Khác biệt giữa các bản “Cao Ngao Tào”

không có tóm lược sửa đổi
'''Cao Ngao Tào''' ([[chữ Hán]]: 高敖曹; [[491]]-[[538]]), vốn tên là '''Cao Ngang''' (chữ Hán: 高昂), tự là Ngao Tào, nhưng thường được được gọi bằng tên chữ, [[dân tộc Hán]], người huyện Tu, Bột Hải <ref>Nay là phía đông huyện [[Cảnh (huyện)|Cảnh]], [[Hà Bắc]]</ref>, đại tướng [[nhà Đông Ngụy]] thời [[Nam Bắc Triều (Trung Hoa)|Nam Bắc triều]] trong [[lịch sử Trung Quốc]].
 
==Thiếu thời==
Sau này, Cao Ngao Tào cùng anh cả là Cao Cán thường đi cướp bóc khắp nơi, quan lại của châu huyện đều không dám truy cứu. Hai người tiêu sạch cả gia sản, tụ tập khách khứa có võ nghệ, người trong làng e ngại, không dám trái ý bọn họ. Cao Cán cầu hôn con gái của người Bác Lăng là Thôi Thánh Niệm, nhưng bị cự tuyệt, hai người bèn cướp lấy cô gái ấy đem về. Đến bên ngoài thôn, Cao Ngao Tào nói với Cao Cán: “Sao không làm lễ ở đây?” Thế là Cao Cán ngủ với cô gái ấy ở đó rồi mới đưa về nhà.
 
Vì hai người thường đi cướp bóc khắp nơi mà cha của họ bị liên lụy, nhiều lần bị giam vào ngục, chỉ nhờ gặp dịp đại xá mới được ra ngoài. Cao Dực có 4 con trai là Cán, Thận, Ngao Tào và Quý Thức, nên thường nói với mọi người: “Tôi“''Tôi có 4 đứa con trai đều không nên người, không biết sau khi tôi chết có ai đắp cho tôi được một thuổng đất nào không?''” Sau khi Cao Dực mất, Cao Ngao Tào làm một phần mộ lớn, rồi nói: “Ông“''Ông già ơi, ông khi còn sống sợ không được một thuổng đất nào, nay bị chôn dưới đất, còn muốn làm người chăng?''
 
==Sự nghiệp==
===Hưởng ứng Cát Vinh, báo ơn Hiếu Trang===
Tháng 6 năm Kiến Nghĩa thứ nhất (528), Cao Cán và Cao Ngao Tào tụ tập lưu dân ở khoảng Hà, Tế, hưởng ứng [[Cát Vinh]] khởi nghĩa, rồi nhận quan tước của ông ta, nhiều lần đánh bại quân đội Bắc Ngụy. Do Cao Cán cùng [[Bắc Ngụy Hiếu Trang Đế]] có quen biết từ trước, nên phụng chỉ quy hàng. Cao Ngao Tào được phong làm Vũ Thành huyện bá, thực ấp 500 hộ. [[Nhĩ Chu Vinh]] không muốn tiếp nhận anh em họ Cao, hai người biết được, bèn chủ động giải quan về nhà.
 
Anh em họ Cao ở trong làng ngầm tụ tập dũng sĩ, tiếp tục cướp bóc. Nhĩ Chu Vinh biết được, bèn bí mật lệnh cho thứ sử Nguyên Trọng Tông lừa bắt Cao Ngao Tào, đem giam chung với Tiết Tu Nghĩa ở Tấn Dương.
Tháng 6, Cao Hoan liên lạc với lực lượng chống lại họ Nhĩ Chu khắp nơi, ở Tín Đô khởi binh. Tháng 8, chư tướng họ Nhĩ Chu như Nhĩ Chu Trọng Viễn,… đưa quân thảo phạt Cao Hoan. Tháng 10, Cao Hoan ở Tín Đô lập Bột Hải thái thú, An Định Vương Nguyên Lãng làm vua, đổi niên hiệu là Trung Hưng. Nguyên Lãng lấy Cao Hoan làm Thừa tướng, Đô đốc trung ngoại chư quân sự, Cao Cán làm Thị trung, Tư không, Cao Ngao Tào làm Phiêu kỵ đại tướng quân, Nghi đồng tam tư, Ký Châu thứ sử.
 
Khi ấy chư tướng họ Nhĩ Chu liên quân chinh thảo Cao Hoan. Nhĩ Chu Triệu ra khỏi Tỉnh Hình, đóng quân ở Quảng A <ref>Nay là phía đông [[Long Nghiêu]], Hà Bắc</ref>. Vào lúc đại quân họ Nhĩ Chu áp sát, Cao Hoan thi hành kế phản gián, khiến cho chư tướng họ Nhĩ Chu nghi kỵ lẫn nhau, các lộ binh mã quanh quẩn ở nơi đồng bằng, không chịu tiến lên. Cao Ngao Tào theo Cao Hoan giao chiến với Nhĩ Chu Triệu, đại phá ông ta ở Quảng A, bắt sống 5000 người. Cao Ngao Tào lại cùng với Cao Hoan thừa thắng nam hạ, tấn công Nghiệp Thành <ref>Nay là tây nam [[Lâm Chương]], Hà Bắc</ref>. Tương Châu thứ sử Lưu Đản đóng cửa thành cố thủ.
 
Tháng giêng năm Trung Hưng thứ hai (532), Cao Hoan công phá Nghiệp Thành, bắt Lưu Đản. Sau đó, Cao Ngao Tào đưa bộ khúc đến Lê Dương, lại theo Cao Hoan đánh Nhĩ Chu Triệu ở Hàn Lăng. Tháng 3 nhuận, Cao Ngao Tào đưa bộ khúc 3000 tướng sĩ, đều là người cùng làng như Vương Đào Thang, [[Đông Phương Lão]], Hô Duyên Tộc, Lưu Quý Trân, Lưu Trường Địch, Hàn Nguyện,… hội họp với Cao Hoan.
Tháng 3 năm Vĩnh Hi thứ hai (533), Cao Cán bị Bắc Ngụy Hiếu Vũ Đế giết chết. Hiếu Vũ Đế còn ngầm phái Từ Châu thứ sử Phan Thiệu Nghiệp đi giết Cao Ngao Tào. Khi ấy ông đã biết Cao Cán bị giết, bắt lấy Phan Thiệu Nghiệp ở giữa đường, tìm được sắc thư trong cổ áo khoác của ông ta. Cao Ngao Tào bèn đưa hơn 10 kỵ binh, chạy đến Tấn Dương đưa sắc thư cho Cao Hoan xem.
 
Tháng 6, Cao Hoan mượn danh nghĩa “thanh quân trắc”, nhằm trị tội [[Hộc Tư Xuân]] vì đã xúi giục Hiếu Vũ Đế phản kháng, điều đại quân nam hạ, lấy em trai là Định Châu thứ sử Cao Sâm trấn thủ Tấn Dương, Cao Ngao Tào lĩnh binh làm tiền phong.
 
Ngày 29 tháng 6, Cao Hoan tiến vào Lạc Dương, Cao Ngao Tào đưa 500 kỵ binh khỏe đuổi theo Hiếu Vũ Đế đến Thiểm Tây, không kịp phải trở về.
 
Tháng 9, Cao Ngao Tào vẫn chinh phạt các châu ở khu vực Tam Kinh <ref>Hồ Tam Tỉnh chú giải [[Tư trị thông giám]]: nhà Bắc Ngụy đặt Kinh Châu ở huyện Nhương, nay là huyện Đặng, [[Hà Nam (Trung Quốc)|Hà Nam]]; Nam Kinh Châu ở An Xương, nay là Xác Sơn, Hà Nam; Đông Kinh Châu ở Thử Dương, nay là [[Bí Dương]], Hà Nam</ref> không chịu quy phụ, đều bình định được.
 
Tháng 10, Cao Hoan tại Lạc Dương lập Thanh Hà Vương thế tử Nguyên Thiện Kiến làm vua, là [[Đông Ngụy Hiếu Tĩnh Đế|Hiếu Tĩnh Đế]], đổi niên hiệu là [[Thiên Bình]], định đô ở Nghiệp Thành, sử gọi là [[Đông Ngụy]]. Cao Ngao Tào được phong làm Thị trung, Tư không. Ông vì anh trai Cao Cán chết khi đang giữ chức vị này, nên từ chối không nhận, tháng 2 năm sau chuyển sang nhậm chức Tư đồ.
 
===Tham gia chiến tranh Đông Ngụy – Tây Ngụy===
====Trận Tiểu Quan====
{{Chính|Trận Tiểu Quan}}
Tháng 12 năm Thiên Bình thứ 3 (536) nhà Đông Ngụy, thừa tướng Cao Hoan chia quân 3 đường tấn công Tây Ngụy; lấy Cao Ngao Tào tấn công Thượng Lạc <ref>Nay là huyện [[Thương (huyện)|Thương]], [[Thiểm Tây]]</ref>, Đại đô đốc [[Đậu Thái]] đánh Đồng Quan, tự mình đưa quân đến Bồ Phản <ref>Nay là phía tây [[Vĩnh Tế]], [[Sơn Tây (Trung Quốc)|Sơn Tây]]</ref>.
 
Tháng giêng năm Đông Bình thứ 4, sau khi Cao Ngao Tào vượt sông [[Hoàng Hà]], tế [[Hà Bá]] rằng: “Hà Bá là thần dưới nước, Cao Ngao Tào là hổ trên đất. Tôi đi qua chỗ của ngài, xin cùng say một trận.”
 
Khi ấy đường núi hiểm trở, Cao Ngao Tào đưa quân từ Thương Sơn đi vòng mà tiến, không ai địch nổi, rồi đánh Thượng Lạc. Người Thượng Lạc là Đỗ Quật đầu hàng Cao Ngao Tào, ông dùng Đỗ Quật làm hướng đạo tiến hành đánh thành. Tướng giữ thành là Lạc Châu thứ sử Toàn Xí nhà Tây Ngụy cố thủ hơn 10 ngày, con trai ông ta Toàn Nguyên Lễ, Toàn Trọng Tuân đốc quân gắng sức chiến đấu. Không lâu sau, con mắt của Toàn Trọng Tuân bị thương, không thể tái chiến, Cao Ngao Tào chiếm được Thượng Lạc, bắt được Toàn Xí cùng vài mươi tướng soái. Ông lấy Đỗ Quật làm Lạc Châu thứ sử.
====Trận Sa Uyển====
{{Chính|Trận Sa Uyển}}
Năm Thiên Bình thứ 4 (537) nhà Đông Ngụy, thừa tướng Cao Hoan đưa quân tấn công Tây Ngụy, nhằm tranh giành các khu vực Quan Trung, Hà Nam. Tháng 8, thừa tướng [[Vũ Văn Thái]] nhà Tây Ngụy soái 12 tướng lĩnh như [[Lý Bật]],… tấn công Đông Ngụy, lấy Bắc Ung Châu thứ sử [[Vu Cẩn]] làm tiền phong, liên tiếp chiếm được Bàn Đậu <ref>Nay là phía tây [[Linh Bảo]], Hà Nam</ref>, Hằng Nông <ref>Nay là [[Linh Bảo]], Hà Nam</ref>, bắt được 8000 quân Đông Ngụy. Tháng 9 nhuận, Cao Hoan tự mình soái 20 vạn đại quân đánh thẳng vào Bồ Tân <ref>Nay là cửa sông Hoàng Hà ở phía đông Triều Ấp, [[Đại Lệ]], Thiểm Tây</ref>, tiến đến đóng ở phía tây Hứa Nguyên <ref>Nay là phía nam Đại Lệ, Thiểm Tây</ref>. Riêng Cao Ngao Tào soái 3 vạn quân tiến đánh Hà Nam. Khi ấy Quan Trung gặp nạn đói, Vũ Văn Thái có chưa đến 1 vạn quân, đóng quân ở Hằng Nông hơn 50 ngày, nghe tin Cao Hoan vượt sông, bèn đưa quân vào quan, Cao Ngao Tào liền đưa quân vây Hằng Nông.
 
Đầu tháng 10, Vũ Văn Thái đặt phục binh ở Sa Uyển <ref>Nay là phía nam Đại Lệ, Thiểm Tây</ref>, đánh bại quân Đông Ngụy. Cao Hoan đưa tàn quân vượt sông trốn về phương bắc, tổn thất 8 vạn sĩ tốt. Nửa tháng sau, quân Tây Ngụy lại tấn công Đông Ngụy, tiến thẳng đến Lạc Dương. Cao Ngao Tào nghe tin Cao Hoan thua trận, bèn giải vây, lui về bảo vệ Lạc Dương. Không lâu sau, [[Độc Cô Tín]] nhà Tây Ngụy đến Tân An, Cao Ngao Tào đành phải đưa quân lùi về phía bắc Hoàng Hà.
Cao Hoan nghe tin ông chết trận, mất hết hồn vía, phạt Cao Vĩnh Nhạc 200 trượng, truy tặng ông làm Sứ trì tiết, Thị trung, Đô đốc việc quân 5 châu Ký, Định, Thương, Doanh, Ân, Thái sư, Đại tư mã, Thái úy công, Lục thượng thư sự, Ký Châu thứ sử, thụy hiệu là Trung Vũ.
 
Con trưởng của ông là Cao Đột Kỵ thừa kế tước vị, nhưng lại mất sớm. Thừa tướng nhà Đông Ngụy là [[Cao Trừng]] (con trưởng của Cao Hoan) lệnh cho con trai thứ 3 của ông là [[Cao Đạo Khoát]] thừa kế. Năm Hoàng Kiến thứ nhất (560) nhà Bắc Tề, Cao Ngao Tào được truy phong làm Vĩnh Xương Vương, Cao Đạo Khoát được thừa kế cả tước vị này. Năm Vũ Bình cuối cùng (576), Đạo Khoát được phong Khai phủ nghi đồng tam tư. Sau khi Bắc Chu diệt Bắc Tề, Đạo Khoát được phong Nghi đồng đại tướng quân. Trong những năm Khai Hoàng (581 – 600) nhà Tùy, Đạo Khoát mất khi đang ở chức Hoàng Châu thứ sử.
 
Vũ Văn Thái thưởng cho người giết ông 1 vạn tấm lụa, vì nguyên nhân kinh tế, mỗi năm trao cho 1 phần, đến 43 năm sau, Tùy Văn Đế Dương Kiến soán ngôi nhà Bắc Chu, kiến lập nhà Tùy vẫn chưa trao hết.
Bấy giờ người Tiên Ti xem thường người Hán, chỉ khiếp sợ một mình Cao Ngao Tào. Cao Hoan ban bố hiệu lệnh cho bộ hạ, thường dùng tiếng Tiên Ti, nhưng chỉ cần Ngao Tào có mặt trong quân, lại đổi sang dùng tiếng Hán. Có một lần ông đến phủ thừa tướng, lính gác cửa không cho vào, ông liền giương cung bắn chết anh ta, Cao Hoan biết mà không hỏi.
 
Lúc Cao Ngao Tào vây Thượng Lạc, vì trúng tên lạc bị trọng thương, nói với bộ hạ: “Ta“''Ta đem thân báo quốc, chết không ân hận, chỉ đáng tiếc rằng, không được nhìn thấy Quý Thức làm thứ sử.''” Sau này Cao Hoan biết được, lập tức phong Cao Quý Thức làm Tế Châu thứ sử.
 
==Gia quyến==
===Phụ thân===
Cha của Cao Ngao Tào là '''[[Cao Dực]]''', tự Thứ Đồng, tính tình hào sảng hiệp nghĩa, được người làng kính trọng. Nhờ là cường hào ở vùng Sơn Đông <ref>Nghĩa đen là khu vực phía đông núi Thái Hành, không phải tỉnh Sơn Đông ngày nay</ref> Cao Dực được phong làm Bột Hải thái thú, sau đổi làm Đông Dực Châu thứ sử, gia phong Trấn Đông tướng quân.
Khi Nhĩ Chu Triệu giết Hiếu Trang Đế, Cao Dực tụ tập binh mã bảo vệ quê nhà, nói với 4 con trai: “Hoàng thượng gặp hoạn nạn, là sỉ nhục của bề tôi; hoàng thượng chịu sỉ nhục, bề tôi chỉ có chết mà thôi. Nay quốc gia trong cơn nguy khốn, chính là lúc phá gia báo quốc.” Không lâu thì mất. Năm Trung Hưng thứ nhất (531), được truy tặng Sứ trì tiết, Thị trung, Thái bảo, Lục thượng thư sự, Ký Châu thứ sử, thụy hiệu là Văn Tuyên.
 
{{Chính|Cao Cán (Nam Bắc triều)|Cao Quý Thức}}
 
EmAnh cả Cao Ngao Tào là [[Cao Cán (Nam Bắc triều)|Cao Cán]] (497 – 533) cũng là tướng nhà Bắc Ngụy, tham gia chống [[Nhĩ Chu Vinh]] rồi đi theo Cao Hoan. Vì trung thành với Cao Hoan nên bị [[Bắc Ngụy Hiếu Vũ Đế]] giết.
 
Người emAnh thứ là Cao Thận, tự là Trọng Mật, yêu thích văn sử, chí hướng khác hẳn các anh em, từng giữ các chức vụ Thương Châu thứ sử, Đông Nam đạo hành đài thượng thư, thứ sử Quang Châu, gia phong Phiêu kỵ đại tướng quân, Nghi đồng tam ty. Cùng các anh theo giúp Cao Hoan, được thăng làm thị trung, Khai phủ, rồi thứ sử Duyện Châu , không lâu sau lại về kinh nhậm chức Ngự sử trung úy. Về sau, Cao Thận vì bất hòa với Cao Trừng, nên đầu hàng nhà [[Tây Ngụy]].
 
Người em nhỏ là [[Cao Quý Thức]] (516 – 553), tự Tử Thông, có can đảm, khí phách như Cao Ngao Tào, trở thành tướng nhà [[Đông Ngụy]] và khai quốc công thần nhà [[Bắc Tề]].
Họ Cao là một họ lớn ở Bắc triều. [[Cao Doãn]] (390 – 487), danh thần nhà Bắc Ngụy là em họ của Cao Dực. Ông nội của Cao Ngao Tào là Cao Di có 3 con trai, Cao Dực là thứ 3.
 
Con trai của anh cả Cao Dực là '''Cao Vĩnh Nhạc''', làm quan đến Vệ tướng quân, hữu quang lộc đại phu, Ký Châu đại trung chính, sau làm Bác Lăng thái thú, tự sát mà chết. Con trai của Vĩnh Nhạc là '''[[Cao Trường Mệnh]]''' đã từng theo Cao Ngao Tào chống lại Nhĩ Chu Thế Long ở cửa Đại Hạ của Lạc Dương vào năm Vĩnh An thứ 3 (530), được thụ phong Quang lộc đại phu. Cao Hoan trước sau đã phong Trường Mệnh làm Ung Châu thứ sử, Hoài Dương huyện nam, Yên Lăng huyện bá. Năm Vũ Định thứ 5 (548), Trường Mệnh chinh thảo [[Hầu Cảnh]] bị giết, được truy tặng Ký Châu thứ sử. Năm 1973, trong quần thể các ngôi mộ của dòng họ Cao ở huyện Cảnh, phát hiện mộ của Cao Trường Mệnh.
 
Con trai của anh thứ Cao Dực là '''Cao Duyên Bá''' từng nhậm các chức vụ Trung tán đại phu, An Châu thứ sử, được phong Vạn Niên huyện nam, Năm Thiên Bảo thứ nhất (550) nhà Bắc Tề, được gia phong Chinh Tây tướng quân, thăng làm tử tước, sau khi mất được truy tặng Thái phủ thiếu khanh.