Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
Đã lùi lại sửa đổi của TuanminhBot (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của CommonsDelinker
Sau khi phát hành album thứ hai, Janet quyết định chấm dứt hợp tác với gia đình, phát biểu rằng "Tôi chỉ muốn ra khỏi nhà, thoát khỏi sự kiểm soát của cha, đó là một trong những điều khó khăn nhất tôi phải làm."<ref name="Saunders" /> Để chuẩn bị album phòng thu thứ ba, Jackson gặp gỡ hai nhà sản xuất [[Jimmy Jam và Terry Lewis]]. Họ mong muốn kết quả là sự hòa quyện với dòng nhạc pop mà vẫn giữ nền tảng chính ở thị trường nhạc [[urban contemporary|urban]].<ref name="She's a rebel">{{harvnb|Gaar|2002|p=323–325}}</ref> Chỉ trong sáu tuần, họ hoàn thành ''[[Control (album)|Control]]'' và phát hành vào tháng 2 năm 1986.<ref name="cohen">{{Cite news|last=Cohen |first=Jonathan |title=Billboard Feature: Janet Jackson: Still In Control |url=http://www.allbusiness.com/retail-trade/miscellaneous-retail-retail-stores-not/4614593-1.html |work=Billboard |date=December 15, 1999 |accessdate=September 6, 2010 |deadurl=yes |archiveurl=https://web.archive.org/web/20110110093834/http://www.allbusiness.com/retail-trade/miscellaneous-retail-retail-stores-not/4614593-1.html |archivedate=January 10, 2011 }}</ref> Album này đạt hạng nhất ''Billboard'' 200, 5 lần được [[Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ]] (RIAA) chứng nhận Bạch kim và tiêu thụ hơn 14 triệu bản trên toàn thế giới.<ref name="Billboard Album peaks" /><ref name="cert">{{cite certification|region=United States|artist=Janet Jackson|type=album|accessdate=August 21, 2009}}</ref>
 
''Control'' tuyên bố "sự tinh vi và chững chạc" ở Jackson, được xem là "cú xoay chuyển so với làn sóng nhạc ballad tình cảm" đang chiếm ưu thế trên các trạm phát thanh lúc bấy giờ. Bà được so sánh với vị thế của [[Donna Summer]], như những người "không muốn chấp nhận tình trạng mới mẻ mà tự mình tạo nên sự khác biệt."<ref>{{citation|last=Johnson|first=Connie|title=Jackson Jive|newspaper=[[Los Angeles Times]]|page=78|date=February 23, 1986|issn=0458-3035}}</ref><ref>{{Citation | title = Singer Janet Jackson | volume= 108 | issue = 3 | page = 61 | newspaper=[[Newsweek]]| date = July 21, 1986| issn = 0028-9604}}</ref><ref>{{Citation |url=http://www.rollingstone.com/artists/janetjackson/albums/album/321531/review/5944692/control | title = Janet Jackson: Control: Music Reviews: Rolling Stone | last=Hoerburger | first=Rob |work=Rolling Stone | date = April 24, 1986 | accessdate = September 6, 2010 | archiveurl = https://web.archive.org/web/20080430054634/http://www.rollingstone.com/artists/janetjackson/albums/album/321531/review/5944692/control | archivedate = April 30, 2008}}</ref> Năm đĩa đơn trích từ album, "[[What Have You Done for Me Lately]]", "[[Nasty (bài hát)|Nasty]]", "[[When I Think of You]]", "[[Control (bài hát)|Control]]" và "[[Let's Wait Awhile]]" đều lọt vào top năm5 bảng xếp hạng [[Billboard Hot 100|''Billboard'' Hot 100]]. Đĩa đơn thứ sáu mang tên "[[The Pleasure Principle (bài hát)|The Pleasure Principle]]" cũng lọt vào top 20. Trong đó, "When I Think of You" là đĩa đơn đầu tiên của Janet quán quân bảng xếp hạng này.<ref name="US-singles">{{cite web | url={{BillboardURLbyName|artist=Janet Jackson|chart=Hot 100}} | title=Janet Jackson – Chart History: Hot 100 | work=[[Billboard (magazine)|Billboard]]| accessdate=October 29, 2012}}</ref> ''Control'' mang về cho Janet 4 [[giải thưởng âm nhạc Billboard|giải thưởng ''Billboard'']], bao gồm hạng mục "Nghệ sĩ đĩa đơn pop hàng đầu" và 3 đề cử [[giải Grammy]], trong đó có "[[Giải Grammy cho Album của năm|Album của năm]]".<ref name="books.google.com">{{cite book|url=https://books.google.com/books?id=tiQEAAAAMBAJ&printsec=frontcover&source=gbs_summary_r&cad=0_0#PPA10,M1 |title=In Praise of Numbers|work=[[Billboard]]|volume=98|number=52|publisher=|date=December 27, 1986 |accessdate=April 18, 2014}}</ref> Album còn thắng 4 [[giải thưởng Âm nhạc Mỹ]] trên 12 đề cử, một kỷ lục chưa ai phá vỡ.<ref>{{citation|last=Smith|first=Kathleen|title=American Music Awards tonight to honor Presley posthumously|newspaper=[[St. Petersburg Times]]|page=7.D|date=January 26, 1987}}</ref><ref>{{citation|title=Travis tops music award winners|newspaper=[[Houston Chronicle]]|date=January 26, 1988|page=1|issn=1074-7109}}</ref><ref>{{Citation | last1 = Hamlin | first1 = Jesse | title = Graced With a Grammy / Paul Simon wins award for top album | page = 48 | newspaper=[[San Francisco Chronicle]] | date = February 25, 1987 }}</ref> Đến lúc này, Jackson đã thành công trong việc "rũ bỏ cái bóng của một đứa trẻ nhà Jackson" và trở thành "một nghệ sĩ đúng nghĩa".<ref>{{Citation|last=Hilburn|first=Robert|title=British Critics Turn All Ears To America|page=65|newspaper=[[Los Angeles Times]]|date=January 11, 1987|issn=0458-3035}}</ref>
 
Ca từ của album đề cập đến sự trao quyền, lấy cảm hứng từ một sự cố [[quấy rối tình dục]] mà Jackson trải qua. Bà nhớ lại rằng "sự nguy hiểm tìm đến khi vài gã trai lén theo tôi trên đường&nbsp;... Thay vì chạy đi tìm Jimmy hay Terry, tôi đã tự bảo vệ mình. Tôi hạ gục họ. Đó là cách mà những bài hát như 'Nasty' và 'What Have You Done for Me Lately' ra đời, lấy từ quyền tự vệ của bản thân."<ref name="Sexual Healing">{{Citation | last1 = Ritz | first1 = David | title = Sexual healing | issue = 665 | page = 38 | newspaper=Rolling Stone | date = September 16, 1993 | issn = 0035-791X}}</ref> Sự kết hợp sáng tạo giữa [[dance-pop]] và [[nhạc công nghiệp]] đã gây ảnh hưởng tới sự hình thành thể loại nhạc [[new jack swing]], thông qua sự hòa trộn của các yếu tố [[hip hop|hip-hop]] và [[R&B]].<ref name="The New Blue Music">{{harvnb|Ripani|2002|p=130–153}}</ref> Video âm nhạc cho các đĩa đơn này trở nên thịnh hành trên hệ thống [[MTV]], giúp [[Paula Abdul]] nhận được một hợp đồng thu âm nhờ sự cộng tác về vũ đạo với Jackson. ''[[Billboard (magazine)|Billboard]]'' khẳng định "âm nhạc dễ tiếp cận và các video dàn dựng công phu [của Jackson] là một cơ hội hấp dẫn đối với MTV, giúp kênh truyền hình này phát triển từ chương trình rock sang dòng nhạc đa dạng rộng rãi hơn."<ref name="cohen" />
===1997–99: ''The Velvet Rope''===
Jackson bắt đầu trải qua chứng bệnh trầm cảm và lo âu nghiêm trọng, là cảm hứng cho album phòng thu thứ sáu của bà, ''[[The Velvet Rope]]'' phát hành vào tháng 10 năm 1997. Jackson trở lại với sự thay đổi lớn về hình ảnh, phô trương mái tóc đỏ rực, khuyên mũi và hình xăm.<ref>{{cite web|url=https://books.google.com/books?id=WzsDAAAAMBAJ&pg=PA61|title=Janet Jackson Returns With Hit Album, New Look|work=[[Jet (magazine)|Jet]]|accessdate=April 20, 2014|date=17 tháng 11 năm 1997|publisher=Johnson Publishing Company}}</ref> Chủ đề chính của album tập trung vào nhu cầu gắn bó trong mỗi con người. Ngoài lời ca đề cập tới những vấn đề xã hội như [[tình yêu đồng giới]], [[ghê sợ đồng tính luyến ái]] và [[bạo lực gia đình]],<ref>{{cite web|url=http://www.slantmagazine.com/house/2006/11/postkatrina-musicand-an-american-idol-dropout|title=Post-Katrina Music…and an American Idol Dropout - The House Next Door|work=[[Slant Magazine]]|author=Cinquemani, Sal|date=November 11, 2006|accessdate=April 20, 2014}}</ref><ref name="Elysa">{{cite web|url=http://articles.latimes.com/1997/nov/20/entertainment/ca-55636|title=You're making your list and we've made ours: tons of ideas for presents--even for those hardest to please.: From Elton to Boyz to Celine to Dylan, It's an Album Bull Market|work=Los Angeles Times|author=Gardner, Elysa|date=November 20, 1997|accessdate=April 20, 2014}}</ref> các bài hát còn chứa nội dung về [[bạo dâm]] và được xem là tác phẩm mang tính gợi dục hơn ''janet''.<ref name="Saunders" /><ref>{{cite web|url=http://www.mtv.com/news/1405/janet-jackson-experiments-on-new-album/|title=Janet Jackson Experiments On New Album - MTV|publisher=[[MTV|MTV News]]|author=Kaufman, Gil|date=October 2, 1997|accessdate=April 20, 2014}}</ref> ''[[The New York Times]]'' gọi đây là "album táo bạo, trau chuốt và hoàn thiện nhất" trong sự nghiệp của bà, còn ''Billboard'' đánh giá đây là "album Mỹ hay nhất năm và tác phẩm hùng mạnh nhất" của nữ ca sĩ.<ref>{{cite news|last=Pareles|first=Jon|title=Critics' Choice/Pop CD's; Love Can Get Complicated (Ouch!)|url=http://www.nytimes.com/1997/10/07/arts/critic-s-choice-pop-cd-s-love-can-get-complicated-ouch.html|accessdate=January 16, 2014|newspaper=[[The New York Times]]|date=October 7, 1997}}</ref><ref>{{cite web|last=Flick|first=Larry|title=The Year in Music|newspaper=Billboard|volume=109|issue=52|page=16|date=December 3, 1998|issn=0006-2510}}</ref> Album mở đầu tại ngôi quán quân ''Billboard''&nbsp;200, 3 lần chứng nhận Bạch kim tại Hoa Kỳ với doanh số bán hàng trên toàn thế giới hơn 10 triệu bản.<ref name="cert" />
 
 
Đĩa đơn mở đường "[[Got 'til It's Gone]]" lên kệ vào tháng 8 năm 1997, có sự góp giọng của ca sĩ [[Joni Mitchell]] và rapper [[Q-Tip (rapper)|Q-Tip]]. Video âm nhạc của bài hát, nơi Jackson hóa thân thành một ca sĩ phòng trà trong [[Apartheid|thời kỳ phân biệt chủng tộc]] ở Nam Phi, giành chiến thắng giải Grammy cho "Video âm nhạc ngắn xuất sắc nhất".<ref>{{cite news|url=http://articles.latimes.com/1998/jan/07/entertainment/ca-5628/15|title=Complete List of Academy Voter Picks|page=15|work=Los Angeles Times |date=January 7, 1998|accessdate=May 6, 2011}}</ref> "[[Together Again]]" trở thành bài hát quán quân thứ 8 của Jackson trên ''Billboard'' Hot&nbsp;100, đứng ngang hàng với [[Elton John]], Diana Ross và [[The Rolling Stones]].<ref name="Jacksons Number Ones" />{{rp|28, 120}} Bài hát trụ hạng trong 46 tuần tại Hot 100 và 19 tuần tại bảng xếp hạng đĩa đơn Vương quốc Liên hiệp Anh, một con số kỷ lục.<ref name="US-singles"/><ref name="Jacksons Number Ones" /> Bài hát tiêu thụ 6 triệu bản trên toàn cầu và là một trong những [[danh sách đĩa đơn bán chạy nhất|đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại]].<ref>{{cite book|title= FYI > Together Again |work=UNAIDS Outlook Report|publisher= Joint United Nations Programme on HIV/AIDS |date= July 2010 |page= 30 |url= https://books.google.com/?id=E1jwF1bK1tQC&pg=PA30&dq=%22together+again%22+%22six+million+copies+worldwide%22}}</ref> "[[I Get Lonely]]" đạt hạng 3 tại Hoa Kỳ và nhận một đề cử giải Grammy cho "Trình diễn giọng nữ R&B xuất sắc nhất".<ref name="US-singles"/><ref>{{cite journal|url=https://books.google.com/books?id=TQ0EAAAAMBAJ|title=Final Nominations for the 41st Annual Grammy Awards|journal=Billboard|publisher=Nielsen Business Media, Inc.|volume=111|issue=3|page=80|issn=0006-2510|date=1999-01-16|accessdate=2011-10-18}}</ref> Đây là đĩa đơn top 10 thứ 18 liên tiếp của Jackson, giúp bà là nữ nghệ sĩ duy nhất đạt thành tích này.<ref>{{cite web|title=Causing a Commotion|url=http://rockhall.com/education/resources/commotion/|publisher=[[Rock and Roll Hall of Fame]]|accessdate=January 13, 2012|archiveurl=https://web.archive.org/web/20110613020642/http://rockhall.com/education/resources/commotion/|archivedate=13 tháng 6 năm 2011}}</ref> Bà còn phát hành một vài đĩa đơn khác, bao gồm "[[Go Deep]]" và bản ballad "[[Every Time (bài hát)|Every Time]]", đi kèm là những video âm nhạc chứa cảnh khỏa thân gây tranh cãi.<ref>{{cite web|url=http://www.vibe.com/article/naked-music-videos-pg-2|title=Naked Music Videos (Pg. 2)| work=Vibe|publisher=SpinMedia|date=March 25, 2010|accessdate=February 19, 2014}}</ref>