Nguyễn Văn Thiệu

Tổng thống Việt Nam Cộng hòa từ 1967–1975

Nguyễn Văn Thiệu (5 tháng 4 năm 1923 – 29 tháng 9 năm 2001) là một sĩ quan, chính khách người Việt Nam, người từng giữ chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1967–1975. Là một trung tướng bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Thiệu được hội đồng tướng lĩnh bầu làm Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, trở thành Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa vào năm 1965. Ông đắc cử tổng thống sau khi giành chiến thắng trong một cuộc bầu cử diễn ra vào năm 1967 và nắm giữ cương vị này cho đến khi từ chức chỉ ít ngày trước khi chính quyền Sài Gòn đầu hàng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975. Nguyễn Văn Thiệu cũng là một chính khách theo đường lối chống cộng mạnh mẽ, ông là Chủ tịch Đảng Dân chủMặt trận Quốc gia Dân chủ Xã hội từ năm 1967 đến năm 1975.

Nguyễn Văn Thiệu
Lt. Gen. Nguyễn Văn Thiệu at Cam Ranh Base, October 26, 1966.jpg
Nguyễn Văn Thiệu tại Căn cứ Hải quân Cam Ranh ngày 26 tháng 10 năm 1966
Tổng thống Việt Nam Cộng hòa
Nhiệm kỳ
3 tháng 9 năm 1967 – 21 tháng 4 năm 1975
(&0000000000000007.0000007 năm, &0000000000000230.000000230 ngày)
Thủ tướngNguyễn Cao Kỳ
Nguyễn Văn Lộc
Trần Văn Hương
Trần Thiện Khiêm
Nguyễn Bá Cẩn
Phó Tổng thốngNguyễn Cao Kỳ
(1967–71)
Trần Văn Hương
(1971–75)
Tiền nhiệmBản thân
(dưới vai trò Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia)
Kế nhiệmTrần Văn Hương
Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia
Việt Nam Cộng hòa
Nhiệm kỳ
14 tháng 6 năm 1965 – 3 tháng 9 năm 1967
(&0000000000000002.0000002 năm, &0000000000000081.00000081 ngày)
Thủ tướngNguyễn Cao Kỳ
Tiền nhiệmPhan Khắc Sửu
Kế nhiệmChức vụ bị bãi bỏ
Các chức vụ khác
Đệ nhất Phó Thủ tướng
Việt Nam Cộng hòa
Nhiệm kỳ
Tháng 2 năm 1965 – 12 tháng 6 năm 1965
Thủ tướngPhan Huy Quát
Đệ nhị Phó Thủ tướng
Việt Nam Cộng hòa
Nhiệm kỳ
Tháng 1 năm 1965 – Tháng 2 năm 1965
Thủ tướngTrần Văn Hương
Thứ trưởng Quốc phòng
Việt Nam Cộng hòa
Nhiệm kỳ
8 tháng 2 năm 1964 – 9 tháng 9 năm 1964
Tham mưu trưởng Liên quân Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Nhiệm kỳ
30 tháng 1 năm 1964 – 15 tháng 9 năm 1964
Tiền nhiệmLê Văn Kim
Kế nhiệmCao Văn Viên
Tiểu khu trưởng Ninh Thuận
Nhiệm kỳ
1954–1955
Tiền nhiệmĐỗ Mậu
Kế nhiệmThái Quang Hoàng
Thông tin cá nhân
Sinh(1923-04-05)5 tháng 4 năm 1923
Phan Rang–Tháp Chàm, Ninh Thuận, Trung Kỳ, Liên bang Đông Dương
Mất29 tháng 9 năm 2001(2001-09-29) (78 tuổi)
Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ
Đảng chính trị Đảng Dân chủ
Phối ngẫuNguyễn Thị Mai Anh
Con cái
  • Nguyễn Thị Tuấn Anh
  • Nguyễn Quang Lộc
  • Nguyễn Thiệu Long
Người thân3 anh trai, 3 chị gái
Alma mater
Xem chi tiết:
Nghề nghiệpSĩ quan, chính trị gia
Tặng thưởngXem ở dưới
Phục vụ trong quân đội
Thuộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tới 1946)
Quốc gia Việt Nam
Việt Nam Cộng hòa
Phục vụ Việt Minh (tới 1946)
Quân đội Quốc gia Việt Nam
 Lục quân Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ1943–1967
Cấp bậcB ARVN-OF-8 (horizontal).svg Trung tướng
Chỉ huy
Xem chi tiết:
Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (1956–60)
Sư đoàn 7 Bộ binh (1960–61)
Sư đoàn 1 Bộ binh (1961–62)
Sư đoàn 5 Bộ binh (1962–64)
Quân đoàn IV và Vùng 4 chiến thuật (1964–65)
Tham chiếnĐảo chính Việt Nam Cộng hòa 1960
Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963

Sinh ra tại Phan Rang, duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, Nguyễn Văn Thiệu ban đầu gia nhập lực lượng Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo vào năm 1945, nhưng đào ngũ và tìm đường vào Sài Gòn chỉ sau đó một năm. Tại đây, ông gia nhập lực lượng Quân đội Quốc gia Việt Nam thuộc Liên hiệp Pháp. Sau khi người Pháp rút khỏi Đông Dương, Quân đội Quốc gia Việt Nam dần chuyển đổi thành Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn Nguyễn Văn Thiệu trở thành Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt trước khi được thăng cấp đại tá và trở thành một tư lệnh sư đoàn. Tháng 11 năm 1960, ông tham gia dập tắt một cuộc đảo chính nhằm lật đổ chính quyền Tổng thống Diệm. Trong khoảng thời gian này, Nguyễn Văn Thiệu gia nhập Đảng Cần lao Nhân vị và cải sang đạo Công giáo của vợ. Chính quyền của Ngô Đình Diệm – một tín hữu Công giáo – được nhận xét là thiên vị những người đồng đạo và do đó Nguyễn Văn Thiệu bị cáo buộc là cải đạo chỉ để mưu cầu lợi ích chính trị.

Tháng 11 năm 1963, trong bối cảnh khủng hoảng Phật giáo leo thang, một số tướng lĩnh cao cấp trong quân đội đã tiến hành đảo chính lật đổ chính quyền nhà họ Ngô. Trái ngược với cuộc đảo chính 3 năm trước, Nguyễn Văn Thiệu lần này đứng về phe đảo chính. Sau khi anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu bị bắt giữ và hành quyết, ông được thăng cấp bậc hàm thiếu tướng và bắt đầu tham chính. Nền chính trị Việt Nam Cộng hòa bước vào một giai đoạn bất ổn khi các cuộc đảo chính diễn ra thường xuyên. Bằng cách hành xử thận trọng, Nguyễn Văn Thiệu leo lên vị trí hàng đầu trong bộ máy quyền lực Sài Gòn đương lúc các sĩ quan xung quanh ông vướng vào những cuộc đấu đá và thanh trừng nội bộ. Năm 1965, vào thời điểm Nguyễn Văn Thiệu được Hội đồng Quân lực chọn làm quốc trưởng – một vị trí tương đối "hữu danh vô thực" – thì nền chính trị miền Nam đã dần trở lại ổn định.

Năm 1967, quá trình chuyển dịch từ chính quyền quân sự thành một chính phủ dân sự ở miền Nam Việt Nam được lên kế hoạch. Sau những cuộc tranh giành quyền lực ngay bên trong nội bộ quân đội, Nguyễn Văn Thiệu, liên danh cùng Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ, đã tham gia tranh cử tổng thống và giành chiến thắng. Tuy không có mối quan hệ tốt nhưng chính Nguyễn Văn Thiệu trước đó đã đề cử Nguyễn Cao Kỳ vào vị trí thủ tướng. Để hai đối thủ cạnh tranh có thể làm việc cùng nhau, đôi bên đã đi đến thỏa hiệp rằng một cơ quan quân đội dưới trướng Nguyễn Cao Kỳ sẽ hoạch định chính sách của chính phủ từ phía đằng sau hậu trường. Tuy nhiên, căng thẳng bên trong bộ máy lãnh đạo ngày càng trở nên rõ rệt. Nguyễn Văn Thiệu tìm cách vô hiệu hóa Nguyễn Cao Kỳ bằng cách loại bỏ những người ủng hộ ông ta ra khỏi các vị trí trọng yếu trong quân đội và nội các. Để nắm chắc phần thắng trong cuộc bầu cử năm 1971, Nguyễn Văn Thiệu tiến hành áp đặt các quy định mới, ngăn cấm quyền tham gia tranh cử của hầu hết ứng cử viên. Số người còn lại, trong đó có Nguyễn Cao Kỳ, đều tự rút tư cách ứng cử viên vì biết trước rằng cuộc bầu cử sẽ chẳng khác gì "trò hề độc diễn" của Nguyễn Văn Thiệu. Là ứng cử viên duy nhất tham gia tranh cử tổng thống, Nguyễn Văn Thiệu tái đắc cử với 94% số phiếu.

Trong thời gian nắm quyền, Nguyễn Văn Thiệu bị chỉ trích là đã làm ngơ trước tệ nạn tham nhũng tràn lan. Ông cũng bị cáo buộc là chỉ bổ nhiệm những người trung thành với mình thay vì những sĩ quan có năng lực vào các vị trí chỉ huy trong quân đội. Trong Chiến dịch Lam Sơn 719 năm 1971 và Chiến dịch Xuân – Hè 1972 do quân Giải phóng miền Nam phát động, Quân đoàn I đã phải hứng chịu thất bại nặng nề do sự thiếu năng lực của Tướng Hoàng Xuân Lãm – một tâm phúc của ông Thiệu. Sau thất bại trên, Hoàng Xuân Lãm bị thuyên chuyển công tác, nhường lại vị trí cho Ngô Quang Trưởng. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết vào năm 1973, chính quyền Sài Gòn tiếp tục chống cự thêm hai năm trước khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phát động tổng tấn công. Trước sức tấn công mạnh mẽ của quân đội đối phương, Nguyễn Văn Thiệu, trên cương vị tổng tư lệnh, đã mắc phải những sai lầm chiến lược, trong đó có quyết định rút quân hoàn toàn khỏi Cao nguyên Trung phần, dẫn đến những cuộc tháo chạy hỗn loạn và sự tan rã dây chuyền của hàng loạt cứ điểm quân sự trên khắp miền Nam Việt Nam. Điều này cho phép lực lượng quân Giải phóng chiếm trọn thế thượng phong và áp sát Sài Gòn chỉ sau một tháng. Trước tình hình trên, Nguyễn Văn Thiệu bị buộc phải từ chức. Tuy tuyên bố tái ngũ với cấp bậc Trung tướng và sẽ ở lại chiến đấu, nhưng ông bí mật rời khỏi Việt Nam, di tản ra nước ngoài rồi cuối cùng định cư ở Hoa Kỳ cho đến khi qua đời. Năm 1993, Nguyễn Văn Thiệu bày tỏ mong muốn hòa giải với chính quyền trong nước nhằm tìm kiếm sự hòa hợp dân tộc.

Thiếu thời

Nguyễn Văn Thiệu sinh ngày 5 tháng 4 năm 1923 tại Phan Rang trong một gia đình có truyền thống nho học, quê gốc tại làng Tri Thủy, xã Tân Hải, quận Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận (nay là xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận).[1] Ông là con út trong gia đình có 7 người con (4 trai, 3 gái) nên lúc nhỏ được gọi là cậu Tám.[2] Cha của Nguyễn Văn Thiệu là cụ Nguyễn Văn Chung, một nhân sĩ nho học, trong khi hai anh trai Nguyễn Văn Hiếu và Nguyễn Văn Kiểu cũng là những nhân vật trong tầng lớp trí thức.[3] Ngoài cha và hai người anh kể trên, tên tuổi những người thân khác của Nguyễn Văn Thiệu không được tiết lộ. Năm lên 11 tuổi, Nguyễn Văn Thiệu mồ côi cha và phải sống với một người chú trong cảnh nghèo nàn.[2] Dù chưa theo đạo nhưng sau khi học hết lớp đệ tứ (tương đương lớp 9), ông được anh cả Nguyễn Văn Hiếu đưa vào học trong trường dòng Công giáo Pellerin của người Pháp tại kinh thành Huế.[3] Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Nguyễn Văn Thiệu hoàn thành khóa học và quay trở về nhà. Trong 3 năm Nhật Bản chiếm đóng, ông ở quê làm nông cùng với gia đình.[4]

Năm 1945, sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, Nguyễn Văn Thiệu gia nhập lực lượng Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo.[5][6] Ông cùng các đồng chí được huấn luyện quân sự trong rừng, dùng gậy tre tập bắn vì không có súng.[7] Nhờ có năng lực quản lý, Nguyễn Văn Thiệu nhanh chóng trở thành một huyện đội trưởng. Tuy nhiên, chưa đến 1 năm sau, ông đào ngũ vào Nam khi quân đội Pháp quay trở lại Đông Dương. Trong một phỏng vấn với tạp chí Time sau này, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố ông đào ngũ vì biết "Việt Minh là Cộng sản […] họ bắn người dân, họ lật đổ các ủy ban xã, họ tịch thu đất đai".[4] Nhờ sự giúp đỡ của anh cả là ông Hiếu – một luật sư được đào tạo ở Paris – Nguyễn Văn Thiệu vào Sài Gòn, theo học Trường Kỹ thuật trên đường Đỗ Hữu Vị (nay là Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng) rồi sau đó thì chuyển sang Trường Hàng hải Dân sự.[8] Sau một năm, Nguyễn Văn Thiệu tốt nghiệp với tư cách một sĩ quan, nhưng từ chối làm việc trên một con tàu khi biết được chủ người Pháp sẽ trả lương cho ông thấp hơn so với sĩ quan Pháp.[9]

Binh nghiệp

Quân đội Quốc gia Việt Nam

Tháng 9 năm 1949, Nguyễn Văn Thiệu rời ngành hàng hải và nhập ngũ Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 43/300.661, ghi danh khóa sĩ quan võ bị đầu tiên của Quân đội Quốc gia Việt Nam khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1948 (khóa Bảo Đại, sau đổi tên thành khóa Phan Bội Châu) tại trường Võ bị Huế, tiền thân của Trường Võ bị Đà Lạt. Ngày 25 tháng 9 năm 1949, ông tốt nghiệp với cấp bậc thiếu úy, ra trường phục vụ trong một đơn vị Bộ binh của Quân đội Quốc gia thuộc Liên hiệp Pháp. Chức vụ đầu tiên Nguyễn Văn Thiệu đảm nhiệm là Trung đội trưởng đồn trú tại Mỏ Cày, Bến Tre. Cùng năm đó, ông được cử sang Pháp học tại trường Trường Võ bị Saint Cyr.

Trong những trận giao chiến với Việt Minh, Nguyễn Văn Thiệu nổi tiếng là người có năng lực chỉ huy. Do chính sách chế tài đối với những sĩ quan ở miền Trung và miền Nam nên ông được điều ra Bắc. Đầu năm 1951, Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp Trung úy, đi học khóa chỉ huy chiến thuật tại Trung tâm Huấn luyện Chiến thuật Hà Nội.[a] Cũng trong năm này ông kết hôn với Nguyễn Thị Mai Anh là một tín đồ Công giáo Roma. Nguyễn Văn Thiệu sau đó cải sang đạo Công giáo. Tháng 7 năm 1951, ông được điều về trường Võ bị Đà Lạt làm Trung đội trưởng khóa sinh của khóa 5.

Năm 1952, sau khóa đào tạo Tiểu đoàn trưởng và Liên đoàn trưởng lưu động tại Hà Nội, Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp Đại úy và được điều chuyển cùng với Trung úy Cao Văn Viên, Đại úy Đỗ Mậu về Bộ chỉ huy Mặt trận Hưng Yên do Trung tá Dương Quý Phan làm Chỉ huy trưởng. Tại đó, Đỗ Mậu giữ chức Tham mưu trưởng, Nguyễn Văn Thiệu giữ chức Trưởng phòng 3, còn Cao Văn Viên giữ chức Trưởng phòng Nhì.

Đầu năm 1954, Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp Thiếu tá, chỉ huy Liên đoàn Bộ binh số 11 và dẫn đầu một cuộc hành quân đánh vào làng quê Thanh Hải, nơi ông từng sinh sống. Việt Minh rút lui vào căn nhà cũ của gia đình Nguyễn Văn Thiệu và tin rằng ông sẽ không tấn công tiếp, nhưng họ đã nhầm. Nguyễn Văn Thiệu cho nổ mìn đánh bật được lực lượng Việt Minh ra khỏi khu vực, phá hủy luôn căn nhà nơi mình từng sinh ra và lớn lên. Sau ngày 20 tháng 7 năm 1954, Nguyễn Văn Thiệu làm Trưởng phòng 3 Đệ nhị Quân khu Trung Việt do Đại tá Trương Văn Xương làm Tư lệnh. Tháng 1cùng năm, 0 ônlàmàm Tham mưu trưởng Đệ Nhị Quân khu sau khi bàn giao chức Trưởng phòng 3 cho thiếu tá Trần Thiện Khiêm, trở thành Tiểu khu trưởng Ninh Thuận thay thiếu tá Đỗ Mậu vào cuối năm.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Năm 1955, chuyển sang thời Đệ Nhất Cộng hòa, Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp Trung tá và được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt thay thế trung tá Nguyễn Văn Chuân sau khi bàn giao Tiểu khu Ninh Thuận lại cho thiếu tá Thái Quang Hoàng. Tháng 7 năm 1957 ông bàn giao Trường Võ bị cho đại tá Hồ Văn Tố du học khóa Chỉ huy & Tham mưu cao cấp tại Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Năm 1958, sau khi trở về từ Mỹ, Nguyễn Văn Thiệu được tái nhiệm chức Chỉ huy trưởng trường Võ bị thay cho Đại tá Tố, người được điều đi làm Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Quang Trung.

Năm 1959, Nguyễn Văn Thiệu bàn giao Trường Võ bị cho Thiếu tướng Lê Văn Kim để theo học khóa Tình báo Tác chiến tại Okinawa, Nhật Bản. Kết thúc khóa học, ông quay trở về làm Tham mưu trưởng Hành quân tại Bộ Tổng tham mưu. Ngày Quốc khánh Đệ nhất Cộng hòa 26 tháng 10 cùng năm, Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp Đại tá, ngay sau đó được cử đi du học lớp Phòng không tại Trường Fort Bliss, Texas, Hoa kỳ.

Tháng 10 năm 1961, Nguyễn Văn Thiệu được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh thay cho Đại tá Nguyễn Đức Thắng được điều đi làm Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh. Cuối năm 1962, ông được lệnh bàn giao Sư đoàn 1 lại cho Đại tá Đỗ Cao Trí (nguyên Chỉ huy trưởng Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế) để nhậm chức Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh thay Đại tá Nguyễn Đức Thắng, người về Bộ Tổng Tham mưu làm Trưởng phòng Hành quân.[cần dẫn nguồn]

Cuộc đảo chính năm 1963

 
Dinh Gia Long, nay là Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh, nơi diễn ra cuộc giao tranh quyết liệt giữa quân đội đảo chính do Nguyễn Văn Thiệu chỉ huy và Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Tổng thống Phủ trong đêm ngày 1 và rạng sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963.

Với tư cách Tư lệnh Sư đoàn 5, Nguyễn Văn Thiệu tham gia lực lượng đảo chính lật đổ anh em Ngô Đình Diệm. Ngày 31 tháng 10 năm 1963, Nguyễn Văn Thiệu điều động 2 trung đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh và một chi đoàn thiết giáp, phao tin hành quân đến Phước Tuy, nhưng khi đến ngã ba Xa lộ Biên HòaQuốc lộ 15 thì dừng lại. Trưa ngày 1 tháng 11, lực lượng này tiến vào Sài Gòn và bao vây Thành Cộng Hòa, mục đích gây áp lực ép Ngô Đình Diệm đầu hàng.[10] Đêm hôm đó, Nguyễn Văn Thiệu chỉ huy lực lượng tiến về phía Dinh Gia Long – nơi ở của Ngô Đình Diệm.[11] Tuy nhiên, vào lúc này, anh em Ngô Đình Diệm đã trốn khỏi Dinh bằng đường hầm bí mật và đến tá túc tại nhà của Mã Tuyên – một thương gia người Hoa.[12] Khoảng 22 giờ, được yểm trợ bởi pháo binh và xe tăng, bộ binh của Nguyễn Văn Thiệu bắt đầu khai hỏa, san phẳng doanh trại của Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống. Hai bên đấu súng quyết liệt, quân đảo chính dùng súng phun lửa tấn công dinh.[11] Sau một hồi im tiếng súng thì vào lúc 3 giờ sáng ngày 2 tháng 11, Nguyễn Văn Thiệu tái khởi động các đợt pháo kích. Đến 5 giờ 15 phút, lực lượng bảo vệ Dinh Gia Long được lệnh buông súng đầu hàng. Ít giờ sau, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu từ Nhà thờ Cha Tam ra hàng. Vào khoảng 10 giờ, họ bị đưa lên một xe thiết giáp và được một số sĩ quan áp giải về Bộ Tổng tham mưu, song cả hai đã bị sát hại trên đường đi.[13][14]

Tuy Trung tướng Dương Văn Minh, người đứng đầu phe đảo chính, thường bị quy trách nhiệm là đã ra lệnh giết anh em Ngô Đình Diệm,[15] nhưng cho tới hiện nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa đạt được đồng thuận về việc ai là người thực sự đứng sau sự kiện này.[16][17][18] Sau khi Nguyễn Văn Thiệu trở thành tổng thống, Dương Văn Minh phát biểu rằng chính Nguyễn Văn Thiệu mới thực sự là người gây ra cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm khi đã chần chừ và trì hoãn cuộc tấn công vào Dinh Gia Long. Ông Minh cho rằng nếu hai anh em Diệm, Nhu bị bắt ở Dinh Gia Long, họ sẽ tránh được việc bị sát hại khi đi cùng một nhóm người nhỏ. Tướng Trần Văn Đôn, một nhân vật chủ chốt khác trong cuộc đạo chính, được cho là đã gây sức ép với Nguyễn Văn Thiệu khi Sư đoàn 5 bao vây Dinh Gia Long. Trần Văn Đôn gọi điện nói với Nguyễn Văn Thiệu rằng: "Anh làm gì mà chậm thế? Có cần thêm quân không? Nếu cần thì gọi cho Đính, bảo anh ta điều thêm quân. Nhớ làm cho nhanh nhanh, xong xuôi mọi chuyện anh sẽ được thăng tướng!"[17] Tuy nhiên, ông Thiệu cương quyết từ chối cáo buộc, tuyên bố "Dương Văn Minh phải chịu toàn bộ trách nhiệm cho cái chết của Ngô Đình Diệm" – một tuyên bố mà ông Minh chưa từng lên tiếng phủ nhận.[16]

Ngô Đình Diệm tiếp tục là một chủ đề cấm kỵ tại miền Nam cho đến thời điểm Nguyễn Văn Thiệu trở thành tổng thống. Năm 1971, chính phủ Nguyễn Văn Thiệu lần đầu tiên chấp thuận các lễ tưởng niệm công khai cho vị cố tổng thống này nhân dịp kỷ niệm tám năm ngày mất của ông. Đệ nhất Phu nhân Nguyễn Thị Mai Anh được nhìn thấy là đã khóc trong một lễ cầu siêu cho Ngô Đình Diệm ở Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn.[19]

Con đường tiến tới quyền lực

Chính quyền Nguyễn Khánh

Sau cuộc đảo chính, sự nghiệp Nguyễn Văn Thiệu thăng tiến nhanh chóng. Nhờ những đóng góp của mình và sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ Trung tướng Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp bậc hàm thiếu tướng,[20] trở thành một trong mười hai thành viên của Ban Chấp hành Hội đồng Quân nhân Cách mạng với vị trí ủy viên.[21][22] Các nhân vật chủ chốt của Hội đồng này gồm có Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn KimTôn Thất Đính.[23]

Cuộc đảo chính lật đổ gia đình họ Ngô không đem lại sự ổn định tại miền Nam Việt Nam khi mà các tướng lĩnh Sài Gòn đầy tham vọng bước vào cuộc nội chiến tranh giành quyền lực chính trị.[20] Dương Văn Minh bị chỉ trích là quá thân Pháp,[22] thờ ơ trong việc điều hành đất nước, còn những nhân vật đứng đầu chính phủ như Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ thì bị cáo buộc là "công cụ" của chính quyền quân sự.[24] Ngày 30 tháng 1 năm 1964, Trung tướng Nguyễn Khánh dưới sự hỗ trợ của Hoa Kỳ đã tiến hành binh biến đoạt chính quyền mà không tốn bất kỳ viên đạn nào.[25] Nguyễn Khánh thế chỗ Dương Văn Minh làm chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, tuy nhiên vẫn giữ ông Minh làm quốc trưởng trên danh nghĩa do uy tín của ông này trong quân đội vẫn còn quá lớn.[22] Sau cuộc chỉnh lý, Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tham mưu trưởng liên quân. Tháng 8 năm 1964, cảm thấy đã đến lúc có thể nắm quyền hành tuyệt đối, Nguyễn Khánh ban bố tình trạng khẩn cấp trên phạm vi toàn quốc, ngăn cấm biểu tình, tái lập kiểm duyệt báo chí, tăng quyền hạn cho cảnh sát, cho phép họ có quyền khám xét và bắt bớ người tùy ý. Nguyễn Khánh ban hành một Hiến chương mới,[26] mà chiếu theo đó, ông sẽ trở thành quốc trưởng. Tuy nhiên, hành động này chỉ góp phần khiến Nguyễn Khánh suy yếu thêm khi hàng loạt cuộc biểu tình và bạo loạn lớn (dẫn đầu bởi nhiều nhân vật có tiếng nói trong giới Phật giáo) nổ ra tại nhiều thành phố. Những người biểu tình kiến nghị phản đối hiến chương mới, đồng thời kêu gọi chấm dứt tình trạng khẩn cấp và khôi phục lại chính phủ dân sự.[27]

 
Tướng Nguyễn Khánh bị một số tướng lĩnh Công giáo, trong đó có Nguyễn Văn Thiệu, chỉ trích vì nhượng bộ phe Phật giáo quá mức.

Lo ngại có thể bị lật đổ trước các cuộc biểu tình ngày càng gia tăng,[28] Nguyễn Khánh chấp nhận nhượng bộ. Ông đồng ý bãi bỏ hiến chương mới và các đặc quyền cảnh sát, đồng thời cam kết sẽ khôi phục chính quyền dân sự và xóa bỏ Đảng Cần lao Nhân vị, một công cụ chính trị có tổ chức gần như bí mật, được dùng để duy trì chế độ Ngô Đình Diệm bằng cách tìm kiếm và loại bỏ những người bất đồng chính kiến.[28] Nhiều sĩ quan cao cấp theo Công giáo như Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu lên tiếng chỉ trích cái mà họ gọi là "sự chuyển giao quyền lực sang người nhà Phật".[29] Họ tìm cách loại bỏ Nguyễn Khánh, ủng hộ Dương Văn Minh và cố gắng lôi kéo nhiều sĩ quan khác tham gia âm mưu. Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu tìm kiếm sự ủng hộ từ Đại sứ Hoa Kỳ Maxwell Taylor cho một cuộc đảo chính mới. Tuy nhiên, Taylor không muốn có thêm bất kỳ xáo trộn nào trong bộ máy lãnh đạo, do lo ngại cuộc đảo chính thứ ba trong vòng 3 tháng sẽ bào mòn một chính phủ vốn không ổn định. Điều này khiến Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu không thể thực hiện kế hoạch đã định.[30]

Sự chia rẽ giữa các tướng lĩnh bộc lộ rõ nét trong cuộc họp Hội đồng Quân sự Cách mạng. Nguyễn Khánh cho rằng tình trạng bất ổn hiện tại là do các thành viên và người ủng hộ Đại Việt Quốc dân Đảng – một chính đảng thân Công giáo – gây nên.[31] Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu cũng là hai trong số những sĩ quan Công giáo dính líu tới Đảng Đại Việt.[32] Trần Thiện Khiêm chỉ trích Nguyễn Khánh nhượng bộ phe Phật giáo quá mức dẫn đến rắc rối. Nguyễn Văn Thiệu và một viên tướng Công giáo khác là Nguyễn Hữu Có đòi Dương Văn Minh thay thế Nguyễn Khánh, song bị từ chối.[31] Cảm thấy áp lực trước những lời lên án mạnh mẽ, Nguyễn Khánh cho biết sẽ từ chức. Tuy nhiên, sau khi tình hình lầm vào thế bế tắc, Nguyễn Khánh, Dương Văn Minh và Trần Thiện Khiêm đã thiết lập chế độ "Tam đầu chế" nhằm lập lại trật tự, nhưng căng thẳng vẫn còn khi ông Khánh vẫn chi phối việc đưa ra quyết định.[30]

Ngày 15 tháng 9 năm 1964, Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tư lệnh Quân đoàn 4 và Vùng 4 chiến thuật, kiểm soát 3 sư đoàn và các tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Sự kiện trên diễn ra sau khi phe Phật giáo vận động Nguyễn Khánh loại bỏ Dương Văn Đức khỏi vị trí tư lệnh.[33] Để đáp trả, Dương Văn Đức liên thủ cùng Lâm Văn Phát kéo quân về Sài Gòn thị uy, dự định lật đổ Chính phủ Nguyễn Khánh nhưng bất thành.[34][35] Trong sự kiện trên, sự im lặng của Trần Thiện Khiêm lẫn Nguyễn Văn Thiệu, kết hợp với sự phản đối của họ đối với Nguyễn Khánh được xem là động thái ủng hộ ngầm đối với phe nổi dậy.[36][37] Ghi chép của Đại sứ quán Hoa Kỳ vào trung tuần tháng 9 năm 1964 cho thấy Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu "có vẻ thụ động đến mức dường như đã ngầm ủng hộ Đức và Phát". Sau khi chuyện không thành, hai người đã "lại bày tỏ những biểu hiện ủng hộ ông Khánh có phần muộn màng".[38]

Nhóm tướng lĩnh trẻ

 
Hai tướng Nguyễn Văn Thiệu (giữa) và Nguyễn Chánh Thi (trái) tại Căn cứ Không quân Đà Nẵng.

Thiếu tướng Lục quân Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ (Tư lệnh Không quân Việt Nam Cộng hòa), Thiếu tướng Lục quân Nguyễn Chánh Thi (Tư lệnh Quân đoàn I) và Đề đốc Chung Tấn Cang (Tư lệnh Quân chủng Hải quân) đều là những gương mặt nổi bật trong nhóm tướng lĩnh trẻ của Việt Nam Cộng hòa mà phía Hoa Kỳ thường gọi bằng cái tên Young Turks.[39] Nhóm này và Nguyễn Khánh muốn cưỡng chế những sĩ quan có trên 25 năm phục vụ trong quân đội về hưu, cho rằng họ lạc hậu, lỗi thời, thiếu hiệu quả, nhưng quan trọng hơn cả, việc loại bỏ những người này giúp họ có thể loại trừ những đối thủ tiềm năng.[40] Những nhân vật nằm trong danh sách này bao gồm các tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn KimMai Hữu Xuân.[40]

Ngày 17 tháng 12 năm 1964, nhóm tướng lĩnh trẻ đệ trình yêu sách trên lên Quốc trưởng Phan Khắc Sửu. Ông Sửu chuyển vấn đề lên Thượng Hội đồng Quốc gia (một cơ quan chấp chính dân sự được thành lập nhằm chuyển dần sang chính phủ dân sự) để xin ý kiến. Tuy nhiên, Thượng Hội đồng đã từ chối. Một trong những nguyên nhân chính có thể do nhiều thành viên của Thượng Hội đồng đều đã có tuổi và họ không hài lòng trước thái độ của nhóm tướng lĩnh trẻ đối với những người thuộc thế hệ tiền nhiệm.[41] Trước động thái trên, ngày 18 tháng 12, Nguyễn Khánh thành lập Hội đồng Quân lực để làm hậu thuẫn.[42]

Ngày 19 tháng 12, Nguyễn Khánh họp Hội đồng Quân lực và ra thông cáo giải thể Thượng Hội đồng Quốc gia, đồng thời cho bắt giữ một số chính khách dân sự.[40] Phan Khắc Sửu và Trần Văn Hương vẫn được lưu nhiệm Quốc trưởng và Thủ tướng.[43] Đại sứ Hoa Kỳ Maxwell D. Taylor, người xem chính phủ dân sự như là một bước tiến quan trọng trong việc tiến đến ổn định về chính trị tại miền Nam Việt Nam, không hài lòng với hành động của các tướng lĩnh.[44] Trong một buổi họp riêng với 4 tướng trẻ (Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Chánh Thi, Nguyễn Cao Kỳ, Chung Tấn Cang), Đại sứ Taylor đe dọa cắt viện trợ và có những câu nói chạm đến lòng tự ái của họ.[45][46] Lợi dụng sự căng thẳng, Nguyễn Khánh họp báo chỉ trích hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam Cộng hòa như một "tên thực dân" của Taylor, yêu cầu Washington triệu hồi ông ta về nước.[47] Vụ việc này khiến quan hệ giữa Nguyễn Khánh và Taylor rạn nứt không thể cứu vãn.[48]

Tham chính

Ngày 18 tháng 1 năm 1965, trước áp lực từ các tướng lĩnh, Thủ tướng Trần Văn Hương tiến hành cải tổ nội các với sự tham gia của Nguyễn Văn Thiệu (Đệ nhị Phó Thủ tướng), Trần Văn Minh (Tổng trưởng Quân lực), Linh Quang Viên (Tổng trưởng Tâm lý chiến), Nguyễn Cao Kỳ (Tổng trưởng Thanh niên Thể thao).[49] Đây là lần đầu Nguyễn Văn Thiệu xuất hiện với tư cách một chính trị gia, không phải trong vai trò một quân nhân. Cũng trong ngày hôm đó, Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp bậc hàm trung tướng.[20] Chính phủ Trần Văn Hương phải đối mặt với sự chống đối mạnh mẽ từ phía Phật giáo.[50] Các lãnh tụ Phật giáo như Thượng tọa Thích Trí Quang, Thích Tâm Châu bắt đầu tuyệt thực đòi Trần Văn Hương từ chức và giải tán chính phủ. Hàng loạt phật tử nối gót nhau xuống đường biểu tình và tổ chức tuyệt thực tập thể, có ni cô thậm chí tự thiêu phản đối.[51] Nguyễn Khánh – người phải dựa vào sự ủng hộ của giới Phật giáo để tiếp tục duy trì quyền lực – đã không thực hiện biện pháp đáng kể nào để dập tắt các cuộc biểu tình.[52] Thay vào đó, ông quyết định bãi nhiệm Trần Văn Hương vào ngày 27 tháng 1.[50][53] Sau nhiều cuộc hội đàm cùng Hội đồng Quân lực, vào ngày 16 tháng 2, Phan Huy Quát được bổ nhiệm làm thủ tướng đứng đầu một nội các dân sự nhưng phải chịu sự giám sát từ phe quân nhân.[54] Nguyễn Văn Thiệu ngay sau đó trở thành Đệ nhất Phó Thủ tướng trong nội các mới.[55]

Hành động của Nguyễn Khánh đã vô hiệu hóa một âm mưu ngược chống lại ông. Lo sợ bị bãi nhiệm, Trần Văn Hương chống lưng một âm mưu do một số tướng lĩnh Công giáo thân Đảng Đại Việt như Nguyễn Hữu Có và Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu, mưu đồ loại bỏ Nguyễn Khánh và đưa Trần Thiện Khiêm từ Washington quay trở về nước. Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn không phản đối âm mưu bởi Taylor và Nguyễn Khánh kể từ sau vụ đảo chính hồi tháng 12 đã trở thành kẻ thù không đội trời chung.[48] Tuy vậy, người Mỹ không hoàn toàn ủng hộ nước cờ này, cho rằng nó không được tính toán kỹ lưỡng và có thể gây ra một vụ bê bối chính trị do một số thành viên tham gia âm mưu sẽ phải dùng máy bay Mỹ để di chuyển qua lại giữa Sài Gòn và Washington. Do đó, người Mỹ chỉ hứa sẽ cho Trần Văn Hương tị nạn nếu cần thiết.[48] Tuy nhiên, sau khi tìm thấy bằng chứng cho thấy Nguyễn Khánh muốn thỏa thuận với cộng sản, phía Hoa Kỳ đã bày tỏ thái độ ủng hộ âm mưu trên.[56][57] Taylor cam kết với nhóm tướng lĩnh trẻ rằng Hoa Kỳ "sẽ không chống lưng hay ủng hộ tướng Khánh dưới bất kỳ hình thức nào". Tại thời điểm đó, Taylor và các nhân viên sứ quán ở Sài Gòn đánh giá cao ba người Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Hữu Có và Chung Tấn Cang, xem họ là những người có thể thay thế Nguyễn Khánh.[58] Theo một báo cáo của CIA, Nguyễn Văn Thiệu được một quan chức Mỹ giấu tên mô tả là người "thông minh, đầy tham vọng, và rất có thể sẽ vẫn tiếp tục tham gia âm mưu đảo chính để phục vụ cho mục đích cá nhân".[59]

Nguyễn Văn Thiệu đã không kịp thực hiện âm mưu khi Đại tá Phạm Ngọc Thảo – người trên thực tế là một điệp viên do Hà Nội cài cắm ở Sài Gòn – cùng Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Đại tá Bùi Dzinh tiến hành đảo chính vào ngày 19 tháng 2, mục tiêu bắt sống Nguyễn Khánh.[60] Tuy nhiên, Nguyễn Khánh kịp rời Sài Gòn bằng máy bay trước khi xe tăng của quân đảo chính kéo vào.[61] Dưới sự hỗ trợ từ Hoa Kỳ, Nguyễn Chánh Thi, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ đứng ra dập tắt âm mưu đảo chính.[62] Nhân cơ hội, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ "mượn gió phất cờ", nhóm họp Hội đồng Quân lực bỏ phiếu bất tín nhiệm và trục xuất Nguyễn Khánh ra nước ngoài với danh nghĩa là "đại sứ lưu động".[63][64][65] Có cáo buộc cho rằng Nguyễn Văn Thiệu đã truy bắt và mưu sát Đại tá Phạm Ngọc Thảo một cách phi pháp vào năm 1965. Phóng sự điều tra năm 2012 của báo Thanh Niên cho rằng Nguyễn Văn Thiệu đơn thuần chỉ là đang loại bỏ một đối thủ đáng gờm, chứ không hề hay biết việc người này là cộng sản nằm vùng.[66] Cuộc đảo chính bất thành ngày 19 tháng 2 năm 1965 chỉ là một phần của một loạt các cuộc đảo chính giữa các sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa, diễn ra sau vụ mưu sát Ngô Đình Diệm cuối năm 1963. Giữa lúc các tướng lĩnh tranh giành quyền lực nội bộ trong các cuộc binh biến, mà kết quả là một số người phải đi đày biệt xứ, Nguyễn Văn Thiệu đã "tọa sơn quan hổ đấu", từng bước trở thành một trong những nhân vật quyền lực nhất Sài Gòn.[67][20]

Quốc trưởng (1965–67)

 
Lãnh đạo các nước SEATO tại Manila năm 1966. Từ trái sang phải: Nguyễn Cao Kỳ, Harold Holt, Park Chung Hee, Ferdinand Marcos, Keith Holyoake, Nguyễn Văn Thiệu, Thanom KittikachornLyndon B. Johnson.

Do mâu thuẫn với Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát từ chức và giải tán chính phủ sau hơn 3 tháng giữ chức thủ tướng. Quyết định của Phan Huy Quát buộc Phan Khắc Sửu cũng phải từ chức quốc trưởng, mở đường cho một giai đoạn quân nhân nắm chính quyền.[68] Ngày 14 tháng 6 năm 1965, hội đồng tướng lĩnh nhóm họp, bầu Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, đảm nhận cương vị quốc trưởng. Nguyễn Cao Kỳ được đề cử làm chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, tức thủ tướng.[69][70] Chính phủ Thiệu–Kỳ đánh dấu sự kết thúc của một thời kỳ khủng hoảng chính trị ở Sài Gòn, với hàng loạt cuộc đảo chính và 8 lần thay đổi nhân sự diễn ra chỉ trong vòng một năm rưỡi sau vụ ám sát anh em nhà họ Ngô.[71][72]

Vị trí quốc trưởng của Nguyễn Văn Thiệu là một vị trí tương đối "hữu danh vô thực", vì Nguyễn Cao Kỳ mới là người nắm quyền hành trên thực tế.[73]

Lúc bấy giờ, nhân dân bất mãn với việc các tướng lĩnh tranh chấp quyền hành, liên tiếp gây nhiều binh biến, khiến cho tình hình Việt Nam Cộng hòa không ngừng bị xáo trộn. Lực lượng Phật giáo một lần nữa nắm vai trò lãnh đạo quần chúng chống lại chính phủ quân quản, đòi hỏi thành lập Quốc hội Lập hiến để có hiến pháp cho miền Nam Việt Nam. Thượng tọa Thích Trí Quang kêu gọi bãi nhiệm Quốc trưởng Thiệu vì ông từng là đảng viên Đảng Cần lao Nhân vị của Ngô Đình Diệm. Thích Trí Quang chỉ trích "khuynh hướng phát xít" của Nguyễn Văn Thiệu, cho rằng các thành viên Cần lao đang phá hoại Nguyễn Cao Kỳ.[74] Thích Trí Quang tố cáo Nguyễn Văn Thiệu đã phạm những tội ác chống lại Phật tử trong quá khứ, ông xem Nguyễn Văn Thiệu như một biểu tượng của chế độ Công giáo trị thời Ngô Đình Diệm và mong muốn Trung tướng Nguyễn Chánh Thi – người được biết đến với quan điểm ủng hộ Phật giáo – sẽ đứng ra lãnh đạo đất nước.[75]

Nhận định Nguyễn Chánh Thi là một đối thủ nguy hiểm, Nguyễn Cao Kỳ ra quyết định cách chức ông, song điều này chỉ khiến giới Phật giáo miền Trung phản ứng mạnh mẽ hơn. Thích Trí Quang dẫn nhiều phật tử xuống đường phản đối chính quyền Thiệu–Kỳ. Một số đơn vị trực thuộc Quân đoàn 1 không tuân theo mệnh lệnh từ Sài Gòn mà quay sang ủng hộ tướng Thi và phong trào Phật giáo.[76] Nguyễn Cao Kỳ sau đó đã sử dụng vũ lực dẹp yên vụ nổi loạn miền Trung. Thích Trí Quang bị đưa về Sài Gòn quản thúc tại gia, trong khi Nguyễn Chánh Thi thì phải sang Mỹ lưu vong. Thất bại này khiến phong trào tranh đấu Phật giáo nhanh chóng tan rã và không còn là mối đe dọa đối với chính quyền Sài Gòn.[77][78]

Tranh cử tổng thống năm 1967

 
Nguyễn Văn Thiệu tuyên thệ nhậm chức tổng thống vào ngày 21 tháng 10 năm 1967.

Ngày 1 tháng 4 năm 1967, trước sự hối thúc từ Hoa Kỳ, chính quyền Sài Gòn ban hành hiến pháp mới, khai sinh nền Đệ Nhị Cộng hòa Việt Nam. Theo hiến pháp mới, Việt Nam Cộng hòa sẽ áp dụng chế độ quốc hội lưỡng việnhệ thống tổng thống với nhiệm kỳ 4 năm. Chế độ mới này dự kiến sẽ thành hình sau cuộc bầu cử tổng thống và thượng viện vào tháng 9 năm 1967.[79]

Trước thềm bầu cử, hai tướng Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu đều quyết định ra tranh cử riêng rẽ: Nguyễn Cao Kỳ liên danh cùng Luật sư Nguyễn Văn Lộc (Cao Đài), trong khi Nguyễn Văn Thiệu liên danh cùng Trịnh Quốc Khánh của Đảng Dân Xã (Phật giáo Hòa Hảo), hứa hẹn cải cách xã hội, xây dựng một nền dân chủ hợp pháp và tuyên bố sẽ "mở rộng cánh cửa hòa bình [với phe cộng sản]".[80] Quốc trưởng Nguyễn Văn Thiệu tuy nhận được sự ủng hộ từ CIA và Đại sứ quán Hoa Kỳ,[81] nhưng Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ lại được đánh giá là ở cửa trên do nắm trong tay guồng máy hành chính, đồng thời được nhóm tướng lĩnh trẻ đang nắm giữ những vị trí then chốt trong chính phủ ủng hộ.[82] Trong cuộc bầu cử lần này, ngoài liên danh Kỳ–Lộc và Thiệu–Khánh thuộc phe quân sự ra, 10 liên danh còn lại đều là dân sự.[83] Lo ngại một liên danh dân sự có thể sẽ giành chiến thắng do phe quân nhân sẽ phải chia phiếu vì có hai ứng cử viên tranh cử độc lập, giới tướng lĩnh gây áp lực thuyết phục hai người liên danh với nhau. Nguyễn Cao Kỳ cuối cùng cũng chấp nhận đứng phó trong liên danh Thiệu–Kỳ song ông Thiệu bị buộc phải chấp nhận ký một thỏa thuận ngầm, đồng ý để ông Kỳ nắm giữ mọi quyền hành nếu hai người đắc cử.[84][85]

Trong ngày bầu cử 3 tháng 9 năm 1967, liên danh Thiệu–Kỳ giành chiến thắng với 35% phiếu – một tỷ lệ thấp so với con số 45–50% mà các nhà quan sát chính trị dự đoán Nguyễn Văn Thiệu sẽ đạt được.[86] Tuy được Washington công nhận, song kết quả bầu cử này đã gặp phải sự phản đối từ một bộ phận dân chúng khiến nhiều người xuống đường phản đối Quốc hội lập hiến hợp thức hóa kết quả.[87] Trong vòng nhiều ngày, các dân biểu Quốc hội lập hiến tranh luận nảy lửa về tính công bằng của cuộc bầu cử hôm 3 tháng 9. Một vài dân biểu như Phan Khắc Sửu hay Lý Quí Chung bày tỏ mong muốn hủy bỏ kết quả, một số người thì cáo buộc những người khác nhận hối lộ từ Thiệu–Kỳ nhưng không đưa ra được bằng chứng xác thực.[88] Quốc hội lập hiến sau đó phê chuẩn kết quả bầu cử với tỷ lệ phiếu sít sao: 58 phiếu thuận, 43 phiếu chống.[89] Tuy giành chiến thắng trong cùng một liên danh, nhưng đây chỉ mới là khởi đầu của cuộc tranh giành quyền lực giữa hai con người đầy tham vọng: Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ.[90]

Nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên (1967–1971)

Mậu Thân 1968

 
Nguyễn Văn Thiệu viếng các nạn nhân bị sát hại trong Thảm sát Huế.

Tết Nguyên đán Mậu Thân năm 1968, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bất ngờ mở chiến dịch tổng tấn công đánh vào nhiều đô thị trọng yếu tại miền Nam bất chấp tuyên bố ngừng bắn trước đó.[91] Khi chiến sự bùng nổ, Nguyễn Văn Thiệu và gia đình đã về quê vợ ở Mỹ Tho ăn tết.[92][93] Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ – người lúc đó vẫn còn ở thủ đô – đã nắm quyền chỉ huy và tổ chức các đơn vị ở Sài Gòn phản kích.[94] [94]

Tuy lực lượng Quân Giải phóng bị đẩy lùi và chịu thương vong rất lớn, nhưng phía Việt Nam Cộng hòa cũng phải gánh hậu quả nặng nề do đây là lần đầu tiên chiến tranh tiếp cận đáng kể tới các đô thị đông dân cư. Khi Quân lực Việt Nam Cộng hòa được kéo về để bảo vệ các thành phố, Quân Giải phóng đã chớp thời cơ chiếm quyền kiểm soát các vùng nông thôn.[95] Nỗi kinh hoàng mà sự kiện Tết Mậu Thân mang tới cùng với những tổn thất và dư chấn mà nó để lại đã khiến dân chúng dần đánh mất niềm tin ở Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, cho rằng ông không thể bảo vệ họ.[96]

Chính quyền Sài Gòn ước tính số thương vong dân sự là vào khoảng 14.300 người chết và 24.000 người bị thương.[95] Khoảng 630.000 người mất nhà mất cửa, 800.000 người phải di tản vì chiến tranh từ trước đó. Vào cuối năm 1968, 8% dân số miền Nam sống trong các trại tị nạn. Cơ sở hạ tầng quốc gia bị hư hại nghiêm trọng cùng với hơn 70.000 ngôi nhà bị phá hủy.[95] Với 27.915 người thiệt mạng và 70.968 người bị thương, Mậu Thân 1968 trở thành năm đẫm máu nhất của cuộc chiến tính đến thời điểm đó đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa.[97][98]

Sau cuộc tấn công, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã có hành động quyết liệt hơn nhằm đối phó với cộng sản.[99] Ngày 1 tháng 2 năm 1968 (Mùng 3 Tết), tổng thống họp Hội đồng Nội các, ban hành lệnh thiết quân luật trên khắp cả nước.[100][101] Ngày 19 tháng 6 năm 1968, trước tình hình chiến sự nguy ngập bùng nổ trên cả bốn vùng chiến thuật, Quốc hội đã phê chuẩn đề xuất thay đổi luật tổng động viên của Nguyễn Văn Thiệu mà họ đã từ chối trước đó.[102] Theo luật mới, tuổi quân dịch được hạ từ 20 xuống 18 đồng thời cho phép chính phủ cưỡng bách tòng quân nam giới trong độ tuổi từ 18 đến 38 vào lực lượng chính quy hoặc các lực lượng địa phương quân và nghĩa quân. Ngoài ra, luật mới quy định tất cả nam công dân tuổi từ 16 đến 50 sẽ phải tham gia lực lượng bán quân sự mang tên Nhân dân Tự vệ.[98] Đến cuối năm, trên 200.000 tân binh đã được bổ sung vào quân ngũ, nâng tổng binh lực Việt Nam Cộng hòa lên hơn 900.000 người.[100][103]

Trong thời gian này, Nguyễn Văn Thiệu thúc đẩy các chiến dịch tổng động viên và hoạt động chống tham nhũng. Ba trong số bốn tư lệnh quân đoàn bị thay thế vì màn thể hiện tệ hại trước Quân Giải phóng. Ông cũng thành lập Ủy ban Phục hồi Quốc gia để giám sát việc phân phối lương thực, tái định cư và xây dựng nhà ở cho người chạy nạn. Phẫn nộ vì các cuộc tấn công của phe cộng sản, một bộ phận người dân miền Nam đã thay đổi cách nhìn đối với cuộc chiến, đặc biệt là những dân cư thành thị vốn rất thờ ơ với cuộc chiến.[100]

Cải cách

Năm 1969, với tư cách Tổng thống chính quyền Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu kêu gọi hòa bình ở miền Nam Việt Nam bằng cách đề nghị bầu cử bao gồm cả lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nhưng phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ cảnh báo rằng bất kỳ nỗ lực nào để liên minh với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đều rất "nguy hiểm" do sẽ làm phật ý Mỹ.[104] Cũng trong năm này, ông đã vượt quyền hiến pháp, cụ thể là điều luật quy định sự bất khả xâm phạm của dân biểu, để bắt giữ và mở tòa án quân sự kết án dân biểu Trần Ngọc Châu 10 năm khổ sai, sau khi vị dân biểu này đề nghị lập một đoàn gồm các nhà lập pháp Việt Nam Cộng hòa ra Bắc Việt Nam để đàm phán với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[105]

Trong những năm tại vị, Nguyễn Văn Thiệu đã ký tại Cần Thơ lệnh số 003/60 ban hành luật "Người cày có ruộng". Ông nói "Hôm nay là ngày vui sướng nhất của đời tôi". Báo chí Hoa Kỳ ca ngợi, tờ Washington Evening Star gọi đó là "Tin tức tốt đẹp nhất đến từ Việt Nam kể từ khi kết thúc sự chiếm đóng của người Nhật", còn tờ New York Times cho rằng "Có lẽ đây là cuộc cải cách ruộng đất không cộng sản mang nhiều tham vọng và tiến bộ nhất của thế kỷ XX". Theo ông Nguyễn Tiến Hưng trong sách Khi đồng minh tháo chạy thì nhiều quan sát viên quốc tế đã coi đây là một trong những chương trình cải cách ruộng đất thành công nhất ở các nước đang phát triển. Chương trình này đã tạo ra một tầng lớp tiểu nông đông đảo, thúc đẩy kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp phát triển. Nông dân hăng hái sản xuất và năng suất lúa gạo tăng lên, đời sống của nông dân được cải thiện. Tuy nhiên, báo Chính Luận Sài Gòn (ngày 23 tháng 2 năm 1971) đưa tin rằng dân biểu Trần Văn Quá, chủ tịch ủy ban canh nông của thượng viện đã tiết lộ: "Hầu hết số ruộng này đã được Việt Cộng cấp không cho nông dân từ mấy năm trước, nay luật "Người Cày Có Ruộng" xem như hợp thức hoá tình trạng đó". Như vậy, chương trình "Người Cày Có Ruộng" thực ra không hẳn là một chính sách mới, mà đó là việc ngầm công nhận kết quả cuộc cải cách ruộng đất do Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam thực hiện, tránh làm mất lòng người dân (Nguyễn Văn Thiệu đã rút kinh nghiệm từ sai lầm trong "Cải cách điền địa" mà Ngô Đình Diệm thực hiện, nếu thu lại đất thì đa số người dân nông thôn sẽ rất tức giận, và quân Giải phóng sẽ có thêm sự ủng hộ).

Tái tranh cử

Năm 1971, Việt Nam Cộng hòa tổ chức bầu cử tổng thống một lần nữa. Do đã tìm mọi cách giới hạn số người ra ứng cử, nên Nguyễn Văn Thiệu chỉ còn hai đối thủ chính là Dương Văn MinhNguyễn Cao Kỳ.[106] Lo ngại bị chia phiếu với ông Kỳ, ông Thiệu lợi dụng quyền kiểm soát Thượng viện và Hạ viện, áp đặt luật bầu cử mới, loại bỏ người này ra khỏi cuộc đua. Như vậy, danh sách ứng cử viên tổng thống chỉ còn mỗi Nguyễn Văn Thiệu và Dương Văn Minh.[107] Tuy nhiên, do cho rằng ông Thiệu đã bố trí guồng máy gian lận kết quả, ông Minh tuyên bố rút tư cách ứng cử viên. Trước nguy cơ "tự tranh cử với chính mình", ông Thiệu tìm cách đưa ông Kỳ trở lại cuộc đua, song người này từ chối và tuyên bố tẩy chay đợt bầu cử.[108] Là người duy nhất tham gia tranh cử, Nguyễn Văn Thiệu dễ dàng tái đắc cử với 94% số phiếu vào ngày 3 tháng 10.[109][110] Được xem là một "trò hề độc diễn",[111][112] đợt bầu cử năm 1971 đã đặt dấu chấm hết hoàn toàn cho cuộc thử nghiệm lập hiến và nền chính trị đa nguyên ở miền Nam Việt Nam vốn từng được xem là đầy hứa hẹn vào năm 1967.[113][114]

Nhiệm kỳ tổng thống thứ hai (1971–1975)

Hiệp định Paris

Nguyễn Văn Thiệu phản đối quyết liệt việc Hoa Kỳ ký kết Hiệp định Paris vào lúc đó, vì người Mỹ sẽ chấm dứt những cam kết và ủng hộ của mình đối với Việt Nam Cộng hòa, đồng nghĩa với việc viện trợ cho chính phủ của ông bị cắt giảm và ưu thế quân sự sẽ nghiêng về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo quyển "Võ Nguyên Giáp - Tổng tập hồi ký" thì hãng AP dẫn lời của Nguyễn Văn Thiệu vào tháng 8 năm 1972 kêu gọi Mỹ "hãy ném bom tan nát miền Bắc Việt Nam". Cuối cùng, Mỹ đã thực hiện mong muốn đó của ông bằng chiến dịch Linebacker II, huy động 200 chiếc B-52 ném bom trải thảm miền Bắc Việt Nam suốt 12 ngày đêm. Cuốn hồi ký của Võ Nguyên Giáp cũng dẫn bài trên báo Nhân đạo (L'humanité) của Pháp bình luận rằng: "Ngay cả trong Chiến tranh thế giới thứ hai, những viên tướng Pháp phản bội cũng không dám đề nghị đồng minh của chúng (Đức Quốc xã) tàn phá Paris (để ngăn quân Anh-Mỹ). Thế mà nay Thiệu lại muốn Mỹ ném bom tàn phá đất nước mình. Thiệu thật đáng xấu hổ hơn cả sự xấu hổ"[115]

Cuối cùng, chiến dịch Linebacker II đã thất bại và Mỹ đã chấp nhận ký Hiệp định Paris với những điều khoản có lợi cho quân Giải phóng. Nguyễn Văn Thiệu đã cố tình trì hoãn việc đồng ý ký kết hiệp định, nhưng phía Mỹ đã có quyết định dứt khoát về việc này và gây áp lực cho chính phủ của ông, trong thư của Tổng thống Nixon gửi ông vào ngày 16 tháng 1 có đoạn: "Tôi đã quyết định dứt khoát sẽ ký tắt hiệp định vào ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Nếu cần tôi sẽ làm đúng như nói trên một mình. Trong trường hợp đó tôi phải giải thích công khai rằng chính phủ của ông cản trở hòa bình. Kết quả sẽ là sự chấm dứt không tránh khỏi và lập tức viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ - và một sự thay đổi nhân sự trong chính phủ của ông khó mà nói trước".

Trong bức thư đề ngày 6 tháng 10 năm 1972, Nixon còn ngầm đe dọa: "Tôi yêu cầu ông cố áp dụng mọi biện pháp để tránh sinh ra sau này một tình huống có thể đưa tới những biến cố tương tự như biến cố mà chúng tôi đã ghê tởm năm 1963 và chính bản thân tôi cũng đã kịch liệt phản đối năm 1968...". Cũng theo cuốn Khi đồng minh tháo chạy của Nguyễn Tiến Hưng, ngày 21 tháng 10 năm 1972, hai chuyên viên trong Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ là Roger MorrisAnthony Lake đã viết cho cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger một phúc trình mà trong đó có nói tới các phương án lật đổ Nguyễn Văn Thiệu. Sau này, Morris xác nhận: "Tôi bảo Tony rằng hai đứa mình phải cho Henry hiểu rõ là ta sẵn sàng thanh toán Thiệu".

Henry Kissinger trong hồi ký của mình đã dành những lời rất nặng nề để nói về Nguyễn Văn Thiệu. Ông cho rằng Nguyễn Văn Thiệu đã điều hành quốc sự theo một kiểu "tàn bạo", "xấc láo", "ích kỷ, độc ác" với những "thủ đoạn gần như điên cuồng" khi làm việc với người Mỹ. Kissinger cũng tiết lộ rằng, khi nói về việc Nguyễn Văn Thiệu ngăn cản Mỹ ký Hiệp định Paris, Tổng thống Nixon đã giận dữ thốt lên[116]:

"Ông sẽ hiểu thế nào là sự tàn bạo nếu tên đểu giả đó không chịu chấp thuận. Ông hãy tin lời tôi."

Kết quả là Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận ký kết hiệp định một cách miễn cưỡng, mặc dù đã được chính phủ của Tổng thống Nixon cam kết sẽ đảm bảo sự tồn tại của Việt Nam Cộng hòa, Nixon cũng bí mật cam kết với Nguyễn Văn Thiệu rằng sẽ khôi phục lại việc Hoa Kỳ cho B-52 ném bom không kích chống lại bắc Việt Nam để trả đũa cho bất kỳ cuộc tấn công tăng cường nào của những người cộng sản. Nhưng Nixon đã từ chức trước khi kết thúc nhiệm kỳ của mình, và những lời hứa của Nixon cũng không bao giờ được thực hiện.

Trả lời phỏng vấn đài ABC của Mỹ ngày 31 tháng 1 năm 1975, ông Thiệu cho rằng Hiệp định Paris đã không công bằng (nguyên văn: unfair), vì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể phát triển kinh tế, có hòa bình, lại có thể điều quân và vũ khí vào miền Nam mà không chịu bất kỳ phản ứng nào của Hoa Kỳ, khiến Việt Nam Cộng hòa phải cố gắng tự chống đỡ. Vì sức ép từ Hoa Kỳ nên ông Thiệu mới phải chấp nhận ký hiệp định đó.

Trong bản ghi âm được giải mật sau này về cuộc trao đổi giữa Tổng thống Mỹ Richard Nixon và ngoại trưởng Henry Kissinger, Nixon nói rõ việc ông quyết định sẽ bỏ mặc "đứa con" Việt Nam Cộng hòa để có thể thoát khỏi cuộc chiến ở Việt Nam.[117]

Henry Kissinger: Tôi nghĩ Thiệu nói đúng đấy. Hiệp định (Paris) đó sẽ đẩy Việt Nam Cộng hòa vào thế nguy hiểm
Richard Nixon: Nó (Việt Nam Cộng hòa) phải tự chống đỡ thôi... Nếu nó chết thì cứ để cho nó chết. Nó lớn rồi, chúng ta không thể cứ cho nó bú mớm mãi được.

Ngày 23 tháng 1 năm 1973, Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành Công điện số 004-TT/CĐ gửi Thủ tướng chính phủ, các đô, tỉnh, thị trưởng, Tổng Tham mưu trưởng và Tư lệnh các Quân đoàn, quân khu "ra lệnh treo cờ trên toàn quốc" nhằm "tràn ngập lãnh thổ bằng cờ quốc gia để xác nhận phần đất và phần dân".[118] Trong đó ấn định ngày giờ cụ thể: "Ngày giờ có thể là 12 giờ trưa, ngày thứ Tư, 24 tháng 1 năm 1973. Ngày giờ này sẽ được xác nhận vào sáng thứ Tư, 24 tháng 1 năm 1973 vừa bằng công điện vừa bằng hai đài phát thanh quốc gia và quân đội".[118] Cùng ngày, thực hiện công điện của Nguyễn Văn Thiệu, tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng hòa ra lệnh cho quân lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện chiến dịch "Tràn ngập lãnh thổ". Cụ thể: "Yêu cầu các nơi nhận lãnh ngay Quốc kỳ tại cơ quan tiếp vận liên hệ. Theo tiêu chuẩn mỗi quân nhân ba lá và phân phối cho toàn thể quân nhân các đơn vị hành quân. Thực hiện cắm cờ trong vùng hành quân tại các vị trí trọng yếu: Đình, chùa, nhà thờ, trường học, cầu cống, đồi núi, cao điểm, nhà dân chúng…"[119] Bằng hành động được coi là sự vi phạm Hiệp định Paris này, Nguyễn Văn Thiệu hy vọng quân Việt Nam Cộng Hòa có thể kiểm soát thêm một số lãnh thổ trước khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam.

Những ngày cuối cùng

Thất thế

 
Nguyễn Văn Thiệu bên tấm bản đồ thế giới.

Cuối năm 1974, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có 370.000 quân bố trí trên toàn lãnh thổ miền Nam.[120] Họ đồng thời nhận được nguồn cung khí tài quân sự dồi dào từ miền Bắc.[121] Ngày 12 tháng 12, Quân Giải phóng phát động tấn công tỉnh Phước Long, mục đích thăm dò phản ứng của quốc tế, nhất là của Hoa Kỳ, nhằm chuẩn bị cho việc triển khai những kế hoạch tiếp theo.[122] Họ nhanh chóng chiếm ưu thế, vây xiết lực lượng Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại Phước Long.[123][124]

Ngày 2 tháng 1 năm 1975, Tổng thống Thiệu chủ tọa một cuộc họp khẩn cấp với Trung tướng Dư Quốc Đống, người phụ trách tình hình Phước Long, cùng một số sĩ quan cấp cao khác. Tướng Đống trình bày kế hoạch giải vây Phước Long nhưng bị từ chối do Quân lực Việt Nam Cộng hòa khi đó thiếu khả năng không vận và không còn đủ quân trừ bị để tăng viện.[124][125] Trên thực tế thì vào lúc đó, các thành viên bộ chỉ huy đều có chung suy nghĩ là quân phòng thủ không thể cầm cự đủ lâu để đợi quân tiếp viện.[126] Trước tình thế bất lợi, ông Thiệu quyết định nhượng toàn bộ tỉnh này cho cộng sản, vì nó được xem là kém quan trọng hơn Tây Ninh, Pleiku, hoặc Huế cả về mặt kinh tế, chính trị lẫn nhân khẩu.[127]

Ngày 6 tháng 1 năm 1975, Phước Long thất thủ, trở thành tỉnh lỵ đầu tiên ở miền Nam vĩnh viễn rơi vào tay Quân Giải phóng. Quân lực Việt Nam Cộng hòa chịu thương vong nặng nề khi chỉ 1/6 lực lượng ban đầu sống sót.[128] Theo dõi tình hình chiến sự, Lê Duẩn tự tin tuyên bố "tình hình hiện nay khác với trước rất nhiều […] trong khi thế lực của ta lớn lên nhanh thì địch càng xuống dốc."[129] Nhận thấy sự suy yếu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa khi không đủ khả năng phản kích chiếm lại những vùng đã mất, hay quan trọng hơn cả là Hoa Kỳ sẽ không can thiệp quân sự ở miền Nam,[130][122] giới lãnh đạo Hà Nội quyết định phát động Chiến dịch 275 nhắm vào khu vực Cao nguyên Trung phần.[131]

Quân Giải phóng chọn Thị xã Buôn Ma Thuột[132] làm mục tiêu then chốt của cuộc tấn công vì đây là trung tâm chỉ huy, tác chiến và hậu cần, kỹ thuật khu vực của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.[133] Tư lệnh Quân Giải phóng là Đại tướng Văn Tiến Dũng bố trí nghi binh ở khu vực bắc Tây Nguyên khiến Thiếu tướng Phạm Văn Phú, chỉ huy Quân đoàn II Việt Nam Cộng hòa, phải chuyển một phần binh lực tới PleikuKon Tum để đối phó, dẫn tới cánh Buôn Ma Thuột bị sơ hở.[134][135] Quân Giải phóng lúc này bí mật di chuyển lực lượng lớn về phía Nam, qua đó áp đảo quân phòng thủ Buôn Ma Thuột với tỷ lệ 8 trên 1.[136] Ngày 10 tháng 3 năm 1975, trận Buôn Ma Thuột bắt đầu và kết thúc chỉ sau vỏn vẹn 8 ngày.[137] Trong trận này, Quân Giải phóng bố trí thế trận hiểm, chia cắt chiến lược, khiến các cụm quân Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị cô lập không thể tiếp ứng lẫn nhau.[138]

Ngày 18 tháng 3 năm 1975, Quân Giải phóng giành hoàn toàn quyền kiểm soát tỉnh Đắk Lắk.[139][140] Các lực lượng Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng di chuyển về phía đông nhằm ngăn chặn Quân Giải phóng đánh xuống các tỉnh vùng duyên hải Nam Trung Bộ.[141][142] Trước bước tiến mạnh mẽ của quân cộng sản, Tổng thống Thiệu đã cử một phái đoàn đến Washington vào đầu tháng 3 năm 1975, đề nghị Hoa Kỳ tăng viện trợ quân sự khẩn cấp. Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin cũng bay tới Washington để trình bày vụ việc với Tổng thống Gerald Ford. Trước tình hình ngày càng trở nên vô vọng đối với Việt Nam Cộng hòa, Quốc hội Hoa Kỳ thể hiện thái độ miễn cưỡng và chỉ thông qua một ngân khoản viện trợ trị giá 700 triệu $ so với con số 1,45 tỷ $ được đề xuất ban đầu.[143][144] Tuy vậy, chính quyền Ford tiếp tục khuyến khích ông Thiệu hãy giữ vững lòng tin với người Mỹ.[145]

Trong khoảng thời gian này, trước áp lực ngày một gia tăng, Nguyễn Văn Thiệu càng lúc càng trở nên đa nghi và hoang tưởng hơn trước. Theo lời Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, một trong những phụ tá thân cận nhất của tổng thống, thì ông Thiệu "luôn đề phòng một cuộc đảo chính lật đổ mình."[146] Ông tuyên bố rằng "trong tình hình chính trị Việt Nam, phải cẩn thận ngay cả với dấu chấm, dấu phẩy."[147] Chính sự tự cô lập bản thân này khiến Nguyễn Văn Thiệu thường từ chối "sự cộng tác của nhiều người giỏi, công việc tham mưu xứng đáng, tham khảo ý kiến và hợp tác."[148] Ông hiếm khi trao đổi cùng các tướng và thành viên ban tham mưu, đồng thời cũng nổi tiếng vì đã ra tay triệt hạ nhiều người tài do sợ họ lấn át mình.[149] Các sĩ quan trung thành đều chấp hành nghiêm ngặt mệnh lệnh từ ông Thiệu, đồng ý để ông "đưa ra mọi quyết định về cách thức tiến hành cuộc chiến".[150][151][152]

Triệt thoái Cao nguyên Trung phần

 
Bản đồ tái phối trí lực lượng của Tổng thống Thiệu

Ngày 11 tháng 3 năm 1975, sau khi kết luận rằng không còn hy vọng nhận được gói quân viện trị giá 300 triệu $ từ Hoa Kỳ,[120][153] Nguyễn Văn Thiệu đã cho mời ba cố vấn quân sự thân cận nhất của mình là Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên và Trung tướng Đặng Văn Quang đến Dinh Độc Lập để họp.[139][154] Sau khi phân tích tình hình, ông Thiệu lấy ra một tấm bản đồ quốc gia khổ nhỏ và bàn luận về việc tái phối trí lực lượng để "bảo vệ những vùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới thật sự quan trọng."[155][156]

Trên bản đồ, Nguyễn Văn Thiệu khoanh vùng những khu vực mà ông cho là quan trọng nhất, trong đó bao gồm toàn bộ Vùng III và Vùng IV chiến thuật cùng với khu vực duyên hải, nơi có những giếng dầu mới được phát hiện trên thềm lục địa.[151] Ông cũng chỉ ra những khu vực hiện đang nằm dưới sự kiểm soát của Quân Giải phóng cần phải được chiếm lại bằng mọi giá, vì đây là nơi tập trung của các nguồn tài nguyên thiên nhiên như gạo, cao su và khu công nghiệp.[151] Theo ông, những khu vực này đủ để Việt Nam Cộng hòa tồn tại và phát triển thành một quốc gia riêng.[157] Đối với Vùng I và Vùng II chiến thuật, ông Thiệu vẽ một số vạch cắt ngang các vùng duyên hải, cho rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa nên giữ những gì có thể giữ, tùy theo khả năng, nhưng có thể rút lui về phía Nam nếu cần thiết. Đây là chiến lược mà ông Thiệu gọi là "đầu bé, đít to" – thả lỏng phần trên, giữ chặt phần dưới.[157][151]

Ngày 14 tháng 3 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu cùng 3 người trên bay tới Cam Ranh để gặp Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn II. Sau khi được hỏi về tình hình, Tướng Phú yêu cầu thêm quân và trực thăng. Tuy nhiên, lục quân lúc này không còn quân trừ bị và không quân thì không còn đủ khả năng để tiến hành trực thăng vận.[158] Nguyễn Văn Thiệu quyết định rằng mục tiêu ưu tiêu của Quân đoàn II là tái chiếm Buôn Mê Thuột,[159] cho rằng nơi này quan trọng hơn Pleiku và Kon Tum cả về mặt kinh tế lẫn nhân khẩu.[160] Sách lược của ông là tập trung tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam, trong đó có Sư đoàn 320 thiện chiến chiếm giữ Buôn Ma Thuột, thay vì đối đầu với các toán du kích của Quân Giải phóng.[161] Nhằm tạo yếu tố bất ngờ, Tướng Phú quyết định rút lui về phía biển theo Tỉnh lộ 7B, một con đường nhỏ, hư hỏng nặng, trước khi triển khai lực lượng và tiến hành chiến dịch tái chiếm Buôn Mê Thuột.[162][163]

Các tướng lĩnh được lệnh giữ bí mật, không được để cho phía Hoa Kỳ biết.[164] Cuộc rút lui quy mô lớn với hàng trăm nghìn quân nhân và thường dân được dự đoán sẽ rất nguy hiểm. Tuy nhiên, nó đã được tổ chức một cách vội vã mà không có kế hoạch cụ thể, dẫn tới sự thiếu phối hợp giữa các bên. Nhiều sĩ quan cao cấp không hề hay biết về lệnh triệt thoái, một số đơn vị bị bỏ lại sau hoặc rút lui một cách rời rạc. Sự việc càng trở nên nghiêm trọng khi đoàn xe vận tải bị trễ ba ngày do cầu bị hỏng.[165][166] Quân Giải phóng được lệnh truy kích, đến ngày 18 tháng 3 năm 1975 thì đuổi kịp đoàn xe, gây ra tổn thất nghiêm trọng.[167][168]

Ngày 18 tháng 3 năm 1975, lực lượng Biệt động quân Việt Nam Cộng hòa cùng thiết xa đánh chặn vô tình bị không quân oanh tạc nhầm, phải hứng chịu thương vong lớn.[169] Lợi dụng lợi thế về mặt số lượng, Quân Giải phóng tiến hành truy kích, đánh phá đoàn di tản.[170] Sau 9 ngày, chỉ có 20.000 trong số tổng cộng 60.000 quân và 25% trong số 180.000 thường dân tham gia di tản đến được Tuy Hòa vào ngày 27 tháng 3.[171][172] Lệnh di tản của ông Thiệu đến quá trễ đã biến cuộc triển khai này trở thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn, tạo nên một "con đường máu" cùng với cái chết của hơn 150.000 người.[173][172] Sau chiến thắng với tầm mức không ngờ, Quân Giải Phóng đã hoàn toàn làm chủ toàn bộ Cao nguyên Trung phần[174] trong khi chiến dịch phản công nhằm chiếm lại Buôn Ma Thuột của Quân lực Việt Nam Cộng hòa không bao giờ được hiện thực hóa vì Quân đoàn II chỉ còn 25% binh lực ban đầu.[142][175]

Từ chức

Tuy nhiên đề nghị vay nợ này bị Quốc hội Mỹ bác bỏ. Khi các lực lượng quân sự của Quân đội nhân dân Việt NamQuân Giải phóng miền Nam Việt Nam sắp giành được chiến thắng, do sức ép lớn từ các tướng dưới quyền như Trần Văn Đôn, Cao Văn Viên, thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn, bộ trưởng kinh tế Nguyễn Văn Hảo,[176] ông từ chức vào ngày 21 tháng 4 năm 1975, trao quyền cho Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay làm tổng thống.

Khi từ chức, Nguyễn Văn Thiệu đã xuất hiện trên truyền hình suốt 3 giờ đồng hồ tuyên bố từ chức, ông trách móc việc thoái thác trách nhiệm của chính phủ Mỹ bằng những lời cay cú công khai như:

Các ông đã tìm đường rút lui trong danh dự. Hiện nay khi quân đội chúng tôi thiếu vũ khí, đạn dược, máy bay trực thăng, không có máy bay B-52 yểm trợ, các ông đòi hỏi chúng tôi làm một điều không thể làm được giống như dùng đá lấp biển, giống như các ông đưa tôi chỉ có 3 đôla mà thúc giục chúng tôi đi bằng máy bay, ghế hạng nhất, mướn phòng 300 đôla một ngày ở khách sạn, ăn ba hay bốn miếng bít-tết và uống bảy tám ly rượu Tây một bữa. Đấy là điều kỳ quặc không bao giờ làm được.

Nguyễn Văn Thiệu đã đổ lỗi thất bại là do người Mỹ bằng những lời lẽ nửa tức giận, nửa thách thức:[177]

“Mỹ đánh không lại Cộng sản nên bỏ mặc Việt Nam cộng hòa đánh một mình thì làm sao ăn. Có giỏi thì Mỹ vô đây lần nữa…”.

Và trong cuộc diễn thuyết cuối cùng trên tivi đó, ông cũng đã lên án thẳng Hoa Kỳ là "một đồng minh vô nhân đạo với những hành động vô nhân đạo."[178]

Lưu vong

Trong bài diễn văn từ chức ngày 21 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố "tôi từ chức nhưng tôi không đào ngũ" và khẳng định rằng ông sẽ tái ngũ và tiếp tục chiến đấu trong vai trò một vị tướng "kề bên anh em chiến sĩ".[b][179] Tuy nhiên, ông sau đó đã bí mật rời khỏi Sài Gòn sang Đài Loan trên một chiếc phi cơ C-118 vào đêm ngày 25–26 tháng 4 năm 1975.[180][181] Để cho sự ra đi này được danh chính ngôn thuận, Tổng thống Trần Văn Hương đã ký nghị định đề cử ông Thiệu làm đặc sứ Việt Nam Cộng hòa đến Đài Bắc phúng điếu Tưởng Giới Thạch, người đã qua đời từ 3 tuần trước, vào ngày 5 tháng 4 năm 1975.[182][183] Cuộc ra đi của ông Thiệu và các trợ lý diễn ra dưới sự sắp đặt của Thomas Polgar, trưởng CIA ở Sài Gòn.[184] Theo ký giả Morley Safer, CIA cũng dính dáng đến việc "chuyên chở nhiều va-li chứa đầy kim loại nặng bằng máy bay" ra nước ngoài, mà "kim loại nặng" ở đây ám chỉ tới vàng. Tuy nhiên, theo phóng sự điều tra của báo Tuổi Trẻ, ông Thiệu tuy có ý định chuyển 16 tấn vàng ra nước ngoài, song đã không thể thực hiện. Số vàng được bàn giao cho Ủy ban Quân quản và nằm trong số 40 tấn vàng mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bán ra quốc tế vào năm 1979 để "giải quyết những vấn đề khó khăn cấp bách của quốc gia, trong đó có miếng ăn của người dân".[185][186]

Sau khi đến Đài Bắc, Nguyễn Văn Thiệu được cho là đã sống tại nhà anh trai Nguyễn Văn Kiểu, Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Đài Loan, người có một căn nhà ở vùng ngoại ô.[187] Vì con trai theo học tại Anh, ông cùng gia đình chuyển tới đây và sinh sống tại một căn nhà ở Kingston upon Thames, nằm ở tây nam Thành phố Luân Đôn.[188] Trong thời gian ở Anh, ông Thiệu khá kín tiếng, đến nỗi Văn phòng Đối ngoại Anh vào năm 1990 không rõ ông đang làm gì, ở đâu. Đầu thập niên 1990, gia đình ông tới Foxborough thuộc vùng ngoại vi Boston, Massachusetts và sống một cuộc sống thầm lặng trong quãng đời còn lại ở đây. Nguyễn Văn Thiệu không viết hồi ký, hiếm khi trả lời phỏng vấn và từ chối tiếp khách. Ngoài việc nhìn thấy ông Thiệu dắt chó đi dạo, hàng xóm hiếm khi có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu ông.[189] Những lần xuất hiện ít ỏi của ông trước dư luận quốc tế sau khi lưu vong gồm có bộ phim tài liệu Việt Nam cuộc chiến 10000 ngày của Mỹ sản xuất năm 1980 và cuộc phỏng vấn với tạp chí Spiegel của Tây Đức vào năm 1979, trao đổi về quãng thời gian nắm giữ cương vị tổng thống miền Nam Việt Nam.[190][191]

Việc Nguyễn Văn Thiệu ít khi xuất hiện trước công chúng là do lo ngại sự thù địch của người Việt Nam tỵ nạn cộng sản, những người tin rằng ông là nhân tố chính khiến Việt Nam Cộng hòa chiến bại.[188] Tuy nhiên, ông từng có một số buổi trao đổi với cộng đồng người Việt sau khi sang Hoa Kỳ định cư. Năm 1992, ông Thiệu lên tiếng tố cáo sự xích lại gần nhau giữa Hoa Kỳ và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng từ năm 1993 thì lại có ý muốn thiện chí tham gia vào các cuộc thảo luận hòa giải dân tộc, nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng kiều bào có cơ hội trở về nước.[192] Trong một buổi phỏng vấn năm 1993, ông cho rằng Việt Nam cần phải được dân chủ hóa, nhưng phải bằng một giải pháp chính trị ôn hòa, không bạo động "để tránh một cuộc nội chiến gây hận thù triền miên cho các thế hệ mai sau". Cũng trong buổi phỏng vấn này, ông nói rằng mình đã không làm tròn được nhiệm vụ mà nhân dân giao phó, dù đã "cố gắng trong khả năng chức vị của ông đối với cộng sản và kể cả đối với đồng minh", đồng thời tuyên bố "nhận lãnh trách nhiệm hoàn toàn trước nhân dân và lịch sử".[193]

Qua đời

Sau khi đột quỵ và hôn mê từ ngày 27 tháng 9 năm 2001, Nguyễn Văn Thiệu qua đời ngày 29 tháng 9 tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess, Boston, Massachusetts, thọ 78 tuổi.[194][195] Tang lễ của ông được cử hành tại Nhà tang lễ Eaton & Mac Kay ở Newton, Massachusetts. Thi thể của Nguyễn Văn Thiệu được hỏa táng nhưng không rõ nơi đặt tro cốt. Theo lời người vợ Nguyễn Thị Mai Anh thì trước lúc qua đời, ông bày tỏ mong muốn được an táng ở quê nhà Phan Rang, nếu không "thì hỏa táng rải một nửa xuống biển, một nửa trên núi".[196]

Đời tư

Gia đình

Vợ chồng Tổng thống Thiệu bên cạnh vợ chồng Tổng thống Nixon tại tư dinh của Nixon ở San Clemente, California

Năm 1951, Nguyễn Văn Thiệu kết hôn với Nguyễn Thị Mai Anh, con gái thứ bảy trong một gia đình có mười anh chị em. Vợ chồng ông Thiệu, bà Mai Anh có với nhau 1 con gái, 2 con trai, lần lượt là Nguyễn Thị Tuấn Anh, Nguyễn Quang Lộc và Nguyễn Thiệu Long.[197] Trưởng nữ Tuấn Anh, năm 1973 kết hôn cùng Nguyễn Tấn Triều – con trai Tổng giám đốc Air Vietnam Nguyễn Tấn Trung – trong một đám cưới được liệt vào hàng "vương giả, lớn nhất, sang trọng nhất" miền Nam thời bấy giờ.[198] Có rất ít thông tin về hai người con còn lại, chỉ biết rằng một trong số họ theo học tại Eton CollegeBerkshire, Anh. Đây được cho là một trong những nguyên nhân chính khiến gia đình ông Thiệu chuyển tới Anh sinh sống và ở lại đây hơn một thập kỷ trước khi di cư sang Hoa Kỳ.[188]

Ngoại ngữ

Nguyễn Văn Thiệu nói được tiếng Pháp, tiếng Anh và thường trả lời phỏng vấn bằng hai ngôn ngữ này. Ông học tiếng Pháp trên ghế nhà trường. Về phần tiếng Anh thì ông không học qua trường lớp mà chỉ thông qua các phụ tá của mình. Tuy nhiên, kỹ năng tiếng Anh của ông được đánh giá khá cao, thể hiện qua cuộc đối thoại không cần thông dịch viên, dài 8 tiếng đồng hồ với Tổng thống Richard Nixon vào ngày 8 tháng 6 năm 1969.[199][3]

Tín ngưỡng

Nguyễn Thị Mai Anh sinh ra trong một gia đình Công giáo toàn tòng ở Mỹ Tho, có truyền thống Đông y. Nguyễn Văn Thiệu vốn là một Phật tử, song đã cải sang đạo Công giáo của vợ vào năm 1958.[200] Một số người đã chỉ trích hành động này, cho rằng ông Thiệu cải đạo chỉ để mưu cầu lợi ích chính trị và tìm kiếm sự thăng tiến trong quân đội.[9] Là một tín hữu Công giáo, Nguyễn Văn Thiệu không bỏ lỡ Thánh Lễ Chúa Nhật nào tại nhà thờ.[201] Tuy vậy, gia đình ông chịu sự ảnh hưởng lớn từ văn hóa truyền thống Việt Nam. Ông Thiệu xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, còn bà Mai Anh thì chịu ảnh hưởng khá lớn về nề nếp, gia phong của một gia đình phong kiến, mang nặng tư tưởng Nho giáo.[202] Trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, Nguyễn Văn Thiệu cho tu sửa nhiều chùa chiền, đền thờ và Văn Thánh miếu thờ tự Khổng Tử.[203] Năm 1967, ông đưa gia đình về quê để vinh quy bái tổ theo nghi thức truyền thống Nho giáo sau khi đắc cử tổng thống. Ngoài ra, ông cũng thường dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng và phát biểu trước công chúng trong các dịp Giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm.[204]

Nguyễn Văn Thiệu là một người đặc biệt tin vào bói toán, tử viphong thủy.[205][203] Cho rằng đảo Ninh Chữ gần Phan Rang có phong thủy rất tốt, ông đã cho chuyển hết mồ mả tổ tiên tới đây. Ông còn cử ra đó một đơn vị canh gác tới 400 lính. Tuy nhiên, vào tháng 4 năm 1975, đơn vị này đã nổi loạn, dùng máy ủi san phẳng các ngôi mộ.[206][205] Ông cũng đã cho đổi ngày tháng năm sinh từ ngày 5 tháng 4 năm 1923 thành ngày 24 tháng 12 năm 1924. Đây được cho là một sự thay đổi có chủ đích, vì ngày sinh mới của ông nhằm vào giờ Tý, ngày Đinh Sửu, tháng Tý và năm Tý, mà trong tử vi đẩu số thì đây là lá số "tam trùng quí số" hay "tam tý vi vương",[c] đồng nghĩa với việc sở hữu "chân mệnh đế vương".[3][208] Nguyễn Văn Thiệu có am hiểu nhất định về phong thủy và rất tin tưởng một vị thầy bói tên là Huỳnh Liên, một nhân vật được người đương thời mệnh danh là "Quỷ Cốc tiên sinh". Mong muốn bảo toàn cơ nghiệp, ông đã lệnh cho thầy phác họa đồ hình phong thủy,[d] trấn yểm long mạch của nhiều vị trí, mà quan trọng nhất là cụm long mạch Dinh Độc Lập, Thư viện Quốc gia, Nhà thờ Đức BàHồ Con Rùa.[207][209]

Tặng thưởng

  
     
     
     
     
Bảo quốc Huân chương
(Đệ nhất đẳng)
Bảo quốc Huân chương
(Đệ tam đẳng)
Lục quân Huân chương
(Đệ nhất hạng)
Không quân Huân chương
(Đệ nhất hạng)
Hải quân Huân chương
(Đệ nhất hạng)
Quân công Bội tinh Quân phong Bội tinh
(Hạng II)
Quân vụ Bội tinh
(Hạng II)
Danh dự Bội tinh
(Hạng II)
Anh dũng Bội tinh
(Nhành dương liễu)
Vinh công Bội tinh
Chiến dịch Bội tinh Legion of Merit
(Hạng II)
(Hoa Kỳ)
Croix de guerre des théâtres
d'opérations extérieures

(Pháp)

Ghi chú

  1. ^ Tiền thân của trường Chỉ huy và Tham mưu sau này.
  2. ^ Nguyên văn: "…Dù mất một Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, quân đội vẫn còn Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kề bên anh em chiến sĩ…"
  3. ^ Một số ý kiến cho rằng với ngày sinh mới này, thì Nguyễn Văn Thiệu không chỉ trùng "tam Tý" mà trùng "tứ Tý" (trùng tứ quý mệnh) vì trong tử vi, nó thuộc cung Mệnh Viên, mà cung này cũng nằm ở Tý.[207]
  4. ^ Theo chuyên đề An ninh thế giới của báo Công an nhân dân, Nguyễn Văn Thiệu có mời thầy phong thủy Huỳnh Liên đến đàm đạo. Ông vẽ trước một đồ hình chữ "T", tương ứng với cụm sao Vua. Thầy Huỳnh Liên sau khi xem cũng phải thán phục tài chiêm tinh của ông, song kiến nghị vẽ thêm một đường thẳng. Theo thầy Huỳnh Liên, đây là hình chữ "chủ" (主), mà trong chữ "chủ" có chữ "vương" (王), làm vua mà không làm chủ thì mất quyền vào tay Nguyễn Cao Kỳ, tổng thống thành ra kẻ ngồi làm hình nộm. Nếu vừa "vương" vừa "chủ" thì mới đích thật có quyền hành trong tay. Nguyễn Văn Thiệu nghe theo, liền cho trấn yểm các vị trí mà thầy đã chọn.[207]

Tham khảo

  1. ^ Hoàng Xuân (8 tháng 9 năm 2015). “Thăm quê cố tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”. BBC News Tiếng Việt. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
  2. ^ a ă Nguyễn Tiến Hưng 2010, tr. 360.
  3. ^ a ă â b “Nguyễn Văn Thiệu (Kỳ 1): Chuyện ly kỳ về lá số tử vi”. Dân Việt. 29 tháng 11 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  4. ^ a ă Lamb 2001, tr. 1.
  5. ^ Tucker 2008, tr. 942.
  6. ^ Nguyễn Hòa (18 tháng 10 năm 2019). “Tranh luận về những năm cuối của VNCH và TT Nguyễn Văn Thiệu”. Nguoi Viet Online. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
  7. ^ “Nguyen Van Thieu”. The Daily Telegraph (bằng tiếng Anh). 1 tháng 10 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
  8. ^ Phong Hoàn Công 2008.
  9. ^ a ă Butterfield, Fox (1 tháng 10 năm 2001). “Nguyen Van Thieu Is Dead at 76; Last President of South Vietnam”. The New York Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  10. ^ Nông Huyền Sơn (6 tháng 9 năm 2016). “Chiến đoàn "ma" trong vụ đảo chính Ngô Đình Diệm”. An ninh thế giới. Báo Công an nhân dân điện tử. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  11. ^ a ă Jones 2003, tr. 414.
  12. ^ Nguyễn Quang Duy (14 tháng 6 năm 2018). “Chợ Lớn thời VNCH và thời nay”. BBC News Tiếng Việt. Melbourne. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  13. ^ Kahin 1986, tr. 180.
  14. ^ Vũ Quý Tùng Anh 2014, tr. 32.
  15. ^ Blair 2008, tr. 70.
  16. ^ a ă Jones 2003, tr. 435.
  17. ^ a ă Hammer 1987, tr. 299.
  18. ^ Bùi Văn Phú (1 tháng 11 năm 2017). “Tháng 11/1963: dòng họ Ngô Đình và Kennedy”. BBC News Tiếng Việt. California. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2021.
  19. ^ Hammer 1987, tr. 317.
  20. ^ a ă â b Phong Hoàn Công (21 tháng 4 năm 2010). “Tổng thống Sài Gòn cũ Nguyễn Văn Thiệu và hành trình chiến bại (kỳ II)”. An ninh thế giới. Báo Công an nhân dân điện tử. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  21. ^ Jones 2003, tr. 99–100.
  22. ^ a ă â Vũ Quý Tùng Anh 2014, tr. 34.
  23. ^ Kahin 1986, tr. 182.
  24. ^ Shaplen 1966, tr. 223.
  25. ^ Cosmas 2012, tr. 11–13.
  26. ^ McAllister 2008, tr. 762.
  27. ^ Moyar 2004, tr. 757.
  28. ^ a ă Moyar 2004, tr. 761.
  29. ^ Moyar 2004, tr. 762–63.
  30. ^ a ă Moyar 2004, tr. 763.
  31. ^ a ă Moyar 2004, tr. 318.
  32. ^ Kahin 1986, tr. 229–39.
  33. ^ Moyar 2004, tr. 326–27.
  34. ^ Kahin 1986, tr. 228–232.
  35. ^ Moyar 2004, tr. 326.
  36. ^ Kahin 1986, tr. 231.
  37. ^ Moyar 2004, tr. 316–19.
  38. ^ Kahin 1986, tr. 498.
  39. ^ Cosmas 2012, tr. 121.
  40. ^ a ă â Moyar 2004, tr. 769.
  41. ^ Moyar 2004, tr. 344.
  42. ^ Cosmas 2012, tr. 193.
  43. ^ Shaplen 1966, tr. 294.
  44. ^ Hunt 1965, tr. 10.
  45. ^ Shaplen 1966, tr. 295.
  46. ^ Karnow 1997, tr. 398.
  47. ^ Văn Nguyên Dưỡng 2014, tr. 100.
  48. ^ a ă â Kahin 1986, tr. 297.
  49. ^ Cosmas 2012, tr. 205.
  50. ^ a ă Kahin 1986, tr. 267–69.
  51. ^ “Demonstrations erupt in Saigon and Hue”. History (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  52. ^ Moyar 2004, tr. 774–75.
  53. ^ Moyar 2004, tr. 775.
  54. ^ VanDeMark 1991, tr. 80.
  55. ^ Nelson 2020, tr. 51.
  56. ^ Bùi Văn Phú (17 tháng 1 năm 2013). “Tướng Khánh 'đã liên lạc với Mặt Trận'. BBC News Tiếng Việt. California. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2021.
  57. ^ Kahin 1986, tr. 294–95.
  58. ^ Kahin 1986, tr. 298.
  59. ^ Kahin 1986, tr. 512.
  60. ^ Kahin 1986, tr. 299–301.
  61. ^ Mark Trần (4 tháng 2 năm 2019). “Điệp viên Phạm Ngọc Thảo: Cộng sản hay Quốc gia?”. BBC News Tiếng Việt. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  62. ^ Kahin 1986, tr. 303.
  63. ^ Cosmas 2012, tr. 206–207.
  64. ^ Blair 2008, tr. 134.
  65. ^ Hoàng Hải Vân (25 tháng 12 năm 2012). “Suýt làm Thủ tướng Việt Nam cộng hòa”. Báo Thanh Niên. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2021.
  66. ^ Hoàng Hải Vân (26 tháng 12 năm 2012). “Cái chết bi thảm và sứ mệnh hoàn hảo”. Báo Thanh Niên. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2021.
  67. ^ Karnow 1997, tr. 396–401; 694–95.
  68. ^ Bùi Diễm & Chanoff 1999, tr. 146–47.
  69. ^ Nguyễn Cao Kỳ & Wolf 2002, tr. 132–33.
  70. ^ Bùi Diễm & Chanoff 1999, tr. 147.
  71. ^ Karnow 1997, tr. 396–401, 694–95.
  72. ^ Vũ Quý Tùng Anh 2014, tr. 35.
  73. ^ “1965: Ky becomes premier of South Vietnam”. History (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
  74. ^ Moyar 2004, tr. 781–82.
  75. ^ McAllister 2008, tr. 777.
  76. ^ Bùi Văn Phú (23 tháng 11 năm 2019). “Thượng toạ Trí Quang từ ảnh hưởng đến sự im lặng”. BBC News Tiếng Việt. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
  77. ^ Karnow 1997, tr. 460–65.
  78. ^ Kahin 1986, tr. 428–32.
  79. ^ Nelson 2020, tr. 66.
  80. ^ Nelson 2020, tr. 69.
  81. ^ Vũ Dũng (24 tháng 4 năm 2015). “Kỳ 3: Đồng sàng dị mộng”. Báo điện tử Quân đội nhân dân. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2021.
  82. ^ Song Kỳ (7 tháng 8 năm 2014). “Ly kỳ chuyện Đạo Dừa tranh cử Tổng thống Việt Nam Cộng hòa”. Lao động. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2021.
  83. ^ Nelson 2020, tr. 70.
  84. ^ Nguyễn Cao Kỳ & Wolf 2002, tr. 249.
  85. ^ Chánh Trinh 2014, tr. 119.
  86. ^ Nelson 2020, tr. 73.
  87. ^ Chánh Trinh 2014, tr. 115.
  88. ^ Nelson 2020, tr. 75.
  89. ^ Chánh Trinh 2014, tr. 117.
  90. ^ Karnow 1997, tr. 465–67.
  91. ^ “NFLSV Statement On Truce For Holidays | Hanoi VNA International Service” [Tuyên bố của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam về việc ngừng bắn nhân dịp lễ tết] (PDF) (bằng tiếng Anh). Vietnam Center and Sam Johnson Vietnam Archive. 20 tháng 11 năm 1967. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2021.
  92. ^ Trần Thị Hoạt (13 tháng 2 năm 2016). “Tết Mậu Thân 1968: Một cái tết chấn động địa cầu”. Báo Vĩnh Long. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
  93. ^ Việt Nguyên (3 tháng 3 năm 2018). “Câu chuyện nửa thế kỷ: Năm 1968”. Người Việt Online. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
  94. ^ a ă Stowe, Judy (2 tháng 10 năm 2001). “Nguyen Van Thieu”. The Independent (bằng tiếng Anh). Vương quốc Anh. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
  95. ^ a ă â Dougan & Weiss 1983, tr. 116.
  96. ^ Dougan & Weiss 1983, tr. 118.
  97. ^ Smedberg 2008, tr. 196.
  98. ^ a ă Nguyễn Kỳ Phong (28 tháng 2 năm 2018). “Việt Nam Cộng Hòa trước và sau Tết Mậu Thân 1968”. BBC News Tiếng Việt. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
  99. ^ Dougan & Weiss 1983, tr. 118–19.
  100. ^ a ă â Dougan & Weiss 1983, tr. 119.
  101. ^ Hoàng An, Thanh Liêm & Thanh Nhã 1982, tr. 18.
  102. ^ Zaffiri 1994, tr. 293.
  103. ^ Hoàng Ngọc Lung 1981, tr. 135–36.
  104. ^ Nigel Cawthorne, Chiến tranh Việt Nam - Được và Mất, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr. 344
  105. ^ Frances FitzGerald, tr. 513
  106. ^ Chánh Trinh 2014, tr. 216–17.
  107. ^ Chánh Trinh 2014, tr. 217.
  108. ^ Chánh Trinh 2014, tr. 218.
  109. ^ Penniman 1972, tr. 126–46.
  110. ^ FitzGerald 2002, tr. 528.
  111. ^ Hoàng Hải Vân; Tấn Tú (15 tháng 3 năm 2004). “Ông tướng tình báo bí ẩn và những điệp vụ siêu hạng (kỳ 23): "Xúi" Nguyễn Cao Kỳ đảo chính lật Nguyễn Văn Thiệu”. Báo Nhân Dân. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
  112. ^ P.H (27 tháng 3 năm 2011). “Chuyện về hai lần khóc trong đời ông Nguyễn Cao Kỳ - Giáo dục Việt Nam”. Báo Giáo dục. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
  113. ^ “Hội thảo: Hoàn cảnh khiến VNCH chọn 'dân chủ một phần', dân thấy 'bị phản bội'. VOA. 22 tháng 10 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
  114. ^ Fear, Sean (4 tháng 3 năm 2017). “The Feud That Sank Saigon”. The New York Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
  115. ^ Võ Nguyên Giáp - Tổng tập hồi ký. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân 2011. Trang 1148
  116. ^ Kissinger, Henry. À la maison blanche 1968-1973. Edition Fayard. Paris. 1979
  117. ^ Phim tài liệu "The Vietnam war". PBS, 2017. Tập 9
  118. ^ a ă Công điện số 004-TT/CĐ ngày 23.01.1973, của Tổng thống chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229
  119. ^ Công điện hỏa tốc số 006-TTM/TC.CTCT/KH.1 Ngày 23.01.1973, của Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân lực chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229
  120. ^ a ă Willbanks 2004, tr. 232.
  121. ^ Willbanks 2004, tr. 209.
  122. ^ a ă Mạnh Thắng (22 tháng 4 năm 2020). “Nghệ thuật xuyên thủng "lá chắn" Đường 14-Phước Long”. Quân đội nhân dân Online. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2021.
  123. ^ Hồ Khang và đồng nghiệp 2013, tr. 217.
  124. ^ a ă Willbanks 2004, tr. 222–25.
  125. ^ Hồ Khang và đồng nghiệp 2013, tr. 219.
  126. ^ Cao Văn Viên 1983, tr. 63–64.
  127. ^ Willbanks 2004, tr. 225.
  128. ^ Willbanks 2004, tr. 226.
  129. ^ Hồ Khang và đồng nghiệp 2013, tr. 221–22.
  130. ^ Hồ Khang và đồng nghiệp 2013, tr. 220.
  131. ^ Willbanks 2004, tr. 228.
  132. ^ Dougan & Fulghum 1983, tr. 48–50.
  133. ^ Mạnh Thắng (3 tháng 1 năm 2017). “Nghệ thuật nghi binh trong Chiến dịch Tây Nguyên 1975”. Quân đội nhân dân Online. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2021.
  134. ^ Cao Văn Viên 1983, tr. 69.
  135. ^ Trần Nam Chuân (7 tháng 4 năm 2015). “Chiến dịch Tây Nguyên, bài học độc đáo về nghệ thuật mở đầu cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa xuân 1975”. Báo Nhân Dân. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2021.
  136. ^ Dougan & Fulghum 1983, tr. 49.
  137. ^ Willbanks 2004, tr. 234, 238.
  138. ^ Phương Lâm (30 tháng 4 năm 2017). “Đại tướng Văn Tiến Dũng: Người lĩnh xướng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử”. Kinh tế & Đô thị. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2021.
  139. ^ a ă Dougan & Fulghum 1983, tr. 51.
  140. ^ Willbanks 2004, tr. 238.
  141. ^ Willbanks 2004, tr. 240.
  142. ^ a ă Dougan & Fulghum 1983, tr. 63.
  143. ^ Isaacs 1983, tr. 314.
  144. ^ Thiện Ý (13 tháng 4 năm 2018). “Chế độ VNCH ở Nam Việt Nam đã bị cưỡng tử như thế nào?”. VOA Tiếng Việt. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2021.
  145. ^ Isaacs 1983, tr. 320.
  146. ^ Willbanks 2004, tr. 229.
  147. ^ Nguyễn Tiến Hưng & Schecter 1990, tr. 351.
  148. ^ Nguyễn Tiến Hưng & Schecter 1990, tr. 351–52.
  149. ^ Nguyễn Tiến Hưng & Schecter 1990, tr. 352.
  150. ^ Cao Văn Viên 1983, tr. 78.
  151. ^ a ă â b Willbanks 2004, tr. 235.
  152. ^ Dougan & Fulghum 1983, tr. 53.
  153. ^ Cao Văn Viên 1983, tr. 76.
  154. ^ Nguyễn Tiến Hưng 2010, tr. 48–49.
  155. ^ Cao Văn Viên 1983, tr. 77.
  156. ^ Nguyễn Tiến Hưng 2010, tr. 49.
  157. ^ a ă Nguyễn Tiến Hưng & Schecter 1990, tr. 357.
  158. ^ Nguyễn Tiến Hưng & Schecter 1990, tr. 359.
  159. ^ Dougan & Fulghum 1983, tr. 54.
  160. ^ Nguyễn Tiến Hưng 2010, tr. 52.
  161. ^ Nguyễn Tiến Hưng & Schecter 1990, tr. 360.
  162. ^ Nguyễn Tiến Hưng & Schecter 1990, tr. 361.
  163. ^ Dougan & Fulghum 1983, tr. 54–58.
  164. ^ Nguyễn Tiến Hưng 2010, tr. 60.
  165. ^ Willbanks 2004, tr. 239.
  166. ^ Willbanks 2004, tr. 242.
  167. ^ Dougan & Fulghum 1983, tr. 58.
  168. ^ Willbanks 2004, tr. 242–43.
  169. ^ Nguyễn Tiến Hưng 2010, tr. 59–60.
  170. ^ Dougan & Fulghum 1983, tr. 60.
  171. ^ Hosmer, Kellen & Jenkins 1980, tr. 96.
  172. ^ a ă Willbanks 2004, tr. 245.
  173. ^ Phạm Huấn 1987, tr. 158.
  174. ^ Willbanks 2004, tr. 252–55.
  175. ^ Willbanks 2004, tr. 243.
  176. ^ “Kỳ 9: Cuộc từ chức đầy kịch tính của Tổng thống Thiệu”. Báo Tiền Phong. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  177. ^ “Chiến dịch Huế - Đà Nẵng”. Báo Phú Yên online. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  178. ^ “Kỳ 2: Chuyến ra đi bí mật”. Tuổi Trẻ online. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  179. ^ Browne 1975.
  180. ^ Gibson 2018.
  181. ^ New York Times, 26 tháng 4 năm 1975.
  182. ^ Phong Hoàn Công 2007.
  183. ^ Nguyễn Tiến Hưng 2020.
  184. ^ “Chuyến bay định mệnh của Nguyễn Văn Thiệu (2)”. Báo Tri thức và Cuộc sống. 7 tháng 10 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  185. ^ Hà Anh (20 tháng 4 năm 2020). “Chuyện người tiếp quản 16 tấn vàng giữa Sài Gòn 45 năm trước”. Báo điện tử Dân Trí. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  186. ^ Quốc Việt 2015.
  187. ^ New York Times, 27 tháng 4 năm 1975.
  188. ^ a ă â Corfield 2014, tr. 209.
  189. ^ Lamb 2001.
  190. ^ Engel & Lohfeldt 1979.
  191. ^ Shales 1982.
  192. ^ Đoan Trang 2001.
  193. ^ SBS Tiếng Việt, 2019.
  194. ^ “Nguyễn Văn Thiệu qua đời ở Mỹ”. Người Lao Động. 2 tháng 10 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2021.
  195. ^ “Tiểu-sử Ông Nguyễn Văn Thiệu”. Radio Free Asia. 30 tháng 9 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2021.
  196. ^ Mai Nguyễn (21 tháng 1 năm 2015). “Phụ lục 2: Bà Mai Anh sau ngày ông Nguyễn Văn Thiệu mất đã nói gì với báo chí?”. Báo Một thế giới. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
  197. ^ David Trần (18 tháng 4 năm 2020). “Vài hàng nhớ lại bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phu Nhân của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu”. Quê hương ta nhớ. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  198. ^ V.H (7 tháng 5 năm 2015). “Tổng thống Ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu - Kẻ đầu cơ chính trị và ái tình (Kỳ IV)”. Báo điện tử Petrotimes. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  199. ^ Nguyễn Tiến Hưng & Schecter 1990, tr. 44–46.
  200. ^ “US-backed president before the collapse of Saigon”. The Irish Times (bằng tiếng Anh). 6 tháng 10 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  201. ^ Scholl-Latour 1980, tr. 179.
  202. ^ Nam Anh; Mai Kỳ (21 tháng 9 năm 2014). “Bà Mai Anh đưa Tổng thống Thiệu vào mê cung mê tín dị đoan”. Lao Động. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  203. ^ a ă Hoàng Anh Sướng (12 tháng 6 năm 2019). “Trấn yểm long mạch và sự sụp đổ không thể cứu vãn của ông Thiệu”. Báo Tuổi Trẻ và Đời Sống. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  204. ^ Scholl-Latour 1980, tr. 178.
  205. ^ a ă Slote & De Vos 1998, tr. 150–51.
  206. ^ Dawson 1977, tr. 270.
  207. ^ a ă â Nông Huyền Sơn (25 tháng 3 năm 2014). “Chân mạng của Nguyễn Văn Thiệu”. An ninh Thế giới. Báo Công an nhân dân điện từ. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  208. ^ “TT Nguyễn Văn Thiệu 'cuồng tâm linh, tín phong thủy'. Đất Việt. 15 tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  209. ^ Hoàng Anh Sướng (19 tháng 8 năm 2019). “Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và chuyện trấn yểm long mạch”. Dân Việt. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.

Thư mục

Ấn phẩm

Trực tuyến

Liên kết ngoài