Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Nguyễn Văn Thiệu”

n
Đã lùi lại sửa đổi của Tonggiang123 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Hongkytran
n (Đã lùi lại sửa đổi của Tonggiang123 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Hongkytran)
Thẻ: Lùi tất cả
{{Loạt bài về Nguyễn Văn Thiệu}}
 
'''Nguyễn Văn Thiệu''' (5 tháng 4 năm 1923 – 29 tháng 9 năm 2001) là một [[sĩ quan]], [[chính khách]] [[Người Việt|người Việt Nam]], người từng giữ chức [[Tổng thống Việt Nam Cộng hòa]], Chủ tịch [[Đảng Dân chủ (Việt Nam Cộng hòa)|Đảng Dân chủ]] và [[Mặt trận Quốc gia Dân chủ Xã hội]] trong giai đoạn 1967–1975. Trong cương vị một [[trung tướng]] bộ binh của [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]], Nguyễn Văn Thiệu được hội đồng tướng lĩnh bầu làm [[Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (Việt Nam Cộng hòa)|Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia]], trở thành [[Nguyên thủ Việt Nam Cộng hòa|Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa]] vào năm 1965. Là một chính trị gia theo đường lối [[chống cộng]] mạnh mẽ, ông đắc cử tổng thống sau khi giành chiến thắng trong một cuộc bầu cử diễn ra vào năm 1967 và nắm giữ cương vị này cho đến khi từ chức chỉ vài ngày trước khi chính quyền Sài Gòn đầu hàng [[Cộng hòa Miền Nam Việt Nam|chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] trong [[sự kiện 30 tháng 4 năm 1975]].
 
Sinh ra tại [[Phan Rang – Tháp Chàm|Phan Rang]], duyên hải [[Duyên hải Nam Trung Bộ|Nam Trung Bộ Việt Nam]], Nguyễn Văn Thiệu ban đầu gia nhập lực lượng [[Việt Minh]] vào năm 1945, nhưng [[đào ngũ]] và tìm đường vào Sài Gòn chỉ một năm sau đó. Tại đây, ông gia nhập lực lượng [[Quân đội Quốc gia Việt Nam]] thuộc [[Liên hiệp Pháp]]. Sau khi [[Quốc gia Việt Nam#Quân Pháp rút khỏi Việt Nam|người Pháp rút khỏi Đông Dương]], Quân đội Quốc gia dần chuyển đổi thành Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn Nguyễn Văn Thiệu trở thành Chỉ huy trưởng [[Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt|Trường Võ bị Đà Lạt]] trước khi được thăng cấp [[đại tá]] và trở thành một tư lệnh sư đoàn. Tháng 11 năm 1963, Nguyễn Văn Thiệu tham gia [[Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963|đảo chính]] lật đổ anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu]]. Sau đó, ông được thăng cấp bậc [[thiếu tướng]] và bắt đầu tham gia chính trường. Nền chính trị Việt Nam Cộng hòa bước vào một giai đoạn bất ổn khi các cuộc đảo chính thường xuyên diễn ra. Bằng cách hành xử khôn khéo, Nguyễn Văn Thiệu leo lên vị trí hàng đầu trong bộ máy quyền lực Sài Gòn giữa lúc các sĩ quan xung quanh ông vướng vào những cuộc đấu đá và thanh trừng nội bộ. Năm 1965, tại thời điểm Nguyễn Văn Thiệu được [[Hội đồng Quân lực (Việt Nam Cộng hòa)|Hội đồng Quân lực]] bầu vào chức vụ quốc trưởng thì nền chính trị miền Nam đã dần ổn định trở lại.
 
Năm 1967, quá trình chuyển dịch từ chính phủquyền quân sự sangthành một chính phủ dân sự của Việt[[miền Nam CộngViệt hòaNam]] được lên kế hoạch. Sau những cuộc tranh giành quyền lực ngay bên trong nội bộ quân đội, Nguyễn Văn Thiệu, trong liên danh cùng [[Nguyễn Cao Kỳ]], đã tham gia tranh cử tổng thống và giành chiến thắng. Tuy nhiên, căng thẳng bên trong bộ máy lãnh đạo ngày càng trở nên rõ rệt. Nguyễn Văn Thiệu tìm cách vô hiệu hóa Nguyễn Cao Kỳ bằng việc loại bỏ những người ủng hộ ông Kỳ ra khỏi các vị trí trọng yếu trong quân đội và nội các. Để nắm chắc phần thắng trong cuộc bầu cử năm 1971, Nguyễn Văn Thiệu tiến hành áp đặt các quy định mới, ngăn cấm quyền tham gia tranh cử của hầu hết ứng cử viên. Số người còn lại, trong đó có Nguyễn Cao Kỳ, đều tự rút tư cách ứng cử viên vì biết trước rằng cuộc bầu cử sẽ có gian lận. Là ứng cử viên duy nhất tham gia tranh cử tổng thống, Nguyễn Văn Thiệu tái đắc cử với 94% số phiếu.
 
Trong thời gian nắm quyền, Nguyễn Văn Thiệu bị chỉ trích là đã làm ngơ trước tệ nạn [[tham nhũng]] tràn lan của Việt Nam Cộng hòa. Ông cũng bị cáo buộc là chỉ bổ nhiệm những người trung thành với mình thay vì những sĩ quan có năng lực vào các vị trí chỉ huy trong quân đội. Trong [[Chiến dịch Lam Sơn 719]] năm 1971 và [[Chiến dịch Xuân – Hè 1972]], Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã phải hứng chịu những tổn thất nặng nề do sự thiếu năng lực của các tướng lĩnh dưới trướng ông Thiệu. Sau khi [[Hiệp định Paris 1973|Hiệp định Paris]] được ký kết vào năm 1973, chính quyền Sài Gòn tiếp tục chống cự thêm hai năm trước khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phát động tổng tấn công. Trước sức tấn công mạnh mẽ của đối phương, Nguyễn Văn Thiệu, trên cương vị tổng tư lệnh, đã mắc phải những sai lầm chiến lược, trong đó có quyết định rút quân hoàn toàn khỏi [[Cao nguyên Trung phần]], dẫn đến những cuộc tháo chạy hỗn loạn và sự tan rã dây chuyền của hàng loạt cứ điểm quân sự. Tuy tuyên bố tái ngũ với cấp bậc trung tướng và sẽ tiếp tục chiến đấu sau khi từ chức, nhưng Nguyễn Văn Thiệu đã bí mật rời khỏi [[Việt Nam]], di tản ra nước ngoài rồi cuối cùng định cư ở Hoa Kỳ cho đến khi qua đời.
 
==Thiếu thời==
{{chính|Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963|Vụ bắt giữ và sát hại Ngô Đình Diệm}}
[[Tập tin:Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh 7.jpg|nhỏ|[[Dinh Gia Long]], nơi diễn ra trận kịch chiến giữa quân đội đảo chính do Nguyễn Văn Thiệu chỉ huy và [[Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Tổng thống Phủ]] trong đêm ngày 1 và rạng sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963.]]
Lúc 1h30 trưa ngày [[1 tháng 11]] năm 1963, điệp viên CIA [[Lucien Conein]] vào bộ Tổng Tham mưu, mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với Tòa Đại sứ Mỹ và một bao tiền là ba triệu bạc tiền VNCH<ref>Trần Văn Đôn, 1989, tr 211</ref> để hỗ trợ cho việc thực hiện đảo chính với lời hứa rằng Hoa Kỳ sẽ không làm bất cứ điều gì để bảo vệ Ngô Đình Diệm.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.spartacus.schoolnet.co.uk/VNngo.htm|tiêu đề=Ngo Dinh Diem biography|nhà xuất bản=Spartacus.schoolnet.co.uk|ngày truy cập=ngày 26 tháng 10 năm 2012|archive-date=2007-04-02|archive-url=https://web.archive.org/web/20070402224644/http://www.spartacus.schoolnet.co.uk/VNngo.htm}}</ref>. Theo ''Việt Nam nhân chứng'' của Trần Văn Đôn thì các tướng [[Trần Thiện Khiêm]] nhận 500.000 đồng, [[Tôn Thất Đính]] nhận 600.000 đồng, đại tá [[Lê Nguyên Khang]] nhận 100.000 đồng, đại tá [[Nguyễn Văn Thiệu]] nhận 50.000 đồng, đại tá [[Trần Ngọc Huyến]] thị trưởng Đà lạt nhận 100.000 đồng; tất cả có biên nhận rõ ràng. Số tiền còn lại được chia cho [[Dương Văn Minh]], [[Lê Văn Kim]],[[Nguyễn Hữu Có]], [[Đỗ Cao Trí]], [[Nguyễn Khánh]], [[Trần Ngọc Tám]]<ref>[https://hon-viet.co.uk/LsNguyenVanChuc_CaiChetCuaTongThongNgoDinhDiemVaNenDeNhatVNCH.htm Cái Chết Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Và Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa]</ref>. Ngay sau đó, tướng Dương Văn Minh đề nghị tất cả tướng lãnh tham dự vào cuộc đảo chính.
 
Với tư cách Tư lệnh [[Sư đoàn 5 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 5]], Nguyễn Văn Thiệu tham gia lực lượng đảo chính lật đổ anh em Ngô Đình Diệm. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Nguyễn Văn Thiệu điều động 2 trung đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh và một chi đoàn thiết giáp tiến vào Sài Gòn và bao vây [[Thành Cộng Hòa]], mục đích gây áp lực ép Ngô Đình Diệm đầu hàng.{{sfnp|Nông Huyền Sơn|2016}} Đêm hôm đó, Nguyễn Văn Thiệu chỉ huy lực lượng tiến về phía [[Dinh Gia Long]] – nơi ở của Ngô Đình Diệm.{{sfnp|Jones|2003|p=414}} Tuy nhiên, vào lúc này, anh em Ngô Đình Diệm đã trốn khỏi Dinh bằng đường hầm bí mật và đến tá túc tại nhà của Mã Tuyên – một thương gia người Hoa.{{sfnp|Miller|2013|p=323}} Khoảng 22 giờ, được yểm trợ bởi pháo binh và xe tăng, bộ binh của Nguyễn Văn Thiệu bắt đầu khai hỏa tấn công doanh trại của [[Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Tổng thống Phủ|Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống]]. Hai bên đấu súng quyết liệt, quân đảo chính dùng súng phun lửa tấn công dinh.{{sfnp|Jones|2003|p=414}} Sau một hồi im tiếng súng thì vào lúc 3 giờ sáng ngày 2 tháng 11, Nguyễn Văn Thiệu tái khởi động các đợt pháo kích. Đến 5 giờ 15 phút, lực lượng bảo vệ Dinh Gia Long được lệnh buông súng đầu hàng. Ít giờ sau, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu từ [[Nhà thờ Cha Tam]] ra hàng.{{sfnp|Miller|2013|p=324}} Vào khoảng 10 giờ, họ bị đưa lên một [[M-113|xe thiết giáp]] và được một số sĩ quan áp giải về [[Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Bộ Tổng tham mưu]], song cả hai đã bị sát hại trên đường đi.{{sfnp|Kahin|1986|p=180}}{{sfnp|Vũ Quý Tùng Anh|2014|p=32}}
 
Tuy lực lượng Quân Giải phóng bị đẩy lùi và chịu thương vong rất lớn, nhưng phía Việt Nam Cộng hòa cũng phải gánh hậu quả nặng nề do đây là lần đầu tiên chiến tranh tiếp cận đáng kể tới các đô thị đông dân cư. Khi Quân lực Việt Nam Cộng hòa được kéo về để bảo vệ các thành phố, Quân Giải phóng đã chớp thời cơ chiếm quyền kiểm soát các vùng nông thôn.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=116}} Nỗi kinh hoàng mà sự kiện Tết Mậu Thân mang tới cùng với những tổn thất và dư chấn mà nó để lại đã khiến dân chúng dần đánh mất niềm tin ở Tổng thống Thiệu, cho rằng ông không thể bảo vệ họ.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=118}}
 
Chính quyền Sài Gòn ước tính số thương vong dân sự trong chiến dịch này là vào khoảng 14.300 người chết và 24.000 người bị thương.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=116}} Khoảng 630.000 người mất nhà mất cửa, 800.000 người phải di tản vì chiến tranh từ trước đó. Vào cuối năm 1968, 8% dân số miền Nam sống trong các trại tị nạn. Cơ sở hạ tầng quốc gia bị hư hại nghiêm trọng cùng với hơn 70.000 ngôi nhà bị phá hủy.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=116}} Với 27.915 người thiệt mạng và 70.968 người bị thương, trận Mậu Thân 1968 trở thành năm đẫm máu nhất của cuộc chiến tính đến thời điểm đó đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Smedberg|2008|p=196}}
[[Tập tin:69-10-0049-E.jpg|nhỏ|Nguyễn Văn Thiệu viếng các nạn nhân bị sát hại trong [[Thảm sát Huế Tết Mậu Thân|Thảm sát Huế]].]]
 
[[Tập tin:69-10-0049-E.jpg|nhỏ|Nguyễn Văn Thiệu viếng các nạn nhân bị sát hại trong [[Thảm sát Huế Tết Mậu Thân|Thảm sát Huế]].]]
Sau cuộc tấn công, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã có hành động quyết liệt hơn nhằm đối phó với quân Giải phóng{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=118–19}} Ngày 1 tháng 2 năm 1968 (Mùng 3 Tết), tổng thống họp Hội đồng Nội các, ban hành lệnh [[thiết quân luật]] trên khắp cả nước.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=119}}{{sfnp|Hoàng An|Thanh Liêm|Thanh Nhã|1982|p=18}} Ngày 19 tháng 6 năm 1968, trước tình hình chiến sự nguy ngập bùng nổ trên cả bốn vùng chiến thuật, [[Quốc hội Việt Nam Cộng hòa|Quốc hội]] đã phê chuẩn đề xuất thay đổi luật tổng động viên của Tổng thống Thiệu mà họ đã từ chối trước đó.{{sfnp|Zaffiri|1994|p=293}} Theo luật mới, tuổi quân dịch được hạ từ 20 xuống 18 tuổi, cho phép chính phủ cưỡng bách tòng quân nam giới trong độ tuổi từ 18 đến 38 vào lực lượng chính quy hoặc các lực lượng [[địa phương quân và nghĩa quân]]. Ngoài ra, luật mới quy định tất cả nam công dân tuổi từ 16 đến 50 sẽ phải tham gia lực lượng bán quân sự mang tên Nhân dân Tự vệ.{{sfnp|Nguyễn Kỳ Phong|2018}} Đến cuối năm, trên 200.000 tân binh đã được bổ sung vào quân ngũ, nâng tổng binh lực Việt Nam Cộng hòa lên hơn 900.000 người.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=119}}{{sfnp|Hoàng Ngọc Lung|1981|p=135–36}}
 
Sau cuộc tấn công, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã có hành động quyết liệt hơn nhằm đối phó với quâncộng Giải phóngsản.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=118–19}} Ngày 1 tháng 2 năm 1968 (Mùng 3 Tết), tổng thống họp Hội đồng Nội các, ban hành lệnh [[thiết quân luật]] trên khắp cả nước.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=119}}{{sfnp|Hoàng An|Thanh Liêm|Thanh Nhã|1982|p=18}} Ngày 19 tháng 6 năm 1968, trước tình hình chiến sự nguy ngập bùng nổ trên cả bốn vùng chiến thuật, [[Quốc hội Việt Nam Cộng hòa|Quốc hội]] đã phê chuẩn đề xuất thay đổi luật tổng động viên của Tổng thống Thiệu mà họ đã từ chối trước đó.{{sfnp|Zaffiri|1994|p=293}} Theo luật mới, tuổi quân dịch được hạ từ 20 xuống 18 tuổi, cho phép chính phủ cưỡng bách tòng quân nam giới trong độ tuổi từ 18 đến 38 vào lực lượng chính quy hoặc các lực lượng [[địa phương quân và nghĩa quân]]. Ngoài ra, luật mới quy định tất cả nam công dân tuổi từ 16 đến 50 sẽ phải tham gia lực lượng bán quân sự mang tên Nhân dân Tự vệ.{{sfnp|Nguyễn Kỳ Phong|2018}} Đến cuối năm, trên 200.000 tân binh đã được bổ sung vào quân ngũ, nâng tổng binh lực Việt Nam Cộng hòa lên hơn 900.000 người.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=119}}{{sfnp|Hoàng Ngọc Lung|1981|p=135–36}}
Trong thời gian này, Nguyễn Văn Thiệu thúc đẩy các chiến dịch tổng động viên và hoạt động chống tham nhũng. Ba trong số bốn tư lệnh quân đoàn bị thay thế vì màn thể hiện tệ hại trước Quân Giải phóng. Ông cũng thành lập Ủy ban Phục hồi Quốc gia để giám sát việc phân phối lương thực, tái định cư và xây dựng nhà ở cho người chạy nạn. Phẫn nộ vì các cuộc tấn công của quân Giải phóng, một bộ phận người dân miền Nam đã thay đổi cách nhìn đối với cuộc chiến, đặc biệt là những dân cư thành thị vốn rất thờ ơ với cuộc chiến.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=119}}
 
Trong thời gian này, Nguyễn Văn Thiệu thúc đẩy các chiến dịch tổng động viên và hoạt động chống tham nhũng. Ba trong số bốn tư lệnh quân đoàn bị thay thế vì màn thể hiện tệ hại trước Quân Giải phóng. Ông cũng thành lập Ủy ban Phục hồi Quốc gia để giám sát việc phân phối lương thực, tái định cư và xây dựng nhà ở cho người chạy nạn. Phẫn nộ vì các cuộc tấn công của quânphe Giảicộng phóngsản, một bộ phận người dân miền Nam đã thay đổi cách nhìn đối với cuộc chiến, đặc biệt là những dân cư thành thị vốn rất thờ ơ với cuộc chiến.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=119}}
Chính quyền Sài Gòn ước tính số thương vong dân sự trong chiến dịch này là vào khoảng 14.300 người chết và 24.000 người bị thương.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=116}} Khoảng 630.000 người mất nhà cửa, 800.000 người phải di tản vì chiến tranh từ trước đó. Vào cuối năm 1968, 8% dân số miền Nam sống trong các trại tị nạn. Cơ sở hạ tầng bị hư hại nghiêm trọng cùng với hơn 70.000 ngôi nhà bị phá hủy.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=116}} Với 27.915 người thiệt mạng và 70.968 người bị thương, trận Mậu Thân 1968 trở thành năm đẫm máu nhất của cuộc chiến tính đến thời điểm đó đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Smedberg|2008|p=196}}
 
=== Tranh giành quyền lực ===
{{chính|Việt Nam hóa chiến tranh}}
[[Tập tin:President Richard Nixon and South Vietnam's President Nguyen Van Thieu Making a Joint Statement at Midway Island.jpg|trái|nhỏ|Nguyễn Văn Thiệu và Richard Nixon phát biểu tại Midway]]
Ngày 8 tháng 6 năm 1969, Nguyễn Văn Thiệu tham gia hội nghị với tân Tổng thống Hoa Kỳ [[Richard Nixon]] tại [[Rạn san hô vòng Midway|đảo Midway]] ở [[Thái Bình Dương]].{{sfnp|Davidson|1991|p=596}} Trong cuộc họp, Nixon tuyên bố rằng 25.000 quân Mỹ sẽ được rút về vào cuối tháng 8 cùng năm, lấy lý do rằng việc duy trì một lực lượng quá lớn ở Việt Nam sẽ gây bất lợi cho ông trong bối cảnh phong trào phản chiến ngày càng phát triển mạnh mẽ ở Hoa Kỳ. Nixon cũng đề cập đến chương trình [[Việt Nam hóa chiến tranh]] và cam kết sẽ hỗ trợ Việt Nam Cộng hòa xuyên suốt 2 nhiệm kỳ của mình, trong đó 4 năm đầu sẽ là yểm trợ quân sự, 4 năm tiếp theo sẽ tập trung hỗ trợ về mặt kinh tế.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=286}} Đại tướng [[Creighton Abrams]], Tư lệnh [[Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam]], phản đối quyết định rút quân của Nixon, cho rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa chưa đủ kinh nghiệm và chưa được đào tạo bài bản để có thể tự mình tiếp tục cuộc chiến. Tuy nhiên, hoạt động rút quân nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ dân chúng Hoa Kỳ.{{sfnp|Hosch|2010|p=132}} Trong chuyến thăm Sài Gòn sau đó vào ngày 30 tháng 7 năm 1969, Nixon tiếp tục bảo ông Thiệu hãy yên tâm, rằng việc rút vài sư đoàn chỉ là làm "cho có lệ" nhằm xoa dịu phong trào phản chiến. Người Mỹ sẽ đẩy mạnh hoạt động vũ trang cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa, để miền Nam cuối cùng có thể tự mình chịu trách nhiệm hoàn toàn trong cuộc chiến.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=287}}
 
Tháng 4 năm 1970, sau khi đảo chính lật đổ Quốc trưởng [[Norodom Sihanouk]], [[Lon Nol]] tiến hành phong tỏa hải cảng [[Sihanoukville (thành phố)|Sihanoukville]], ngăn chặn đường tiếp tế từ biển tới [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]]. Nhằm bảo vệ [[Đường Trường Sơn]] – tuyến đường tiếp vận duy nhất còn lại của họ – [[Trung ương Cục miền Nam]] mở một loạt các chiến dịch dọc tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia và giành quyền kiểm soát một giải đất nằm dọc Vùng III và Vùng IV chiến thuật của Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Davidson|1991|p=624–25}}{{sfnp|Phạm Kim Vinh|1988|p=119}} Không thể đương đầu Quân Giải phóng một mình, Lon Nol cầu viện Hoa Kỳ. Đáp lại yêu cầu, liên quân Hoa Kỳ – Việt Nam Cộng hòa tổ chức một [[Chiến dịch Campuchia|cuộc tiến công quy mô lớn vào Campuchia]] nhằm truy quét Quân Giải phóng.{{sfnp|Davidson|1991|p=625}} Sau 3 tháng giao chiến, tuy không thể tiêu diệt tận gốc các căn cứ của Trung ương Cục miền Nam trên đất Campuchia, nhưng cuộc hành quân đã gây tổn hại lớnnghiêm trọng đối với cácsự khohỗ hàngtrợ hậu cần của Quân Giải phóng.{{sfnp|Davidson|1991|p=627–28}} Những kết quả thu về góp phần làm tăng sĩ khí Quân lực Việt Nam Cộng hòa, khi mà giờ đây, họ không còn nằm ở thế bị động như trước nữa.{{sfnp|Phạm Kim Vinh|1988|p=120–21}}
Đại tướng [[Creighton Abrams]], Tư lệnh [[Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam]], phản đối quyết định rút quân của Nixon, cho rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa chưa đủ kinh nghiệm và chưa được đào tạo bài bản để có thể tự mình tiếp tục cuộc chiến. Tuy nhiên, hoạt động rút quân nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ dân chúng Hoa Kỳ.{{sfnp|Hosch|2010|p=132}} Trong chuyến thăm Sài Gòn sau đó vào ngày 30 tháng 7 năm 1969, Nixon tiếp tục bảo ông Thiệu hãy yên tâm, rằng việc rút vài sư đoàn chỉ là làm "cho có lệ" nhằm xoa dịu phong trào phản chiến. Người Mỹ sẽ đẩy mạnh hoạt động vũ trang cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa, để miền Nam cuối cùng có thể tự mình chịu trách nhiệm hoàn toàn trong cuộc chiến.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=287}}
 
Tháng 4 năm 1970, sau khi đảo chính lật đổ Quốc trưởng [[Norodom Sihanouk]], [[Lon Nol]] tiến hành phong tỏa hải cảng [[Sihanoukville (thành phố)|Sihanoukville]], ngăn chặn đường tiếp tế từ biển tới [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]]. Nhằm bảo vệ [[Đường Trường Sơn]] – tuyến đường tiếp vận duy nhất còn lại của họ – [[Trung ương Cục miền Nam]] mở một loạt các chiến dịch dọc tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia và giành quyền kiểm soát một giải đất nằm dọc Vùng III và Vùng IV chiến thuật của Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Davidson|1991|p=624–25}}{{sfnp|Phạm Kim Vinh|1988|p=119}} Không thể đương đầu Quân Giải phóng một mình, Lon Nol cầu viện Hoa Kỳ. Đáp lại yêu cầu, liên quân Hoa Kỳ – Việt Nam Cộng hòa tổ chức một [[Chiến dịch Campuchia|cuộc tiến công quy mô lớn vào Campuchia]] nhằm truy quét Quân Giải phóng.{{sfnp|Davidson|1991|p=625}} Sau 3 tháng giao chiến, tuy không thể tiêu diệt các căn cứ của Trung ương Cục miền Nam trên đất Campuchia, nhưng cuộc hành quân đã gây tổn hại lớn đối với các kho hàng hậu cần của Quân Giải phóng.{{sfnp|Davidson|1991|p=627–28}} Những kết quả thu về góp phần làm tăng sĩ khí Quân lực Việt Nam Cộng hòa, khi mà giờ đây, họ không còn nằm ở thế bị động như trước nữa.{{sfnp|Phạm Kim Vinh|1988|p=120–21}}
 
[[Tập tin:ARVN in Cambodia.jpg|nhỏ|Lực lượng [[bộ binh cơ giới]] của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại Campuchia năm 1970.]]
 
Tháng 8 tháng 2 năm 1971, dựa trên nền tảng của Chiến dịch Campuchia, Nguyễn Văn Thiệu phát động [[Chiến dịch Lam Sơn 719]] đánh vào Hạ Lào, mục đích cắt đứt con đường tiếp tế từ miền Bắc Việt Nam sang Campuchia cũng như để chứng minh rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa đủ sức thay thế Quân đội Hoa Kỳ đang thực hiện chương trình rút quân về nước.{{sfnp|Davidson|1991|p=641}} Lực lượng mặt đất chỉ bao gồm Lục quân Việt Nam Cộng hoà, Hoa Kỳ chỉ đảm nhận yểm trợ bằng pháo binh và không quân.{{sfnp|Davidson|1991|p=639}} Tuy đã lên kế hoạch tác chiến tỉ mỉ, nhưng thông qua hoạt động tình báo và từ việc dư luận Mỹ liên tiếp rò rĩ thông tin về cuộc hành quân sắp tới, Hà Nội đã sớm có chuẩn bị và bố trí các vị trí phòng thủ, khiến tính bất ngờ của chiến dịch không còn được bảo đảm.{{sfnp|Davidson|1991|p=644}} Thêm vào đó, việc đánh giá sai lầm về đối phương khiến Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị áp đảo về mặt quân số lẫn hỏa lực. Tuy chiếm được mục tiêu tối hậu của chiến dịch là Tchepone, song Quân lực Việt Nam Cộng hòa không thể cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược và triệt phá các căn cứ hậu cần của Quân Giải phóng.{{sfnp|Davidson|1991|p=650}} Trước sức ép mạnh mẽ từ đối phương, Quân lực Việt Nam Cộng hòa chịu tổn thất nặng nề và buộc phải rút lui.{{sfnp|Davidson|1991|p=649}} Tuy Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố chiến thắng song Lam Sơn 719 là một thất bại về mặt quân sự lẫn tâm lý của Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ.{{sfnp|Phạm Kim Vinh|1988|p=125}} Số thương vong quá lớn gây tổn thương nghiêm trọng về mặt tinh thần, khiến Quân lực Việt Nam đánh mất sự tự tin mà họ đạt được trước đó.{{sfnp|Davidson|1991|p=651}}
 
Tuy đã lên kế hoạch tác chiến tỉ mỉ, nhưng thông qua hoạt động tình báo và từ việc dư luận Mỹ liên tiếp rò rỉ thông tin về cuộc hành quân sắp tới, quân Giải phóng đã sớm có chuẩn bị và bố trí các vị trí phòng thủ, khiến tính bất ngờ của chiến dịch không còn được bảo đảm.{{sfnp|Davidson|1991|p=644}} Thêm vào đó, việc đánh giá sai lầm về lực lượng đối phương khiến Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị áp đảo về mặt quân số lẫn hỏa lực. Tuy chiếm được mục tiêu của chiến dịch là thị trấn [[Tchepone]], song Quân lực Việt Nam Cộng hòa không thể cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược và triệt phá các căn cứ hậu cần của Quân Giải phóng.{{sfnp|Davidson|1991|p=650}} Trước sức ép mạnh mẽ từ đối phương, Quân lực Việt Nam Cộng hòa chịu tổn thất nặng nề và buộc phải sớm rút lui.{{sfnp|Davidson|1991|p=649}} Tuy Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố chiến thắng, song Lam Sơn 719 là một thất bại về mặt quân sự lẫn tâm lý của Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ.{{sfnp|Phạm Kim Vinh|1988|p=125}} Số thương vong quá lớn gây tổn thương nghiêm trọng về mặt tinh thần, khiến Quân lực Việt Nam đánh mất sự tự tin mà họ đạt được trước đó.{{sfnp|Davidson|1991|p=651}}
 
=== Cải cách điền địa ===
{{chính|Cải cách điền địa (Việt Nam Cộng hòa)#Cải cách lần 2 (Thời Đệ Nhị Cộng hòa)}}
[[Tập tin:Nguyen Van Thieu converses with two village elders (CC45537).jpg|nhỏ|upright|trái|Nguyễn Văn Thiệu thăm hỏi sức khỏe hai người cao tuổilão trong chuyến thị sát tại tỉnh Phước&nbsp;Long]]
Ngay từ khi trở thành quốc trưởng vào năm 1965, Nguyễn Văn Thiệu đã dành nhiều sự chú ý tới vấn đề nông thôn, tuyên bố rằng "đất đai phải thuộc về người trồng cấy".{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2017}} Tháng 1 năm 1967, ông chọn An Giang làm nơi thí điểm mô hình cải cách điền địa mới. Sau [[Sự kiện Tết Mậu Thân]] năm 1968, vì một vùng nông thôn rộng lớn đã thuộclọt dưới quyền kiểm soát của [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]], giới lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa chú ý đến việc giành lại đất đai ở nông thôn.{{sfnp|Cao Văn Thân|2019|p=96–98}}{{sfnp|Trần Hữu Đính|1993|p=13}} Trong hội nghị giữa [[Richard Nixon]] và Nguyễn Văn Thiệu tại đảo Midway vào tháng 6 năm 1969, vấn đề nông thôn và cải cách điền địa cũng được đưa ra mổ xẻ bên cạnh chương trình [[Việt Nam hóa chiến tranh]]. Chương trình cải cách điền địa được ước tính sẽ tốn 400 triệu đô la Mỹ trong 10 năm,{{sfnp|Cao Văn Thân|2019|p=101}} phía Hoa Kỳ hứa sẽ viện trợ Việt Nam Cộng hòa 40 triệu đô la Mỹ để thực hiện chương trình này.{{sfnp|Lâm Quang Huyên|2002|p=128}}
 
Ngày 26 tháng 3 năm 1970, Nguyễn Văn Thiệu ký sắc lệnh ban hành luật "[[Người cày có ruộng (luật)|Người cày có ruộng]]", ứng dụng các yếu tố cơ bản của mô hình thí nghiệm năm 1967, và gọi ngày hôm đó là "là ngày vui sướng nhất trong đời".{{sfnp|Prosterman|1970|p=751, 761}} Chương trình Người cày có ruộng được nhiều quan sát viên quốc tế đánh giá là một trong những chương trình cải cách ruộng đất thành công nhất ở các nước đang phát triển.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2005|loc=Chương 5}} Tờ ''Washington Evening Star'' gọi đó là "tin tức tốt đẹp nhất đến từ Việt Nam kể từ khi kết thúc sự chiếm đóng của người Nhật", còn tờ ''[[The New York Times|New York Times]]'' cho rằng "Có lẽ đây là cuộc cải cách ruộng đất không cộng sản mang nhiều tham vọng và tiến bộ nhất của thế kỷ 20".{{sfnp|Prosterman|1970|p=751}}{{sfnp|Võ Văn Sen|1995|p=109}} Rút kinh nghiệm từ cuộc [[Cải cách điền địa (Việt Nam Cộng hòa)#Cải cách lần 1 (Thời Đệ nhất Cộng hòa)|cải cách điền địa trước đó]] dưới thời [[Ngô Đình Diệm]], chương trình Người cày có ruộng không nhằm vào việc phục hồi tầng lớp địa chủ, mà hướng tới việc xóa bỏ chế độ tá canh, thực hiện việc cấp không ruộng đất cho nông dân, qua đó hướng tới tới mục tiêu là tạo ra một tầng lớp trung nông và tư sản nông thôn mới.{{sfnp|Trần Hữu Đính|1993|p=13–14}} Trong 3 năm thực hiện, 1970–1973, chương trình này đã tạo ra một tầng lớp tiểu nông đông đảo, thúc đẩy kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp phát triển.{{sfnp|Trần Hữu Đính|1993|p=17}} Nông dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất và năng suất lúa gạo tăng lên, đời sống của nhân dân vùng quê được cải thiện.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2017}}
Năm 1971, Việt Nam Cộng hòa tổ chức bầu cử tổng thống một lần nữa.{{sfnp|Minh Tân|1971|p=1, 3}}{{sfnp|Đặng Văn Sung|1971|p=1, 11}} Để nắm chắc phần thắng, Nguyễn Văn Thiệu tìm mọi cách giới hạn số người ra ứng cử.{{sfnp|Lovell|2013|p=198}} Do đó, hai đối thủ đáng chú ý nhất còn lại của ông trong cuộc bầu cử năm 1971 chỉ còn Phó Tổng thống [[Nguyễn Cao Kỳ]] và Đại tướng [[Dương Văn Minh]].{{sfnp|Berman|2001|p=92}} Trước thềm bầu cử, ông Kỳ cáo buộc ông Thiệu dung túng tham nhũng và chỉ trích những sai lầm chiến lược dẫn tới [[Chiến dịch Lam Sơn 719|Cuộc hành quân Hạ Lào]] thảm họa đầu năm 1971.{{sfnp|Lovell|2013|p=192}} Về phần Hoa Kỳ, họ bày tỏ thái độ ủng hộ Nguyễn Văn Thiệu, cho rằng ông chính là một "[[nhà lãnh đạo mạnh mẽ]]" mà Việt Nam Cộng hòa đang cần.{{sfnp|Lovell|2013|p=200–201}} Dương Văn Minh mong muốn đàm phán hòa bình với [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] và bị cho là quá "yếu đuối".{{sfnp|Lovell|2013|p=194}} Nguyễn Cao Kỳ tuy tuyên bố sẽ tiến hành Bắc phạt nếu đắc cử, song ông bày tỏ thái độ lạnh nhạt với Hoa Kỳ và muốn họ phải rời khỏi Việt Nam hoàn toàn vào cuối năm 1972, đầu năm 1973.{{sfnp|Lovell|2013|p=192–93}} Cho rằng những đối thủ của ông Thiệu đi ngược lại lợi ích của Hoa Kỳ, một số quan chức Mỹ đã bí mật hậu thuẫn kinh tế cho chiến dịch tái tranh cử của vị tổng thống đương nhiệm.{{sfnp|Lovell|2013|p=188}}
 
Nguyễn Văn Thiệu đứng chung liên danh cùng [[Trần Văn Hương]] – đối thủ của ông trong đợt bầu cử năm 1967.{{sfnp|Chánh Trinh|2004|p=226}} Lo ngại bị chia phiếu với ông Kỳ, ông Thiệu lợi dụng quyền kiểm soát Thượng viện và Hạ viện để áp đặt luật bầu cử mới, yêu cầu ứng cử viên phải được một số dân biểu nhất định ký tên giới thiệu, qua đó loại bỏ người này ra khỏi cuộc đua.{{sfnp|Lovell|2013|p=199}} Như vậy, danh sách ứng cử viên tổng thống chỉ còn mỗi Nguyễn Văn Thiệu và Dương Văn Minh.{{sfnp|Chánh Trinh|2004|p=217}} Tuy nhiên, do cho rằng ông Thiệu đã bố trí guồng máy gian lận kết quả, ông Minh tuyên bố rút tư cách ứng cử viên.{{sfnp|Lovell|2013|p=200}} Trước nguy cơ "tự tranh cử với chính mình", ông Thiệu tìm cách đưa ông Kỳ trở lại cuộc đua, song người này từ chối và tuyên bố tẩy chay đợt bầu cử.{{sfnp|Lovell|2013|p=202}} Nhà Trắng tuy không hài lòng với cuộc bầu cử thiếu tính cạnh tranh tại miền Nam Việt Nam, nhưng không có hành động nào để can thiệp vào chuyện nội bộ nước này.{{sfnp|Lovell|2013|p=203, 205}} Là người duy nhất tham gia tranh cử, Nguyễn Văn Thiệu dễ dàng tái đắc cử với 94% số phiếu vào ngày 3 tháng 10.{{sfnp|Penniman|1972|p=126–46}}{{sfnp|FitzGerald|2002|p=528}} Được xem là một cuộc "bầu cử độc diễn",{{sfnp|Lovell|2013|p=17}} đợt bầu cử năm 1971 đã đặt dấu chấm hết hoàn toàn cho cuộc thử nghiệm lập hiến và nền chính trị đa nguyên ở miền Nam Việt Nam vốn từng được xem là đầy hứa hẹn vào năm 1967.{{sfnp|Fear|2017}}
 
Là người duy nhất tham gia tranh cử, Nguyễn Văn Thiệu dễ dàng tái đắc cử với 94% số phiếu vào ngày 3 tháng 10.{{sfnp|Penniman|1972|p=126–46}}{{sfnp|FitzGerald|2002|p=528}} Được xem là một cuộc "bầu cử độc diễn",{{sfnp|Lovell|2013|p=17}} đợt bầu cử năm 1971 đã đặt dấu chấm hết hoàn toàn cho cuộc thử nghiệm lập hiến và nền chính trị đa nguyên ở miền Nam Việt Nam vốn từng được xem là đầy hứa hẹn vào năm 1967.{{sfnp|Fear|2017}}
 
== Nhiệm kỳ tổng thống thứ hai (1971–1975) ==
Mùa thu năm 1972, Nguyễn Văn Thiệu ra sắc lệnh cho phép bắt giữ không qua xét xử bất kỳ người nào bị nghi ngờ mắc các tội như tham gia tổ chức cộng sản, giết người, đầu hàng, nổi loạn hoặc hiếp dâm.{{sfnp|Lovell|2013|p=250}} Vào thời điểm [[Hiệp định Paris]] được ký kết vào đầu năm 1973, ông Thiệu công khai là đang giam cầm 32.000 tù nhân chính trị, nhưng CIA ước tính con số thực tế phải lên tới 40.000.{{sfnp|Lovell|2013|p=250–51}} Để biện minh cho những hành động của mình, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trước dư luận quốc tế rằng "dân chủ chỉ là một phát minh của Tây phương" và không nên áp dụng lên một xã hội phương Đông. Ông Thiệu cũng ban hành một nghị định mới, mạnh tay xử lý vấn nạn tham nhũng và buôn lậu ma túy. Bất kỳ ai bị bắt giữ vì buôn ma túy, cướp đường phố, cướp có vũ trang, hiếp dâm hoặc môi giới mại dâm đều phải đối mặt với án tử hình.{{sfnp|Lovell|2013|p=252}} Bất chấp sự phản đối mạnh mẽ từ công chúng Việt Nam và Hoa Kỳ, Nhà Trắng vẫn ủng hộ quyết định của ông Thiệu và cho rằng một biện pháp mạnh mẽ hoặc cực đoan là cần thiết để có thể giữ vững sự ổn định cũng như bảo vệ Việt Nam Cộng hòa trước những cuộc tấn công của Quân Giải phóng.{{sfnp|Lovell|2013|p=253}}
 
=== Thân cô thế cô ===
Tuy vậy, chính vợ của ông Thiệu là bà Mai Anh lại có dính líu đến nhiều hoạt động buôn lậu với sự hỗ trợ từ Quân lực VNCH. Năm 1974, một vụ buôn lậu của bà Mai Anh bị phát hiện, trị giá lô hàng gồm nhiều thứ xa xỉ phẩm hàng hiệu, trị giá khoảng 600 triệu đồng tiền Việt Nam Cộng hòa thời bấy giờ (tương đương 3 triệu USD thời giá năm 1974, hoặc 20 triệu USD thời giá năm 2017). Những người phát hiện vụ việc thay vì được khen thưởng đã bị tống giam, trong khi không có ai đứng đầu tổ chức buôn lậu này bị xét xử.<ref>{{Chú thích web | url = http://www.nguoiduatin.vn/t7-bi-mat-ve-vu-buon-lau-cua-de-nhat-phu-nhan-tong-thong-nguyen-van-thieu-chan-dong-sai-gon-ky-1-nup-bong-trung-tam-bao-tro-xa-hoi-a85903.html | tiêu đề = (T7) Bí mật về vụ buôn lậu của Đệ Nhất phu nhân Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chấn động Sài Gòn | tác giả = | ngày = | ngày truy cập = 2 tháng 10 năm 2015 | nơi xuất bản = Báo điện tử Người đưa tin | ngôn ngữ = }}</ref><ref>{{Chú thích web | url = http://www.doisongphapluat.com/phap-1uat/ho-so-vu-an/vu-buon-1au-cua-de-nhat-phu-nhan-chan-dong-sai-gon-ky-cuoi-a2640.html | tiêu đề = Vụ buôn lậu của Đệ Nhất phu nhân chấn động Sài Gòn (Kỳ cuối) | tác giả = | ngày = | ngày truy cập = 2 tháng 10 năm 2015 | nơi xuất bản = Báo đời sống & pháp luật Online | ngôn ngữ = }}</ref>
 
=== Hiệp định Paris ===
{{xem thêm|Hiệp định Paris}}
[[Tập tin:President Nixon escorts Nguyen Van Thieu, President of the Republic of Vietnam, to his car outside the Administrative... - NARA - 194498 (cropped).tif|trái|upright|nhỏ|Nguyễn Văn Thiệu và [[Richard Nixon]] tại [[San Clemente, California]] vào tháng 4 năm 1973]]
Ngày 27 tháng 1 năm 1973, [[Hiệp định Paris]] được ký kết, chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Nguyễn Văn Thiệu không ủng hộ cuộc đàm phán hòa bình này và chỉ chấp nhận ký kết hiệp định một cách miễn cưỡng dưới sức ép từ phía Washington.{{sfnp|Lovell|2013|p=278}} Ông chỉ trích [[Ngoại trưởng Hoa Kỳ]] [[Henry Kissinger]] "ham [[Giải Nobel Hòa bình|Giải Nobel]]" và để cho Hà Nội "chơi xỏ" ông.{{sfnp|Lovell|2013|p=265–266}} Những đơn vị [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]] được phép ở lại trong lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa, nhanh chóng chứng minh là một mối đe dọa lớn về mặt an ninh đối vớicủa Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Lovell|2013|p=279}}
Ngày 12 tháng 11 năm 1968, [[Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ]] [[Clark Clifford]] công khai cảnh cáo Nguyễn Văn Thiệu rằng nếu ông không tham dự Hòa đàm Paris, Hoa Kỳ sẽ hành động một mình và "không cần đến ông", ẩn ý rằng [[Hoa Kỳ]] có thể gây đảo chính lật đổ Nguyễn Văn Thiệu. Tác giả Seymour Hersh cho hay rằng sau cuộc bầu cử 1968, chính [[Henry Kissinger|Kissinger]] đã báo động cho phía [[Nixon]] về mưu đồ của Clark Clifford và cảnh báo: ''"Nếu ông Thiệu chịu chung một số phận với ông [[Ngô Đình Diệm|Diệm]] thì tất cả các dân tộc trên [[thế giới]] sẽ nghĩ rằng làm kẻ thù của [[Hoa Kỳ|Mỹ]] có thể là nguy hiểm, chứ làm bạn với [[Mỹ]] chắc chắn là [[chết]]"''<ref>{{Chú thích web | url = http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=147241&z=380 | tiêu đề = Khi Ðồng Minh Tháo Chạy | tác giả = | ngày = | ngày truy cập = 2 tháng 10 năm 2015 | nơi xuất bản = Người Việt | ngôn ngữ = }}</ref>.
 
Không lâu sau khi Hiệp định Paris được ký kết, lệnhQuân ngừngGiải bắnphóng trởbắt nênđầu vi hiệuphạm lệnh haingừng bênbắn và cố gắng chiếm thêm lãnh thổ, dẫn đến những trận đánh lớn giữa quân đội hai bên. Cuối năm 1973, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21, [[Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam]] ban hành Nghị quyết 21, kêu gọi "đấu tranh quân sự" tại miền Nam Việt Nam để "giành dân, giành quyền làm chủ" và thăm dò phản ứng của Sài Gòn và Washington.{{sfnp|Willbanks|2004|p=210}} Năm 1974, Quân Giải phóng tiến hành các cuộc tấn công vào hai tỉnh [[Quảng Đức (tỉnh)|Quảng Đức]] và [[Biên Hoà (tỉnh)|Biên Hòa]], gây thiệt hại lớn cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Willbanks|2004|p=197}} Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã không có động thái đáp trả nào trước những hành động vi phạm Hiệp định Paris của Quân Giải phóng.{{sfnp|Willbanks|2004|p=213}}
Nguyễn Văn Thiệu phản đối quyết liệt việc [[Mỹ]] ký kết [[Hiệp định Paris 1973|Hiệp định Paris]] vào lúc đó, vì theo ông các điều khoản trong Hiệp định sẽ làm cho quân Giải phóng có được lợi thế đáng kể. Theo quyển ''Võ Nguyên Giáp - Tổng tập hồi ký'' của đối phương thì hãng [[AP]] dẫn lời của Nguyễn Văn Thiệu vào tháng 8 năm 1972 kêu gọi [[Mỹ]] ''"hãy ném bom tan nát [[Miền Bắc (Việt Nam)|miền Bắc Việt Nam]]"''. Cuối cùng, Mỹ đã thực hiện mong muốn đó của ông bằng [[chiến dịch Linebacker II]], huy động 200 chiếc [[B 52|B-52]] ném bom trải thảm [[Miền Bắc (Việt Nam)|miền Bắc Việt Nam]] suốt 12 ngày đêm. Cuốn hồi ký của [[Võ Nguyên Giáp]] cũng dẫn bài trên báo Nhân đạo ([[L'humanité]]) của [[Pháp]] bình luận rằng: ''"Ngay cả trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai]], những viên tướng Pháp phản bội cũng không dám đề nghị đồng minh của chúng ([[Đức Quốc xã]]) tàn phá [[Paris]] (để ngăn quân Anh-Mỹ). Thế mà nay Thiệu lại muốn Mỹ ném bom tàn phá đất nước mình. Thiệu thật đáng xấu hổ hơn cả sự xấu hổ"''<ref>Võ Nguyên Giáp - Tổng tập hồi ký. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân 2011. Trang 1148</ref> Cuối cùng, [[chiến dịch Linebacker II]] đã thất bại và [[Hoa Kỳ|Mỹ]] đã chấp nhận ký [[Hiệp định Paris 1973|Hiệp định Paris]] với những điều khoản có lợi cho quân Giải phóng.
 
Nguyễn Văn Thiệu vẫn giữ vững lập trường đối nghịch với Hiệp định Paris thông qua chính sách "Bốn không":{{sfnp|Willbanks|2004|p=213}} không thương lượng với cộng sản; không có hoạt động của cộng sản hoặc phe đối lập ở phía nam [[Khu phi quân sự vĩ tuyến 17]] (DMZ); không chính phủ liên hiệp; và không nhường một tấc đất nào, một thôn ấp nào cho cộng sản.{{sfnp|Willbanks|2004|p=193}} Ông Thiệu vẫn tiếp tục đặt niềm tin vào người Mỹ, cho rằng họ sẽ giữ lời và sẽ can thiệp bằng không quân ở Việt Nam trong trường hợp quânphe Giảicộng phóngsản vi phạm nghiêm trọng hiệp định Paris.{{sfnp|Willbanks|2004|p=202}}
Trong bản ghi âm được giải mật sau này về cuộc trao đổi giữa Tổng thống Mỹ [[Richard Nixon]] và ngoại trưởng [[Henry Kissinger]], Nixon nói rõ việc ông quyết định sẽ bỏ mặc "đứa con" Việt Nam Cộng hòa để có thể thoát khỏi cuộc chiến ở Việt Nam<ref>Phim tài liệu "The Vietnam war". PBS, 2017. Tập 9</ref>
 
Tuy nhiên, vào ngày 1 tháng 7 năm 1973, [[Quốc hội Hoa Kỳ]] đã thông qua đạo luật ngăn cấm mọi hoạt động chiến sự – cả trên không lẫn mặt đất – của quân đội nước này tại cả ba nước Đông Dương.{{sfnp|Willbanks|2004|p=195}} Ngày 25 tháng 10 năm 1973, [[Richard Nixon]] phủ quyết [[:en:War Powers Resolution|Dự luật Quyền hạn Chiến tranh]], cho rằng đạo luật này áp đặt "các hạn chế vi hiến và nguy hiểm" đối với thẩm quyền của tổng thống. Tuy nhiên, vào ngày 7 tháng 11 năm 1973, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua dự luật trên, bất chấp sự phủ quyết của tổng thống Nixon.{{sfnp|Willbanks|2004|p=195}} Trong hai năm 1973–74, viện trợ của Hoa Kỳ giảm hơn 50%, xuống còn 965 triệu đô la Mỹ.{{sfnp|Jones|2003|p=125}} Bất chấp những khó khăn chính trị mà Nixon đang phải đối mặt và mối quan hệ căng thẳng giữa ông ta và Quốc hội Hoa Kỳ về vấn đề Việt Nam,{{sfnp|Willbanks|2004|p=195–96}} Nguyễn Văn Thiệu và hầu hết các nhà lãnh đạo Sài Gòn lúc bấy giờ vẫn lạc quan về hoạt động viện trợ của Hoa Kỳ.{{sfnp|Willbanks|2004|p=202}} Theo Trung tướng [[Đồng Văn Khuyên]] thì ''"giới lãnh đạo Sài Gòn vẫn tiếp tục tin rằng Hoa Kỳ sẽ can thiệp bằng không quân ngay cả khi Quốc hội Hoa Kỳ đã ngăn cấm tuyệt đối [điều này] … Họ đã tự lừa dối bản thân mình."''{{sfnp|Đồng Văn Khuyên|1979|p=387}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=217}}
::''[[Henry Kissinger]]: Tôi nghĩ Thiệu nói đúng đấy. Hiệp định (Paris) đó sẽ đẩy [[Việt Nam Cộng hòa]] vào thế nguy hiểm''
::''[[Richard Nixon]]: Nó ([[Việt Nam Cộng hòa]]) phải tự chống đỡ thôi... Nếu nó chết thì cứ để cho nó chết. Nó lớn rồi, chúng ta không thể cứ cho nó bú mớm mãi được.''
 
Năm 1974, trong khoảng thời gian [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]] nghỉ ngơi để phục hồi sức mạnh chiến đấu, Nguyễn Văn Thiệu quyết định chớp thời cơ tiến hành phản kích. Ông đã kéo giãn lực lượng bằng cách tung ra các đòn tấn công giành lại phần lớn lãnh thổ mà Quân Giải phóng chiếm được trong các chiến dịch năm 1973 và giành lại 15% tổng diện tích đất do quânphe Giảicộng phóngsản kiểm soát vào thời điểm Hiệp định Paris đi vào hiệu lực.{{sfnp|Willbanks|2004|p=199}} Tháng 4 năm 1974, Nguyễn Văn Thiệu phát động tấn công vào khu vực căn cứ địa của Quân Giải phóng tại tỉnh [[Svay Rieng (tỉnh)|Svay Rieng]], Campuchia, giáp ranh với [[Tây Ninh]]. Chiến dịch Svay Rieng là cuộc hành quân tấn công lớn cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tuy giành thắng lợi song chiến dịch này gây tổn thất lớn về mặt nhân lực và vật lực đối với Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Willbanks|2004|p=200–01}} Đến cuối năm 1974, trong khi Quân lựcđội Việtmiền Nam Cộng hòa dần rơi vào tình cảnh thiếu thốn trang thiết bị do Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ quân sựviện,{{sfnp|Willbanks|2004|p=202–08}} thì quân Giảiđội phóngmiền Bắc ngày càng tăng cường sức mạnh vũ trang của mình.{{sfnp|Willbanks|2004|p=206}}
Ngày 27 tháng 1 năm 1973, [[Hiệp định Paris]] được ký kết, chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Nguyễn Văn Thiệu không ủng hộ cuộc đàm phán hòa bình này và chỉ chấp nhận ký kết hiệp định một cách miễn cưỡng dưới sức ép từ phía Washington.{{sfnp|Lovell|2013|p=278}} Ông chỉ trích [[Ngoại trưởng Hoa Kỳ]] [[Henry Kissinger]] "ham [[Giải Nobel Hòa bình|Giải Nobel]]" và để cho Hà Nội "chơi xỏ" ông.{{sfnp|Lovell|2013|p=265–266}} Những đơn vị [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]] được phép ở lại trong lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa, nhanh chóng chứng minh là một mối đe dọa lớn về mặt an ninh đối với Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Lovell|2013|p=279}}
 
=== Những ngày nắm quyền cuối cùng ===
Không lâu sau khi Hiệp định Paris được ký kết, lệnh ngừng bắn trở nên vô hiệu và hai bên cố gắng chiếm thêm lãnh thổ, dẫn đến những trận đánh lớn giữa quân đội hai bên. Cuối năm 1973, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21, [[Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam]] ban hành Nghị quyết 21, kêu gọi "đấu tranh quân sự" tại miền Nam Việt Nam để "giành dân, giành quyền làm chủ" và thăm dò phản ứng của Sài Gòn và Washington.{{sfnp|Willbanks|2004|p=210}} Năm 1974, Quân Giải phóng tiến hành các cuộc tấn công vào hai tỉnh [[Quảng Đức (tỉnh)|Quảng Đức]] và [[Biên Hoà (tỉnh)|Biên Hòa]], gây thiệt hại lớn cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Willbanks|2004|p=197}} Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã không có động thái đáp trả nào trước những hành động vi phạm Hiệp định Paris của Quân Giải phóng.{{sfnp|Willbanks|2004|p=213}}
 
Nguyễn Văn Thiệu vẫn giữ vững lập trường đối nghịch với Hiệp định Paris thông qua chính sách "Bốn không":{{sfnp|Willbanks|2004|p=213}} không thương lượng với cộng sản; không có hoạt động của cộng sản hoặc phe đối lập ở phía nam [[Khu phi quân sự vĩ tuyến 17]] (DMZ); không chính phủ liên hiệp; và không nhường một tấc đất nào, một thôn ấp nào cho cộng sản.{{sfnp|Willbanks|2004|p=193}} Ông Thiệu vẫn tiếp tục đặt niềm tin vào người Mỹ, cho rằng họ sẽ giữ lời và sẽ can thiệp bằng không quân ở Việt Nam trong trường hợp quân Giải phóng vi phạm nghiêm trọng hiệp định Paris.{{sfnp|Willbanks|2004|p=202}}
 
Tuy nhiên, vào ngày 1 tháng 7 năm 1973, [[Quốc hội Hoa Kỳ]] đã thông qua đạo luật ngăn cấm mọi hoạt động chiến sự – cả trên không lẫn mặt đất – của quân đội nước này tại cả ba nước Đông Dương.{{sfnp|Willbanks|2004|p=195}} Ngày 25 tháng 10 năm 1973, [[Richard Nixon]] phủ quyết [[:en:War Powers Resolution|Dự luật Quyền hạn Chiến tranh]], cho rằng đạo luật này áp đặt "các hạn chế vi hiến và nguy hiểm" đối với thẩm quyền của tổng thống. Tuy nhiên, vào ngày 7 tháng 11 năm 1973, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua dự luật trên, bất chấp sự phủ quyết của tổng thống Nixon.{{sfnp|Willbanks|2004|p=195}} Trong hai năm 1973–74, viện trợ của Hoa Kỳ giảm hơn 50%, xuống còn 965 triệu đô la Mỹ.{{sfnp|Jones|2003|p=125}} Bất chấp những khó khăn chính trị mà Nixon đang phải đối mặt và mối quan hệ căng thẳng giữa ông ta và Quốc hội Hoa Kỳ về vấn đề Việt Nam,{{sfnp|Willbanks|2004|p=195–96}} Nguyễn Văn Thiệu và hầu hết các nhà lãnh đạo Sài Gòn lúc bấy giờ vẫn lạc quan về hoạt động viện trợ của Hoa Kỳ.{{sfnp|Willbanks|2004|p=202}} Theo Trung tướng [[Đồng Văn Khuyên]] thì ''"giới lãnh đạo Sài Gòn vẫn tiếp tục tin rằng Hoa Kỳ sẽ can thiệp bằng không quân ngay cả khi Quốc hội Hoa Kỳ đã ngăn cấm tuyệt đối [điều này] … Họ đã tự lừa dối bản thân mình."''{{sfnp|Đồng Văn Khuyên|1979|p=387}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=217}}
 
Năm 1974, trong khoảng thời gian [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]] nghỉ ngơi để phục hồi sức mạnh chiến đấu, Nguyễn Văn Thiệu quyết định chớp thời cơ tiến hành phản kích. Ông đã kéo giãn lực lượng bằng cách tung ra các đòn tấn công giành lại phần lớn lãnh thổ mà Quân Giải phóng chiếm được trong các chiến dịch năm 1973 và giành lại 15% tổng diện tích đất do quân Giải phóng kiểm soát vào thời điểm Hiệp định Paris đi vào hiệu lực.{{sfnp|Willbanks|2004|p=199}} Tháng 4 năm 1974, Nguyễn Văn Thiệu phát động tấn công vào khu vực căn cứ địa của Quân Giải phóng tại tỉnh [[Svay Rieng (tỉnh)|Svay Rieng]], Campuchia, giáp ranh với [[Tây Ninh]]. Chiến dịch Svay Rieng là cuộc hành quân tấn công lớn cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tuy giành thắng lợi song chiến dịch này gây tổn thất lớn về mặt nhân lực và vật lực đối với Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Willbanks|2004|p=200–01}} Đến cuối năm 1974, trong khi Quân lực Việt Nam Cộng hòa dần rơi vào tình cảnh thiếu thốn trang thiết bị do Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ quân sự,{{sfnp|Willbanks|2004|p=202–08}} thì quân Giải phóng ngày càng tăng cường sức mạnh vũ trang của mình.{{sfnp|Willbanks|2004|p=206}}
 
=== Những ngày nắm quyền cuối cùng ===
{{chính|Chiến dịch Mùa Xuân 1975}}
==== Thất thế ====
{{chính|Chiến dịch Đường 14 – Phước Long|Chiến dịch Tây Nguyên}}
[[Tập tin:President Nguyen Van Thieu (South Vietnam) and world map - NARA - 192502.tif|250px|nhỏ|Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bên tấm bản đồ thế giới.]]
Cuối năm 1974, Hoa Kỳ ước tính [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]] có 370.000 quân bố trí trên toàn lãnh thổ miền Nam.{{sfnp|Willbanks|2004|p=232}} Họ đồng thời nhận được nguồn cung ứng khí tài quân sự dồi dào từ miền Bắc.{{sfnp|Willbanks|2004|p=209}} Ngày 12 tháng 12, Quân Giải phóng [[Chiến dịch Đường 14 – Phước Long|phát động tấn công]] [[Phước Long (tỉnh)|tỉnh Phước Long]], mục đích thăm dò phản ứng của quốc tế, nhất là của Hoa Kỳ, nhằm chuẩn bị cho việc triển khai những kế hoạch tiếp theo.<ref name="Phước Long">{{harvnb|Phạm Huy Dương|Phạm Bá Toàn|2005|p=320}}</ref> Họ nhanh chóng chiếm ưu thế, vây xiết lực lượng [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]] tại Phước Long.{{sfnp|Hồ Khang|Trần Tiến Hoạt|Nguyễn Xuân Năng|Nguyễn Văn Quyền|Lê Văn Lạng|2013|p=217}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=222–25}}
 
Ngày 2 tháng 1 năm 1975, Tổng thống Thiệu chủ tọa một cuộc họp khẩn cấp với Trung tướng [[Dư Quốc Đống]], người phụ trách tình hình Phước Long, cùng một số sĩ quan cấp cao khác. Tướng Đống trình bày kế hoạch giải vây Phước Long nhưng bị từ chối do Quân lực Việt Nam Cộng hòa khi đó thiếu khả năng không vận và không còn đủ quân dựtrừ bị để tăng viện.{{sfnp|Willbanks|2004|p=222–25}}{{sfnp|Hồ Khang|Trần Tiến Hoạt|Nguyễn Xuân Năng|Nguyễn Văn Quyền|Lê Văn Lạng|2013|p=219}} Trên thực tế thì vào lúc đó, các thành viên bộ chỉ huy đều có chung suy nghĩ là quân phòng thủ không thể cầm cự đủ lâu để đợi quân tiếp viện.{{sfnp|Cao Văn Viên|1983|p=63–64}} Trước tình thế bất lợi, ông Thiệu quyết định bỏnhượng toàn bộ tỉnh này cho quân Giảicộng phóngsản, vì nó được xem là kém quan trọng hơn [[Tây Ninh]], [[Pleiku]], hoặc [[Thừa Thiên Huế|Huế]] cả về mặt kinh tế, chính trị lẫn nhân khẩu.{{sfnp|Willbanks|2004|p=225}} Ngày 6 tháng 1 năm 1975, Phước Long thất thủ, trở thành tỉnh lỵ đầu tiên ở miền Nam hoànvĩnh toànviễn rơi vào tay Quân Giải phóng.{{sfnp|Willbanks|2004|p=226}}
 
Nhận thấy sự suy yếu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa khi không đủ khả năng phản kích chiếm lại những vùng đã mất, hay quan trọng hơn cả là Hoa Kỳ sẽ không can thiệp quân sự ở miền Nam,{{sfnp|Hồ Khang|Trần Tiến Hoạt|Nguyễn Xuân Năng|Nguyễn Văn Quyền|Lê Văn Lạng|2013|p=220}}<ref name="Phước Long"/> giới lãnh đạo Hà Nội quyết định phát động [[Chiến dịch Tây Nguyên]] nhắm vào khu vực [[Cao nguyên Trung phần]].{{sfnp|Willbanks|2004|p=228}} Quân Giải phóng chọn Thị xã [[Buôn Ma Thuột]]{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=48–50}} làm mục tiêu then chốt mở màn Chiến dịch Tây Nguyên vì đây là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Việt Nam Cộng hòa tại Cao nguyên Trung phần.{{sfnp|Hồ Khang|Trần Tiến Hoạt|Nguyễn Xuân Năng|Nguyễn Văn Quyền|Lê Văn Lạng|2013|p=214}} Tư lệnh Quân Giải phóng là Đại tướng [[Văn Tiến Dũng]] bố trí nghi binh ở khu vực bắc Cao nguyên khiến Thiếu tướng [[Phạm Văn Phú]], chỉ huy [[Quân đoàn II (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn II Việt Nam Cộng hòa]], phải chuyển một phần binh lực tới [[Pleiku]] và [[Kon Tum]] để đối phó, dẫn tới phòng thủ ởcánh Buôn Ma Thuột bị sơ hở.{{sfnp|Davidson|1991|p=770–72}}{{sfnp|Hồ Khang|Trần Tiến Hoạt|Nguyễn Xuân Năng|Nguyễn Văn Quyền|Lê Văn Lạng|2013|p=250–51}} Quân Giải phóng lúc này bí mật di chuyển lực lượng lớn về phía Nam, qua đó áp đảo quân phòng thủ Buôn Ma Thuột với tỷ lệ 8 trên 1.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=49}} Ngày 10 tháng 3 năm 1975, trận Buôn Ma Thuột bắt đầu và kết thúc chỉ sau vỏn vẹn 8 ngày.{{sfnp|Willbanks|2004|p=234, 238}}
 
Ngày 18 tháng 3 năm 1975, Quân Giải phóng giành hoàn toàn quyền kiểm soát tỉnh Đắk Lắk.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=51}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=238}} Các lực lượng Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng di chuyển về phía đông nhằm ngăn chặn Quân Giải phóng đánh xuống các tỉnh vùng duyên hải Nam Trung Bộ.{{sfnp|Willbanks|2004|p=240}}{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=63}} Trước bước tiến mạnh mẽ của quân Giảicộng phóngsản, Tổng thống Thiệu đã cử một phái đoàn đến Washington D.C. vào đầu tháng 3 năm 1975, đề nghị Hoa Kỳ tăng viện trợ quân sự khẩn cấp. Đại sứ Hoa Kỳ [[Graham Martin]] cũng bay tới Washington để trình bày vụ việc với Tổng thống [[Gerald Ford]]. Trước tình hình ngày càng trở nên vô vọng đối với Việt Nam Cộng hòa, Quốc hội Hoa Kỳ thể hiện thái độ miễn cưỡng và chỉ thông qua một ngân khoản viện trợ trị giá 700 triệu đô la Mỹ so với con số 1,45 tỷ được đề xuất ban đầu.{{sfnp|Isaacs|1983|p=314}} Tuy vậy, chính quyền Ford tiếp tục khuyến khích ông Thiệu hãy giữ vững lòng tin với người Mỹ.{{sfnp|Isaacs|1983|p=320}}
 
Trong khoảng thời gian này, trước áp lực ngày một gia tăng, Nguyễn Văn Thiệu càng lúc càng trở nên đa nghi và hoang tưởng hơn trước. Theo Tiến sĩ [[Nguyễn Tiến Hưng]], một trong những phụ tá thân cận nhất của tổng thống, thì ông Thiệu ''"luôn đề phòng một cuộc đảo chính lật đổ mình."''{{sfnp|Willbanks|2004|p=229}} Ông tuyên bố rằng ''"trong tình hình chính trị Việt Nam, phải cẩn thận ngay cả với dấu chấm, dấu phẩy."''{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=351}} Chính sự tự cô lập bản thân này khiến Nguyễn Văn Thiệu thường từ chối "sự cộng tác của nhiều người giỏi, công việc tham mưu xứng đáng, tham khảo ý kiến và hợp tác."{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=351–52}} Ông hiếm khi trao đổi cùng các tướng và thành viên ban tham mưu, sẵn sàng ra tay triệt hạ những người tài nếu thấy họ có thể lấn át mình.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=352}} Các sĩ quan trung thành đều chấp hành nghiêm ngặt mệnh lệnh từ ông Thiệu, đồng ý để ông "đưa ra mọi quyết định về cách thức tiến hành cuộc chiến".{{sfnp|Willbanks|2004|p=235}}{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=53}}
 
==== Triệt thoái Cao nguyên Trung phần ====
[[Tập tin:HCMC3.jpg|thumb|trái|upright|Bản đồ tái phối trí lực lượng của Tổng thống Thiệu]]
Ngày 11 tháng 3 năm 1975, sau khi kết luận rằng không còn hy vọng nhận được gói viện trợ quân sựviện trị giá 300 triệu đô la Mỹ từ Hoa Kỳ,{{sfnp|Willbanks|2004|p=232}}{{sfnp|Cao Văn Viên|1983|p=76}} Nguyễn Văn Thiệu đã cho mời ba cố vấn quân sự thân cận nhất của mình là Thủ tướng [[Trần Thiện Khiêm]], Đại tướng [[Cao Văn Viên]] và Trung tướng [[Đặng Văn Quang (tướng)|Đặng Văn Quang]] đến [[Dinh Độc Lập]] để họp.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=51}}{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=48–49}} Sau khi phân tích tình hình, ông Thiệu lấy ra một tấm bản đồ quốc gia khổ nhỏ và bàn luận về việc tái phối trí lực lượng và "co cụm" lãnh thổ để "bảo vệ những vùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới thật sự quan trọng."{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=49}}{{sfnp|Davidson|1991|p=774}}
 
Trên bản đồ, Nguyễn Văn Thiệu khoanh vùng những khu vực mà ông cho là quan trọng nhất, trong đó bao gồm toàn bộ Vùng III và Vùng IV chiến thuật với cả thềm lục địa, nơi có những giếng dầu mới được phát hiện.{{sfnp|Davidson|1991|p=776}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=235}} Ông cũng chỉ ra những khu vực hiện đang nằm dưới sự kiểm soát của Quân Giải phóng cần phải được chiếm lại bằng mọi giá, vì đây là nơi tập trung của các nguồn tài nguyên như gạo, cao su và khu công nghiệp.{{sfnp|Willbanks|2004|p=235}} Theo ông, những khu vực này vẫn đủ để Việt Nam Cộng hòa tồn tại và phát triển thành một quốc gia riêng.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=357}} Đối với Vùng I và Vùng II chiến thuật, ông Thiệu vẽ một số vạch cắt ngang các vùng duyên hải, cho rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa nên giữ những gì có thể giữ, tùy theo khả năng, nhưng có thể rút lui về phía Nam nếu cần thiết. Đây là chiến lược mà ông Thiệu gọi là "đầu bé, đít to" – thả lỏng phần trên, giữ chặt phần dưới.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=357}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=235}}
 
Ngày 14 tháng 3 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu cùng 3 người trên bay tới Cam Ranh để gặp Thiếu tướng [[Phạm Văn Phú]], Tư lệnh Quân đoàn II.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=359}} Ông Thiệu quyết định rằng mục tiêu ưu tiêu của Quân đoàn II là tái chiếm Buôn Mê Thuột,{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=54}} cho rằng nơi này quan trọng hơn Pleiku và Kon Tum cả về mặt kinh tế lẫn nhân khẩu.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=52}} Sách lược của ông là tập trung tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của [[Quân đội nhân dân Việt Nam]], trong đó có [[Sư đoàn 320, Quân đội nhân dân Việt Nam|Sư đoàn 320]] thiện chiến chiếm giữ Buôn Ma Thuột, thay vì đối đầu với các toán du kích của Quân Giải phóng.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=360}} Nhằm tạo yếu tố bất ngờ, tướng Phú quyết định rút lui về phía biển theo Tỉnh lộ 7B, một con đường nhỏ, hư hỏng nặng, trước khi triển khai lực lượng và tiến hành chiến dịch tái chiếm Buôn Mê Thuột.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=361}}{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=54–58}}
 
Các tướng lĩnh được lệnh giữ bí mật, không được để cho phía Hoa Kỳ biết.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=60}} Cuộc rút lui quy mô lớn với hàng trăm nghìn quân nhân và thường dân được dự đoán sẽ rất nguy hiểm. Tuy nhiên, nó đã được tổ chức một cách vội vã mà không có kế hoạch cụ thể, dẫn tới sự thiếu phối hợp giữa các bên. Nhiều sĩ quan cao cấp không hề hay biết về lệnh rúttriệt quânthoái, một số đơn vị bị bỏ lại sau hoặc rút lui một cách rời rạc.{{sfnp|Davidson|1991|p=777–78}} Sự việc càng trở nên nghiêm trọng khi đoàn xe vận tải bị trễ ba ngày do cầu bị hỏng.{{sfnp|Willbanks|2004|p=239}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=242}} Quân Giải phóng được lệnh truy kích, đến ngày 18 tháng 3 năm 1975 thì đuổi kịp đoàn xe, gây ra tổn thất nghiêm trọng.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=58}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=242–43}}
 
Ngày 18 tháng 3 năm 1975, lực lượng Biệt động quân Việt Nam Cộng hòa cùng thiết xa đánh chặn vô tình bị không quân oanh tạc nhầm, phải hứng chịu thương vong lớn.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=59–60}}{{sfnp|Davidson|1991|p=778}} Lợi dụng lợi thế về mặt số lượng, Quân Giải phóng tiến hành truy kích, đánh phá đoàn di tản.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=60}} Sau 9 ngày, chỉ có 20.000 trong số tổng cộng 60.000 quân và 25% trong số 180.000 thường dân tham gia di tản đến được [[Tuy Hòa]] vào ngày 27 tháng 3.{{sfnp|Hosmer|Kellen|Jenkins|1980|p=96}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=245}} Lệnh di tản của ông Thiệu đến quá trễ đã biến cuộc triển khai này trở thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn, tạo nên một "con đường máu" cùng với cái chết hoặc sự ly tán của hơn 150.000 người.{{sfnp|Willbanks|2004|p=245}} Sau chiến thắng với tầm mức không ngờ, Quân Giải Phóng đã hoàn toàn làm chủ toàn bộ Cao nguyên Trung phần{{sfnp|Willbanks|2004|p=252–55}} trong khi chiến dịch phản công nhằm chiếm lại Buôn Ma Thuột của Quân lực Việt Nam Cộng hòa không bao giờ được hiện thực hiệnhóa sau thất bại, Quân đoàn II chỉ còn lại 25% binh lực so với ban đầu.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=63}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=243}}
 
==== Sụp đổ dây chuyền ====
}}
 
<blockquote>"…Tôi từng nói với người Mỹ:<!-- {{efn|''Người Mỹ'' mà Nguyễn Văn Thiệu đề cập ở đây là phái đoàn Quốc hội Hoa Kỳ tới Việt Nam khảo sát tình hình vào tháng 3 năm 1975}} --> Mấy ông bảo chúng tôi làm những việc mà chính mấy ông không làm được với nửa triệu lính, binh hùng tướng mạnh, xài gần 300 tỷ Mỹ kim trong 6 năm trời. Nếu [các ông] không muốn nói là bị Cộng sản đánh bại ở Việt Nam thì cũng phải nói một cách khiêm nhường là mấy ông không có thắng. Mấy ông chỉ tìm một cái lối thoát danh dự. Thì bây giờ với cái quân đội này, súng thiếu, đạn thiếu, thuốc thiếu, xăng thiếu, máy bay thiếu, không có B-52 lại bảo tôi làm cái chuyện đội đá vá trời thì có khác gì mấy ông cho tôi 3 Mỹ kim mà bảo tôi đi máy bay hạng nhất, ở phòng ngủ có giá 1 ngày 30 Mỹ kim, ăn 1 ngày 4–5 miếng thịt bò, uống 1 ngày 7-8 ly rượu. Không làm được, phi lý? […] Và mấy ông còn 1 năm nữa, mấy ông ăn [[Quốc khánh Hoa Kỳ|cái lễ 200 năm]]. Thì tôi có hỏi họ hẳn hoi là lời nói của Hoa Kỳ có còn đáng tin cậy hay không? Mà những gì mấy ông hứa có giá trị gì hay không? 300 triệu Mỹ kim có đáng gì với mấy ông? 300 triệu Mỹ kim mà so với cái chuyện mấy ông bảo tôi rằng hãy làm 1 chiến thắng, hãy ngăn chặn 1 sự xâm lăng [của Cộng sản Bắc Việt] mà mấy ông làm trong 6 năm trời không được!<br> […] Mỹ đánh không lại Cộng sản nên bỏ mặc Việt Nam Cộng hòa đánh một mình thì làm sao ăn. Có giỏi thì Mỹ vô đây lần nữa…".</blockquote>
 
Nguyễn Văn Thiệu cũng trách cứ Ngoại trưởng Hoa Kỳ [[Henry Kissinger]] vì đã ký [[Hiệp định Paris]] – một hiệp định mà Hà Nội đã vi phạm.<ref name="tel"/> Ông tuyên bố rằng người Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam Cộng hòa, cho rằng "cái bản văn hiệp định đó là bản văn Hoa Kỳ bán miền Nam Việt Nam cho cộng sản".{{sfnp|Dawson|1977|p=287–88}} Ông Thiệu cũng đổ lỗi cho các phương tiện truyền thông cả trong và ngoài nước vì liên tiếp đưa tin tham nhũng và khủng hoảng của chính phủ Sài Gòn, làm suy sụp tinh thần của quân đội và dân chúng.<ref name=Independent/> Ngay sau bài phát biểu, Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên nắm quyền tổng thống, nhưng cũng không thể cứu vãn được tình hình.{{sfnp|Willbanks|2004|p=270}} Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn, kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài 21 năm.{{sfnp|Nguyễn Ngọc Cơ|Hồ Khang|Đỗ Xuân Huy|Nguyễn Văn Minh|Nguyễn Huy Thục|Nguyễn Văn Quyền|Lê Quang Lạng|Trần Hữu Huy|Ngô Quang Chính|2013|p=21}}
{{xem thêm|16 tấn vàng của Việt Nam Cộng hòa}}
{{Wikisource|1=Quyết định ngày 25 tháng 4 năm 1975 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa|2=Quyết định ngày 25 tháng 4 năm 1975 của Tổng thống VNCH}}
Trong bài diễn văn từ chức ngày 21 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố "tôi từ chức nhưng tôi không đào ngũ" và khẳng định rằng ông sẽ tái ngũ và tiếp tục chiến đấu trong vai trò một vị tướng "kề bên anh em chiến sĩ".{{efn|Nguyên văn: "…Dù mất một Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, quân đội vẫn còn Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kề bên anh em chiến sĩ…"}}{{sfnp|Browne|1975}} Tuy nhiên, ông sau đó đã bí mật rời khỏi Sài Gòn sang [[Đài Loan]] trên một chiếc phi cơ [[Douglas DC-6|C-118]] vào đêm ngày 25–26 tháng 4 năm 1975.{{sfnp|Gibson|2018}}{{sfnp|''New York Times'', 26 tháng 4 năm 1975}} Để cho sự ra đi này được danh chính ngôn thuận, Tổng thống [[Trần Văn Hương]] đã ký nghị định đề cử hai người Nguyễn Văn Thiệu và [[Trần Thiện Khiêm]] làm đặc sứ Việt Nam Cộng hòa sang [[Đài Bắc]] phúng điếu [[Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc]] [[Tưởng Giới Thạch]], người đã qua đời vào ngày 5 tháng 4 năm 1975.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2020}}
:''"Dù mất một Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, quân đội vẫn còn Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kề bên anh em chiến sĩ…"''.{{efn|Nguyên văn: "…Dù mất một Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, quân đội vẫn còn Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kề bên anh em chiến sĩ…"}}{{sfnp|Browne|1975}}
 
Cuộc ra đi của Nguyễn Văn Thiệu và các trợ lý diễn ra dưới sự sắp xếp của Thomas Polgar, trưởng [[CIA]] ở Sài Gòn.{{sfnp|Ward|Burns|2017|p=548}} Theo ký giả [[:en:Morley Safer|Morley Safer]], CIA cũng dính dáng đến việc "chuyên chở nhiều va-li chứa đầy kim loại nặng bằng máy bay" ra nước ngoài, mà "kim loại nặng" ở đây ám chỉ tới [[vàng]]. Tuy nhiên, theo phóng sự điều tra của báo ''[[Tuổi Trẻ (báo)|Tuổi Trẻ]]'', ông Thiệu tuy có ý định chuyển 16 tấn vàng ra nước ngoài, song đã không thể thực hiện được. Số vàng được bàn giao cho Ủy ban Quân quản và nằm trong số 40 tấn vàng mà [[Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] bán ra quốc tế vào năm 1979 để "giải quyết những vấn đề khó khăn cấp bách của quốc gia, trong đó có miếng ăn của người dân".{{sfnp|Hà Anh|2020}}{{sfnp|Quốc Việt|2015}}
Tuy nhiên sau đó, ông đã bí mật rời khỏi Sài Gòn sang [[Đài Loan]] trên một chiếc phi cơ [[Douglas DC-6|C-118]] vào đêm ngày 25–26 tháng 4 năm 1975.{{sfnp|Gibson|2018}}{{sfnp|''New York Times'', 26 tháng 4 năm 1975}} Để cho sự ra đi này được danh chính ngôn thuận, Tổng thống [[Trần Văn Hương]] đã ký nghị định cử Nguyễn Văn Thiệu và [[Trần Thiện Khiêm]] làm đặc sứ Việt Nam Cộng hòa sang [[Đài Bắc]] phúng điếu [[Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc]] [[Tưởng Giới Thạch]], dù ông này đã qua đời từ 3 tuần trước, vào ngày 5 tháng 4 năm 1975.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2020}}
 
Sau khi đến Đài Bắc, Nguyễn Văn Thiệu banthoạt đầu sống tại nhà anh trai Nguyễn Văn Kiểu, Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Đài Loan, người có một căn nhà ở vùng ngoại ô trước khi cùng gia đình chuyển tới một căn hộ tại khu Thiên Mẫu, quận [[Sỹ Lâm]], Đài Bắc.{{sfnp|''New York Times'', 3 tháng 6 năm 1975}} Vì con trai theo học tại [[UK|Anh]], ông cùng gia đình chuyển tới đây và sinh sống tại một căn nhà ở [[Kingston upon Thames]], nằm ở tây nam Thành phố [[Luân Đôn]].{{sfnp|Corfield|2014|p=209}} Trong thời gian ở Anh, ông Thiệu khá kín tiếng, đến nỗi [[Văn phòng Đối ngoại và Thịnh vượng chung|Văn phòng Đối ngoại Anh]] vào năm 1990 không rõ ông đang làm gì, ở đâu. Đầu thập niên 1990, gia đình ông tới Foxborough thuộc vùng ngoại vi [[Boston]], [[Massachusetts]] và sống một cuộc sống thầm lặng trong quãng đời còn lại ở đây. Nguyễn Văn Thiệu không viết hồi ký, hiếm khi trả lời phỏng vấn và từ chối tiếp khách. Ngoài việc nhìn thấy ông Thiệu dắt chó đi dạo, hàng xóm hiếm khi có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu ông.{{sfnp|Lamb|2001}} Những lần xuất hiện ít ỏi của ông trước dư luận quốc tế sau khi lưu vong gồm có tham gia phỏng vấn trong bộ phim tài liệu ''[[Việt Nam cuộc chiến 10000 ngày]]'' của Mỹ sản xuất năm 1980, và cuộc phỏng vấn với tạp chí ''[[Spiegel]]'' của [[Tây Đức]] vào năm 1979, trao đổi về quãng thời gian làmnắm giữ cương vị tổng thống Việtmiền Nam CộngViệt hòaNam.{{sfnp|Engel|Lohfeldt|1979}}{{sfnp|Shales|1982}}
Cuộc ra đi của Nguyễn Văn Thiệu và các trợ lý diễn ra dưới sự sắp xếp của Thomas Polgar, trưởng [[CIA]] ở Sài Gòn.{{sfnp|Ward|Burns|2017|p=548}} Theo ký giả [[:en:Morley Safer|Morley Safer]], CIA cũng dính dáng đến việc "chuyên chở nhiều va-li chứa đầy kim loại nặng bằng máy bay" ra nước ngoài, mà "kim loại nặng" ở đây ám chỉ tới [[vàng]]. Tuy nhiên, theo phóng sự điều tra của báo ''[[Tuổi Trẻ (báo)|Tuổi Trẻ]]'', ông Thiệu tuy có ý định chuyển 16 tấn vàng ra nước ngoài, song không thể thực hiện được. Số vàng được bàn giao cho Ủy ban Quân quản và nằm trong số 40 tấn vàng mà [[Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] bán ra quốc tế vào năm 1979 để "giải quyết những vấn đề khó khăn cấp bách của quốc gia, trong đó có miếng ăn của người dân".{{sfnp|Hà Anh|2020}}{{sfnp|Quốc Việt|2015}}
 
Việc Nguyễn Văn Thiệu ít khi xuất hiện trước công chúng là do lo ngại sự thù địch của người Việt lưuNam tị nạn cộng vongsản, những người tin rằng ông là nhân tố chính khiến Việt Nam Cộng hòa chiến bại.{{sfnp|Corfield|2014|p=209}} Tuy nhiên, ông từng có một số buổi trao đổi với cộng đồng người Việt sau khi sang Hoa Kỳ định cư. Năm 1992, ông Thiệu lên tiếng phảntố đốicáo sự xích lại gần nhau giữa Hoa Kỳ và [[Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam]], nhưng từ năm 1993 thì lại có ý muốn thiện chí tham gia vào các cuộc thảo luận [[Hòa giải và hòa hợp dân tộc ở Việt Nam|hòa giải dân tộc]], nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng Việtkiều kiềubào có cơ hội trở về nước.{{sfnp|Đoan Trang|2001}} Trong một buổi phỏng vấn năm 1993, ông cho rằng Việt Nam cần phải được dân chủ hóa, nhưng phải bằng một giải pháp chính trị ôn hòa, không bạo động "để tránh một cuộc nội chiến gây hận thù triền miên cho các thế hệ mai sau". Cũng trong buổi phỏng vấn này, ông nói rằng mình đã không làm tròn được nhiệm vụ mà nhân dân giao phó, dù đã "cố gắng trong khả năng chức vị của ông đối với cộng sản và kể cả đối với đồng minh", đồng thời tuyên bố "nhận lãnh trách nhiệm hoàn toàn trước nhân dân và lịch sử".{{sfnp|''SBS Tiếng Việt'', 2019}}
Sau khi đến Đài Bắc, Nguyễn Văn Thiệu ban đầu sống tại nhà anh trai Nguyễn Văn Kiểu, Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Đài Loan, người có một căn nhà ở vùng ngoại ô trước khi cùng gia đình chuyển tới một căn hộ tại khu Thiên Mẫu, quận [[Sỹ Lâm]], Đài Bắc.{{sfnp|''New York Times'', 3 tháng 6 năm 1975}} Vì con trai theo học tại [[UK|Anh]], ông cùng gia đình chuyển tới đây và sinh sống tại một căn nhà ở [[Kingston upon Thames]], tây nam Thành phố [[Luân Đôn]]{{sfnp|Corfield|2014|p=209}} Trong thời gian ở Anh, ông Thiệu khá kín tiếng, đến nỗi [[Văn phòng Đối ngoại và Thịnh vượng chung|Văn phòng Đối ngoại Anh]] vào năm 1990 không rõ ông đang làm gì, ở đâu. Đầu thập niên 1990, gia đình ông tới Foxborough thuộc vùng ngoại vi [[Boston]], [[Massachusetts]] và sống thầm lặng trong quãng đời còn lại ở đây. Nguyễn Văn Thiệu không viết hồi ký, hiếm khi trả lời phỏng vấn và từ chối tiếp khách. Ngoài việc nhìn thấy ông Thiệu dắt chó đi dạo, hàng xóm hiếm khi có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu ông.{{sfnp|Lamb|2001}} Những lần xuất hiện ít ỏi của ông trước dư luận sau khi lưu vong gồm có tham gia phỏng vấn trong bộ phim tài liệu ''[[Việt Nam cuộc chiến 10000 ngày]]'' của Mỹ sản xuất năm 1980, và cuộc phỏng vấn với tạp chí ''[[Spiegel]]'' của [[Tây Đức]] vào năm 1979, trao đổi về quãng thời gian làm tổng thống Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Engel|Lohfeldt|1979}}{{sfnp|Shales|1982}}
 
Việc Nguyễn Văn Thiệu ít khi xuất hiện trước công chúng là do lo ngại sự thù địch của người Việt lưu vong, những người tin rằng ông là nhân tố chính khiến Việt Nam Cộng hòa chiến bại.{{sfnp|Corfield|2014|p=209}} Tuy nhiên, ông từng có một số buổi trao đổi với cộng đồng người Việt sau khi sang Hoa Kỳ định cư. Năm 1992, ông Thiệu lên tiếng phản đối sự xích lại gần nhau giữa Hoa Kỳ và [[Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam]], nhưng từ năm 1993 thì lại có thiện chí tham gia vào các cuộc thảo luận [[Hòa giải và hòa hợp dân tộc ở Việt Nam|hòa giải dân tộc]], nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng Việt kiều có cơ hội trở về nước.{{sfnp|Đoan Trang|2001}} Trong một buổi phỏng vấn năm 1993, ông cho rằng Việt Nam cần phải được dân chủ hóa, nhưng phải bằng một giải pháp chính trị ôn hòa, không bạo động "để tránh một cuộc nội chiến gây hận thù triền miên cho các thế hệ mai sau". Cũng trong buổi phỏng vấn này, ông nói rằng mình đã không làm tròn được nhiệm vụ mà nhân dân giao phó, dù đã "cố gắng trong khả năng chức vị của ông đối với cộng sản và kể cả đối với đồng minh", đồng thời tuyên bố "nhận lãnh trách nhiệm hoàn toàn trước nhân dân và lịch sử".{{sfnp|''SBS Tiếng Việt'', 2019}}
 
== Qua đời ==
Nguyễn Thị Mai Anh sinh ra trong một gia đình [[Công giáo tại Việt Nam|Công giáo]] toàn tòng{{efn|''Công giáo toàn tòng'': Chỉ tất cả thành viên trong một gia đình, hay tất cả gia đình trong một xứ đạo đều theo Công giáo.}} ở Mỹ Tho, có truyền thống [[Đông y]]. Nguyễn Văn Thiệu vốn là một [[Phật giáo|Phật tử]], song đã cải sang đạo Công giáo của vợ vào năm 1958.{{sfnp|''The Irish Times'', 6 tháng 10 năm 2001}} Một số người đã chỉ trích hành động này, cho rằng ông Thiệu cải đạo chỉ để mưu cầu lợi ích chính trị và tìm kiếm sự thăng tiến trong quân đội.<ref name="NYT 2001">{{harvnb|Butterfield|2001}}</ref> Là một tín hữu Công giáo, Nguyễn Văn Thiệu không bỏ lỡ Thánh Lễ [[Chúa Nhật]] nào tại nhà thờ.{{sfnp|Scholl-Latour|1980|p=179}} Tuy vậy, gia đình ông chịu sự ảnh hưởng lớn từ văn hóa truyền thống Việt Nam. Ông Thiệu xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, còn bà Mai Anh thì chịu ảnh hưởng khá lớn về nề nếp, gia phong của một gia đình phong kiến, mang nặng tư tưởng Nho giáo.{{sfnp|Nam Anh|Mai Kỳ|2014}} Trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, Nguyễn Văn Thiệu cho tu sửa nhiều chùa chiền, đền thờ và [[Văn miếu|Văn Thánh miếu]] thờ tự [[Khổng Tử]].<ref name=TTĐS/> Năm 1967, ông đưa gia đình về quê để vinh quy bái tổ theo nghi thức truyền thống Nho giáo sau khi đắc cử tổng thống. Ngoài ra, ông cũng thường dâng hương tưởng niệm các [[Vua Hùng]] và phát biểu trước công chúng trong các dịp [[Giỗ Tổ Hùng Vương]] hàng năm.{{sfnp|Scholl-Latour|1980|p=178}}
 
Nguyễn Văn Thiệu là một người đặc biệt tin vào [[bói toán]], [[tử vi đẩu số|tử vi]] và [[phong thủy]].{{sfnp|Slote|De Vos|1998|p=150–51}}<ref name=TTĐS>{{harvnb|Hoàng Anh Sướng|2019}}</ref> Cho rằng sự tốt xấu của phong thủy âm trạch{{efn|''Âm trạch'': đất xây mồ, mộ phần.}} quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp của mình, Nguyễn Văn Thiệu cho dời mồ mả tổ tiên tới một khu đất khác được cho là có địa lý tốt vào năm 1956.{{sfnp|Slote|De Vos|1998|p=150}} Ông còn cử ra đó một đơn vị canh gác tới 400 lính. Tuy nhiên, vào tháng 4 năm 1975, đơn vị này đã nổi loạn, dùng máy ủi san phẳng các ngôi mộ.{{sfnp|Dawson|1977|p=270}} Ông cũng đã cho đổi ngày tháng năm sinh từ ngày 5 tháng 4 năm 1923 thành ngày 24 tháng 12 năm 1924. Đây được cho là một sự thay đổi có chủ đích, vì ngày sinh mới của ông nhằm vào giờ Tý, ngày Đinh Sửu, tháng Tý và năm Tý, mà trong [[tử vi đẩu số]] thì đây là lá số "tam trùng quí số" hay "tam tý vi vương",{{efn|Một số ý kiến cho rằng với ngày sinh mới này, thì Nguyễn Văn Thiệu không chỉ trùng "tam Tý" mà trùng "tứ Tý" (''trùng tứ quý mệnh'') vì trong tử vi, nó thuộc cung Mệnh Viên, mà cung này cũng nằm ở Tý.<ref name="trấn yểm"/>}} đồng nghĩa với việc sở hữu "chân mệnh đế vương".<ref name="DVtuvi">{{harvnb|''Dân Việt'' 2019}}</ref>{{sfnp|''Đất Việt'' 2011}} Nguyễn Văn Thiệu có am hiểu nhất định về phong thủy và rất tin tưởng một vị thầy bói tên là [[Huỳnh Liên (thầy bói)|Huỳnh Liên]], một nhân vật được người đương thời mệnh danh là "[[Quỷ Cốc Tử|Quỷ Cốc tiên sinh]]". Mong muốn bảo toàn cơ nghiệp, ông đã lệnh cho thầy phác họa đồ hình phong thủy,{{efn|Theo chuyên đề ''An ninh thế giới'' của báo ''[[Công an nhân dân (báo)|Công an nhân dân]]'', Nguyễn Văn Thiệu có mời thầy phong thủy Huỳnh Liên đến đàm đạo. Ông vẽ trước một đồ hình chữ "T", tương ứng với cụm sao Vua. Thầy Huỳnh Liên sau khi xem cũng phải thán phục tài chiêm tinh của ông, song kiến nghị vẽ thêm một đường thẳng. Theo thầy Huỳnh Liên, đây là hình chữ "chủ" (主), mà trong chữ "chủ" có chữ "vương" (王), làm vua mà không làm chủ thì mất quyền vào tay [[Nguyễn Cao Kỳ]], tổng thống thành ra kẻ ngồi làm hình nộm. Nếu vừa "vương" vừa "chủ" thì mới đích thật có quyền hành trong tay. Nguyễn Văn Thiệu nghe theo, liền cho trấn yểm các vị trí mà thầy đã chọn.<ref name="trấn yểm"/>}} trấn yểm long mạch của nhiều vị trí, mà quan trọng nhất là cụm long mạch [[Dinh Độc Lập]], Thư viện Quốc gia, [[Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn|Nhà thờ Đức Bà]] và [[Hồ Con Rùa]].<ref name="trấn yểm">{{harvnb|Nông Huyền Sơn|2014}}</ref>
 
Ông cũng đã cho đổi ngày tháng năm sinh từ ngày 5 tháng 4 năm 1923 thành ngày 24 tháng 12 năm 1924. Đây được cho là một sự thay đổi có chủ đích, vì ngày sinh mới của ông nhằm vào giờ Tý, ngày Đinh Sửu, tháng Tý và năm Tý, mà trong [[tử vi đẩu số]] thì đây là lá số "tam trùng quí số" hay "tam tý vi vương",{{efn|Một số ý kiến cho rằng với ngày sinh mới này, thì Nguyễn Văn Thiệu không chỉ trùng "tam Tý" mà trùng "tứ Tý" (''trùng tứ quý mệnh'') vì trong tử vi, nó thuộc cung Mệnh Viên, mà cung này cũng nằm ở Tý.<ref name="trấn yểm"/>}} đồng nghĩa với việc sở hữu "chân mệnh đế vương".<ref name="DVtuvi">{{harvnb|''Dân Việt'' 2019}}</ref>{{sfnp|''Đất Việt'' 2011}} Nguyễn Văn Thiệu có am hiểu nhất định về phong thủy và rất tin tưởng một vị thầy bói tên là [[Huỳnh Liên (thầy bói)|Huỳnh Liên]], một nhân vật được người đương thời mệnh danh là "[[Quỷ Cốc Tử|Quỷ Cốc tiên sinh]]". Mong muốn bảo toàn cơ nghiệp, ông đã lệnh cho thầy phác họa đồ hình phong thủy,{{efn|Theo chuyên đề ''An ninh thế giới'' của báo ''[[Công an nhân dân (báo)|Công an nhân dân]]'', Nguyễn Văn Thiệu có mời thầy phong thủy Huỳnh Liên đến đàm đạo. Ông vẽ trước một đồ hình chữ "T", tương ứng với cụm sao Vua. Thầy Huỳnh Liên sau khi xem cũng phải thán phục tài chiêm tinh của ông, song kiến nghị vẽ thêm một đường thẳng. Theo thầy Huỳnh Liên, đây là hình chữ "chủ" (主), mà trong chữ "chủ" có chữ "vương" (王), làm vua mà không làm chủ thì mất quyền vào tay [[Nguyễn Cao Kỳ]], tổng thống thành ra kẻ ngồi làm hình nộm. Nếu vừa "vương" vừa "chủ" thì mới đích thật có quyền hành trong tay. Nguyễn Văn Thiệu nghe theo, liền cho trấn yểm các vị trí mà thầy đã chọn.<ref name="trấn yểm"/>}} trấn yểm long mạch của nhiều vị trí, mà quan trọng nhất là cụm long mạch [[Dinh Độc Lập]], Thư viện Quốc gia, [[Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn|Nhà thờ Đức Bà]] và [[Hồ Con Rùa]].<ref name="trấn yểm">{{harvnb|Nông Huyền Sơn|2014}}</ref>
 
==Tặng thưởng==