Mở trình đơn chính

Huỳnh Công Thành (1930-1973), nguyên là sĩ quan Bộ binh cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Đại tá. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên ở trường Sĩ quan Trừ bị do Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra ở miền Nam với mục đích đào tạo sĩ quan người Việt phục vụ cho Quân đội Liên hiệp Pháp. Ông đã tuần tự giữ từ chức vụ Trung đội trưởng cho đến Tham mưu trưởng cấp Sư đoàn Bộ binh. Sau chuyển sang lĩnh vực Hành chính Quân sự. Năm 1973, ông tử trận, được truy thăng cấp bậc Chuẩn tướng.

HUỲNH CÔNG THÀNH
Tiểu sử
SinhTháng 2 năm 1930
Châu Đốc, Việt Nam
Mất24 tháng 3 năm 1973 (43 tuổi)
Bình Tuy, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ1951-1973
Cấp bậcUS-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vịARVN 1st Division SSI.svg Sư đoàn 1 Bộ binh
QD I VNCH.jpg Quân đoàn I và QK 1
Chỉ huyFlag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam
Khen thưởngVPD National Order of Vietnam - Commander BAR.png B.quốc H.chương III[1]
Công việc khácTỉnh trưởng

Mục lục

Tiểu sử & Binh nghiệpSửa đổi

Ông sinh vào tháng 2 năm 1930 trong một gia đình điền chủ giàu có tại Châu Đốc, miền Tây Nam phần Việt Nam. Năm 1950, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Cần Thơ với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt NamSửa đổi

Giữa năm 1951, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 50/121.193. Theo học khóa 1 Lê Văn Duyệt tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1951. Ngày 1 tháng 6 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy,[2] được chuyển đến một Tiểu đoàn Bộ binh Việt Nam (trong hệ thống Quân đội Liên hiệp Pháp) giữ chức vụ Trung đội trưởng. Tháng 8 năm 1954, sau Hiệp định Genève (20 tháng 7), ông được thăng cấp Trung úy giữ chức vụ Đại đội trưởng.

Quân đội Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Ngày 26 tháng 10 năm 1956, một thời gian ngắn sau khi từ Quân đội Quốc gia chuyển sang phục vụ cơ cấu mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Đại úy giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bộ binh. Cuối năm 1959, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh.

Tháng 11 năm 1963, sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngày 1 tháng 11). Ngày 4 tháng 11 ông được thăng cấp Trung tá và được cử làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 1 Bộ binh.

Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1965, ông được thăng cấp Đại tá chuyển về Bộ tư lệnh Quân đoàn I giữ chức vụ Tham mưu trưởng.

Tháng giêng năm 1972, biệt phái sang lĩnh vực Hành chính, ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Bình Tuy thay thế Đại tá Trần Vãng Khoái.[3]

Tử trậnSửa đổi

Ngày 3 tháng 2 năm 1973, ông bị trúng đạn trọng thương do hoả tiễn phòng không của đối phương bắn trúng khi đang bay trực thăng thị sát vùng Tánh Linh, một Chi khu (Quận) trực thuộc tỉnh. Sau hơn một tháng điều trị ở Tổng y viện Cộng hòa do vết thương quá nặng nên ngày 24 tháng 3 ông từ trần. Hưởng dương 43 tuổi.

Ông được truy thăng cấp bậc Chuẩn tướng và truy tặng Đệ Tam đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu.

Tang lễ được cử hành theo lễ nghi Quân cách của một tướng lĩnh.

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng.
  2. ^ Tốt nghiệp khóa 1 Võ khoa Thủ Đức, sau này lên tướng còn có Các Trung tướng Trần Văn Minh, Đồng Văn Khuyên. Các Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình, Võ Xuân Lành, Nguyễn Ngọc Loan và cố Thiếu tướng Phan Đình Soạn. Các Chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính, Phạm Ngọc Sang, Trương Bảy và cố Chẩn tướng Huỳnh Công Thành.
  3. ^ Đại tá Trần Vãng Khoái sinh năm 1922 tại Hà Nội, tốt nghiệp trường Võ bị Địa phương Bắc Việt. Sau cùng là thành viên trong Nha Tổng thanh tra Quân lực tại Bộ Tổng Tham mưu

Tham khảoSửa đổi

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.