Mở trình đơn chính

Đồng Văn Khuyên (1927-2015) nguyên là một tướng lĩnh Tiếp vận của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên tại trường Sĩ quan Trừ bị được mở ra ở Nam phần. Trong suốt thời gian phục vụ Quân đội, ông chuyên đảm trách các chức vụ liên quan đến ngành Yểm trợ và Đào tạo, nên ông còn được gọi là tướng Văn phòng. Ông là Chỉ huy trưởng (Tổng cục Trưởng) ngành Tiếp vận trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa với thời gian lâu nhất (1967-1975). Ngày 28 tháng 4 năm 1975 ông kiêm nhiệm Xử lý Thường vụ chức vụ Tổng tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu.

ĐỒNG VĂN KHUYÊN
Tiểu sử
Sinh29 tháng 8 năm 1927
Gò Công, Việt Nam
Mất(2015-03-22)22 tháng 3, 2015 (88 tuổi)
Virginia, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ1951-1975
Cấp bậcUS-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vịARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu[1]
Cư an tư nguy.svg Võ khoa Thủ Đức[2]
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Tổng cục Tiếp vận
Chỉ huyFlag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam
Công việc khácFlag of the Minister of National Defense of the Republic of Vietnam.svg Đổng lý Văn phòng[3]
ARVN Joint General Staff Commander Flag.svg Tham mưu trưởng[4]

Tiểu sử & Binh nghiệpSửa đổi

Ông sinh ngày 29 tháng 8 năm 1927 trong một gia đình điền chủ khá giả tại Gò Công, miền Tây Nam phần. Năm 1948 ông học năm cuối bậc Trung học tại trường Trung học Mỹ Tho. Tốt nghiệp Trung học phổ thông chương trình Pháp với văn bằng Tú tài 1 (Part 1).

Quân đội Quốc gia Việt NamSửa đổi

Cuối tháng 9 năm 1951, thi hành lệnh động viên của Quốc trưởng Bảo Đại ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 47/104.507. Theo học khóa 1 Lê Văn Duyệt tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1951. Ngày 1 tháng 6 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy.[5] Ra trường, ông được điều về phục vụ tại Phòng 4 Bộ Tổng tham mưu. Đầu tháng 12 năm 1953, ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm.

Trung tuần tháng 1 năm 1954, ông được Bộ Tổng tham mưu cử làm Trưởng ban Tiếp vận Tiền phương tại quận Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa trong Chiến dịch Atlante (khai diễn ngày 20 tháng 1 năm 1954, kết thúc ngày 20 tháng 7 cùng năm, mục đích bình định Liên khu 5 của Việt Minh gồm 4 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên). Tháng 8 cùng năm ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm.

Quân đội Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Cuối năm 1955, chuyển biên chế sang Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Thiếu tá và được bổ nhiệm làm Trưởng phòng 4 Bộ Tổng tham mưu. Năm 1961, ông được cử làm Liên đoàn phó Liên đoàn 6 chiến thuật do Thiếu tá Nguyễn Viết Thanh làm Liên đoàn trưởng. Qua năm 1962, ông chuyển về làm Giám đốc Huấn luyện tại Liên trường Võ khoa Thủ Đức do Đại tá Phan Đình Thứ làm Chỉ huy trưởng. Đến năm 1963, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Tiếp vận Vùng 3.

Tháng 10 năm 1964, ông được thăng cấp Trung tá và được giữ chức vụ Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Quân đoàn III & Vùng 3 chiến thuật do Thiếu tướng Cao Văn Viên làm Tư lệnh. Tháng 11 năm 1965, ông được chuyến công tác về làm Trưởng phòng Tổng quản trị Bộ Tổng tham mưu thay thế Đại tá Bùi Đình Đạm được cử đi giữ chức Giám đốc Nha Động viên Bộ Quốc phòng. Đầu năm 1966, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Năm 1967, ông được lệnh bàn giao Phòng Tổng quản trị lại cho Trung tá Nguyễn Đức Đệ[6] để đảm nhiệm chức vụ Tổng cục trưởng Tổng cục Tiếp vận thay thế Đại tá Đào Ngọc Thọ.[7]

Ngày Quân lực lần thư ba 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Chuẩn tướng kiêm nhiệm chức vụ Đổng lý Văn phòng Bộ Quốc phòng thay thế Đại tá Nguyễn Đình Vinh.[8] Đồng thời ông có sáng kiến thành lập Quỹ Tiết kiệm Quân đội. Qua năm 1969, ông thôi giữ chức vụ Đổng Lý Văn phòng, chỉ còn giữ chức vụ Tổng cục trưởng. Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1970, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Đến ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1972, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm.

Tháng 3 năm 1974, ông kiêm nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu thay thế Trung tướng Nguyễn Văn Mạnh được cử làm Tổng Tham mưu phó đặc trách An ninh Lãnh thổ.

1975Sửa đổi

Sáng ngày 28 tháng 4, ông được cử Xử lý Thường vụ chức vụ Tổng tham mưu trưởng (khi Đại tướng Cao Văn Viên được Tổng thống Trần Văn Hương chấp thuận cho từ nhiệm và giải ngũ). Sau đó, ngày 29 tháng 4 bàn giao lại cho Trung tướng Nguyễn Phúc Vĩnh Lộc (Do Tổng thống Dương Văn Minh bổ nhiệm). Lúc 11 giờ 30 cùng ngày, ông di tản khỏi Việt Nam. Sau đó, sang định cư tại Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ.

Ngày 22 tháng 3 năm 2015, ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 88 tuổi.

Tác phẩmSửa đổi

-Reflections of the Vietnam War, New York. U.S Army Center of Military History, 1980.
- The Republic of Vietnam Armed Forces.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Tướng Khuyên có bốn lần trực tiếp tùng sự tại Bộ Tổng Tham mưu: Lần thứ nhất Thiếu tá Trưởng phòng 4 (1955-1961), lần thứ hai Trung tá Trưởng phòng Tổng Quản trị (1965-1967), lần thứ ba Trung tướng Tham mưu trưởng (1974-1975), lần thứ tư Trung tướng Xử lý Thường vụ Tổng Tham mưu trưởng (Ngày 28 tháng 4 năm 1975)
  2. ^ Còn có tên gọi là Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức
  3. ^ Thuộc Bộ Quốc phòng
  4. ^ Thuộc Bộ Tổng Tham mưu
  5. ^ Tốt nghiệp khóa 1 Lê Văn Duyệt, Võ khoa Thủ Đức sau này lên tướng còn có Trung tướng Trần Văn Minh, các Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình, Nguyễn Ngọc LoanPhan Đình Soạn, các Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, Huỳnh Bá Tính, Trương Bảy và cố Chuẩn tướng Huỳnh Công Thành.
  6. ^ Trung tá Nguyễn Đức Đệ sinh năm 1922 tại Sóc Trăng, tốt nghiệp khóa 3 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Sau cùng là Đại tá phụ tá Thanh tra Tổng nha Nhân lực tại Bộ Quốc phòng.
  7. ^ Đại tá Đào Ngọc Thọ sinh năm 1929 tại Vĩnh Long, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, giải ngũ cùng cấp. Trúng cử Dân biểu Hạ nghị viện.
  8. ^ Đại tá Nguyễn Đình Vinh sinh năm 1935 tại Đà Lạt, tốt nghiệp khóa 10 Võ bị Đà Lạt. Nguyên gốc thuộc Binh chủng Nhảy dù. Sau cùng giữ chức vụ Tư lệnh Bộ tư lệnh Tiền phương Quân đoàn IV.

Tham khảoSửa đổi

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Công hòa.