Khác biệt giữa các bản “Dị thường từ”

n
replaced: → (2) using AWB
n
n (replaced: → (2) using AWB)
Trong ''[[Địa vật lý Thăm dò]]'', nghiên cứu dị thường từ là nội dung của ''[[thăm dò từ]]'', phục vụ cho lập [[bản đồ địa chất]], tìm [[khoáng sản]] đặc biệt là quặng [[sắt]], tìm kiếm [[dầu khí]], tìm [[nước ngầm]], khảo sát [[địa chất công trình]], [[địa chất môi trường]] và [[tai biến tự nhiên]], [[khảo cổ học]], tìm vật chìm ở biển, tìm [[vật chưa nổ]] (UXO) tại bãi [[bom]] [[mìn]] do [[chiến tranh]] để lại,...
 
Tại dị thường địa phương như [[Thạch Khê]] (tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam) đã xác định được mỏ sắt lớn nhất Đông Nam Á bị phủ bởi đất cát ven biển.
 
Dị thường lớn nhất thế giới là ''dị thường Kursk'' ở nước Nga ([[:en:Kursk Magnetic Anomaly|Kursk Magnetic Anomaly]]).
== Đo đạc ==
 
Dị thường từ nói chung là một phần nhỏ của [[từ trường Trái Đất]]. [[Từ trường Trái Đất]] là đại lượng vec-tơ, giá trị toàn phần dao động từ 25.000 đến 65.000 nano Tesla (nT)<ref>"Geomagnetism Frequently Asked Questions". National Geophysical Data Center. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2013.</ref>. Để đo dị thường, các [[máy đo từ]], còn gọi là [[từ kế]], phải có độ nhạy nhỏ hơn 10 nT và thường phải định hướng đầu thu, còn gọi là Cảm biến, thích hợp. Có ba loại [[máy đo từ]] chính được sử dụng trong đo [[từ trường Trái Đất]]:
 
* ''[[Máy đo từ fluxgate]]'' được phát triển trong [[Thế chiến II]] để phát hiện [[tàu ngầm]]. Máy đo thành phần trường dọc theo trục vật lý của đầu thu, do đó đầu thu cần phải được định hướng. Trên mặt đất, đầu thu được định hướng theo phương thẳng đứng, và gọi là đo thành phần Z (của vec-tơ trường từ). Hiện nay máy này ít được dùng.