâu sau lại bắt đầu hành động. Theo Đô đốc Nimitz, dường như đã có "những dấu hiệu rõ ràng cho thấy quân Nhật dự định tấn công bằng đường biển vào [[cảng Moresby]] trong tuần lễ thứ nhất của tháng 5". Do vậy ''Yorktown'' được lệnh rời khỏi Tongatapu vào ngày [[27 tháng 4]] năm [[1942]], một lần nữa hướng về biển Coral. Lực lượng Đặc nhiệm TF 11, giờ đây dưới sự chỉ huy của Chuẩn Đô đốc [[Aubrey W. Fitch]], người thay thế Brown trên chiếc ''Lexington'', rời Trân Châu Cảng để gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm TF 17 của Đô đốc Fletcher và tiến đến gần vị trí của nhóm ''Yorktown'', phía Tây Nam [[quần đảo New Hebrides]] vào ngày [[1 tháng 5]].
 
=== Trận chiến biển Coral ===
{{main|Trận chiến biển Coral}}
Lúc 15 giờ 17 phút ngày hôm sau, hai chiếc Dauntless thuộc phi đội VS-5 nhìn thấy một tàu ngầm Nhật chạy trên mặt nước. Ba chiếc Devastator cất cánh từ ''Yorktown'' nhanh chóng bay đến nơi và thực hiện cuộc tấn công chỉ đuổi được chiếc tàu ngậm lặn sâu xuống.
Quân Nhật đã giành được một thắng lợi về phương diện chiến thuật, gây ra những thiệt hại tương đối lớn cho lực lượng Đồng Minh, nhưng với việc chặn đứng được đà xâm chiếm của quân Nhật ở khu vực Nam và Tây Nam Thái Bình Dương, phe Đồng Minh đã có được một chiến thắng về mặt chiến lược. ''Yorktown'' phải gánh chịu những hư hỏng đáng kể khiến các chuyên gia ước tính rằng phải mất ít nhất là ba tháng trong ụ tàu để có thể đưa nó trở lại tình trạng hoàn toàn sẵn sàng chiến đấu. Tuy nhiên, không có đủ thời gian để sửa chữa nó, bởi vì tình báo Đồng Minh - chủ yếu là đơn vị giải mã tại Trân Châu Cảng - đã thu thập đủ thông tin từ các bức điện giải mã được của Hải quân Nhật để dự đoán rằng Nhật đang tích cực chuẩn bị cho một chiến dịch quan trọng nhắm vào đỉnh cực Tây Bắc của chuỗi quần đảo Hawaii - hai hòn đảo nhỏ trong một vũng biển san hô được biết đến dưới tên gọi là [[đảo Midway|Midway]].
 
=== Trận Midway ===
{{main|Trận Midway}}
[[ImageTập tin:G13065_USS_Yorktown_Pearl_Harbor_May_1942.jpg|thumb|right|''Yorktown'' trong ụ tàu không lâu trước [[Trận Midway]].]]
Với các thông tin tình báo có được, Đô đốc Nimitz bắt đầu vạch kế hoạch phòng thủ Midway một cách có hệ thống, tăng cường mọi lực lượng có thể có được bao gồm nhân lực, máy bay và pháo đến Midway. Thêm vào đó, ông cũng tập trung lực lượng hải quân dưới quyền để đối đầu cùng đối phương trên biển. Trong sự chuẩn bị đó, ông triệu hồi Lực lượng Đặc nhiệm TF 16 bao gồm ''Enterprise'' và ''Hornet'' (CV-8) quay về Trân Châu Cảng để được bổ sung tiếp liệu gấp.
 
Ba tàu sân bay Nhật đã bị mất. Tuy vậy, một chiếc thứ tư là [[Hiryū (tàu sân bay Nhật)|Hiryū]] vẫn còn đang tự do. Tách biệt khỏi những chiếc tàu sân bay kia, nó tung ra một lực lượng tấn công bao gồm 18 chiếc "Vals" và nhanh chóng tìm thấy ''Yorktown''.
[[ImageTập tin:Yorktown dive bombing.jpg|thumb|left|Khói tuôn ra từ chiếc ''Yorktown'' sau khi bị các máy bay ném bom bổ nhào Nhật đánh trúng nồi hơi trong [[trận Midway]].]]
Ngay khi những kẻ tấn công được nhận diện trên màn hình radar của chiếc ''Yorktown'' vào khoảng 13 giờ 29 phút, nó ngưng việc tiếp nhiên liệu cho những chiếc máy bay tiêm kích tuần tra trên không trên sàn đáp và nhanh chóng chuẩn bị hành động. Những chiếc máy bay ném bom bổ nhào quay trở về được lệnh tránh xa tạo khoảng trống cho hỏa lực phòng không. Những chiếc Dauntless được lệnh bay trên tầm cao nhằm tạo ra một hàng rào tuần tra trên không. Một thùng xăng phụ trữ lượng 800 gallon cũng được đẩy bỏ qua đuôi tàu nhằm hạn chế nguy cơ cháy. Thủy thủ đoàn tháo rỗng các ống dẫn nhiên liệu, đóng chặt và cố định tất cả các ngăn.
 
Đồng thời lúc đó, việc chữa cháy đã có hiệu quả đủ đảm bảo cho việc tiếp nhiên liệu trở nên an toàn, ''Yorktown'' bắt đầu tiếp nhiên liệu cho những chiếc máy bay tiêm kích đang trên sàn đáp; thì màn hình radar của con tàu lại bắt được tín hiệu của một tốp máy bay đang tiến đến gần ở khoảng cách 53 km (33 dặm). Trong khi con tàu lại chuẩn bị chiến đấu, tháo rỗng các hệ thống xăng và ngừng việc tiếp nhiên liệu cho những chiếc máy bay trên sàn đáp, nó phóng đi bốn trong số sáu chiếc máy bay tiêm kích tuần tra trên không (CAP) để đánh chặn các kẻ tấn công. Trong số mười chiếc máy bay tiêm kích trên tàu, tám chiếc chỉ có được khoảng 23 gallon nhiên liệu trong thùng chứa. Chúng được tung ra trong khi cặp máy bay tiêm kích CAP còn lại hướng ra đánh chặn những chiếc máy bay Nhật.
[[ImageTập tin:USS Yorktown hit-740px.jpg|thumb|right|''Yorktown'' bị đánh trúng mạn trái phần giữa tàu bởi một quả ngư lôi Kiểu 91 ném bởi máy bay từ tàu sân bay [[Hiryū (tàu sân bay Nhật)|''Hiryū'']].]]
Lúc 16 giờ, ''Yorktown'' di chuyển với tốc độ 36 km/h (20 knot), trong lúc những chiếc máy bay tiêm kích được tung ra để đánh chặn đã bắt đầu tiếp xúc với đối phương. ''Yorktown'' nhận được báo cáo những kẻ tấn công lần này là những chiếc máy bay ném ngư lôi "Kate". Những chiếc Wildcat đã bắn hạ được ít nhất ba chiếc, nhưng số còn lại tiếp tục tiến đến gần trong khi con tàu sân bay và các tàu hộ tống dựng lên một màn hỏa lực phòng không dày đặc.
Đến giữa buổi chiều, xem ra canh bạc giải cứu con tàu đã có phần thắng. Công việc làm giảm bớt trọng lượng phần trên con tàu được tiến hành khả quan, một khẩu pháo 127 mm (5 inch) đã được thả xuống biển qua mạn tàu trong khi một khẩu thứ hai đang được tháo dỡ; máy bay được đẩy qua mạn tàu, các bơm nước hoạt động nhờ nguồn điện cung cấp bởi chiếc ''Hammann'' đã bơm ra được rất nhiều nước khỏi các khoang máy. Các nỗ lực của đội cứu hộ đã làm giảm bớt độ nghiêng của con tàu được khoảng hai độ.
[[ImageTập tin:USS Hammann sinking 1942-06-06 seen from USS Yorktown.jpg|thumb|left|Tàu khu trục USS [[USS Hammann (DD-412)|''Hammann'']] đang chìm với đuôi tàu nhô cao, sau khi trúng phải ngư lôi của tàu ngầm Nhật [[I-168 (tàu ngầm Nhật)|I-168]].]]
Hoàn toàn không bị ''Yorktown'' và sáu chiếc tàu khu trục gần đó nhận biết, tàu ngầm Nhật Bản [[I-168 (tàu ngầm Nhật)|I-168]] tiến đến một vị trí khai hỏa thuận lợi. Một điều đáng lưu ý là không có tàu khu trục nào nhìn thấy chiếc tàu ngầm đang đến gần, nhưng điều này có lẽ hiểu được do mặt nước biển chung quanh đầy dẫy mảnh vỡ và xác máy bay. Đến 15 giờ 36 phút, một trinh sát viên phát hiện được một loạt bốn quả ngư lôi đang hướng đến con tàu từ mạn phải.
 
 
 
== Phần thưởng – Tái phát hiện ==
Chiếc ''Yorktown'' (CV-5) đã nhận được ba [[ngôi sao chiến đấu]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II, hai trong số đó là do phần tham gia đáng kể của nó trong việc ngăn chặn sự bành trướng của lực lượng Nhật Bản và làm đảo chiều diễn biến chiến tranh trong trận chiến biển Coral và tại Midway.
 
Vào ngày [[19 tháng 5]] năm [[1998]], xác tàu đắm của chiếc ''Yorktown'' được tìm thấy và được chụp ảnh bởi nhà đại dương học nổi tiếng là Tiến sĩ [[Robert Ballard|Robert D. Ballard]], người cũng đã tìm ra xác tàu đắm của chiếc [[RMS Titanic]]. Điều ngạc nhiên là xác tàu chìm sâu 4,8 km (3 dặm) bên dưới mặt nước lại gần như nguyên vẹn sau khi đã ở lại dưới đáy biển từ năm [[1942]]; hầu hết nước sơn và các trang bị vẫn còn nhìn thấy được.<ref>{{cite news|url=http://www.cnn.com/TECH/science/9806/04/yorktown.found/index.html|title=Titanic explorer finds Yorktown|ngày=[[4 tháng 6 năm 1998]]|truy cập ngày=1 tháng 7 năm 2007|publisher=CNN}}</ref>
 
== Tham khảo ==
{{reflist}}
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Dictionary_of_American_Naval_Fighting_Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]].
* Bài này có các thông tin thu thập từ [[:en:Naval_Historical_Center]], vốn là tác phẩm xuất bản của Chính phủ Mỹ, nên thuộc [[phạm vi công cộng]].
* {{cite book | last = Cressman | first = Robert | origyear = 1985 | year = 2000 | edition = 4th printing | title = That Gallant Ship: U.S.S. Yorktown (CV-5) | publisher = Pictorial Histories Publishing Company | location = Missoula, Montana | isbn = 0933126573 | oclc = 14251897 }}
 
== Xem thêm ==
* [[USS Yorktown]] về những tàu chiến khác cùng tên của [[Hải quân Hoa Kỳ]]
* [[Danh sách các tàu sân bay]]
* [[Danh sách các tàu chiến của Hải quân Hoa Kỳ bị mất trong Thế Chiến II]]
== Liên kết ngoài ==
{{Commons|USS Yorktown (CV-5)}}
* [http://www.history.navy.mil/photos/sh-usn/usnsh-xz/cv5.htm Các hình ảnh của Hải quân về chiếc ''Yorktown'' (CV-5)]
[[es:USS Yorktown (CV-5)]]
[[fr:USS Yorktown (CV-5)]]
[[ko:CV-5 USS 요크타운]]
[[it:USS Yorktown (CV-5)]]
[[nl:USS Yorktown (CV-5)]]
167.698

lần sửa đổi