Dương Văn Minh

Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà

Dương Văn Minh (16 tháng 2 năm 19169 tháng 8 năm 2001) nguyên là một cựu tướng lĩnh Bộ binh của Quân đội Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Đại tướng. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên ở Trường Sĩ quan Võ bị do Chính quyền Pháp tại Liên bang Đông Dương mở ra ở miền Đông Nam phần Việt Nam với mục đích đào tạo người bản xứ trở thành sĩ quan phục vụ cho Quân đội Thuộc địa Pháp. Thời gian tại ngũ, ông luôn được đảm trách những chức vụ chuyên về lĩnh vực Chỉ huy và Tham mưu. Dương Văn Minh là một trong số ít sĩ quan được phong cấp tướng thời Đệ nhất Cộng hòa (Thiếu tướng năm 1955) và cũng là một trong năm quân nhân được thăng cấp Đại tướng trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông cũng là một chính khách từng giữ vị trí Quốc trưởng trong giai đoạn (1963 - 1964) và là vị Tổng thống cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Dương Văn Minh
TongthongVNCH DuongVanMinh.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ28 tháng 4 năm 1975 – 30 tháng 4 năm 1975
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000002.0000002 ngày
Thủ tướngVũ Văn Mẫu
Tiền nhiệmTrần Văn Hương
Kế nhiệmchế độ sụp đổ
Phó Tổng thốngNguyễn Văn Huyền
Nhiệm kỳtháng 12 năm 1964 – 1968
Cấp bậcĐại tướng (giải ngũ 21/5/1965)
Tiền nhiệmTrung tướng Thái Quang Hoàng
Quốc trưởng, kiêm Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo lâm thời
Nhiệm kỳ8 tháng 9 năm 1964 – 24 tháng 10 năm 1964
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000046.00000046 ngày
Cấp bậcTrung tướng
Ủy ban Lãnh đạo Lâm thời (Tam đầu chế)
Nhiệm kỳ27 tháng 8 năm 1964 – 8 tháng 9 năm 1964
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000012.00000012 ngày
Cấp bậcTrung tướng
Tam đầu chếTrung tướng Nguyễn Khánh
Trung tướng Dương Văn Minh
Đại tướng Trần Thiện Khiêm
Flag of South Vietnam.svg
Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa
Nhiệm kỳ30 tháng 1 năm 1964 – 16 tháng 8 năm 1964
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000199.000000199 ngày
Cấp bậcTrung tướng
Kế nhiệmTrung tướng Nguyễn Khánh
Quốc trưởng, kiêm Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng
Nhiệm kỳ2 tháng 11 năm 1963 – 30 tháng 1 năm 1964
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000089.00000089 ngày
Cấp bậcTrung tướng
Tiền nhiệmđầu tiên
Kế nhiệmTrung tướng Nguyễn Khánh (Chủ tịch)
Cố vấn Quân sự cho Tổng thống
Nhiệm kỳđầu năm 1963 – 
Tổng thốngNgô Đình Diệm
ARVN Joint General Staff Insignia.svg
Tư lệnh Hành quân Bộ Tổng Tham mưu
Nhiệm kỳđầu năm 1961 – 8 tháng 12 năm 1962
Cấp bậcTrung tướng (12/1956)
Kế nhiệmkhông có (giải thể)
Phụ tá Tư lệnhThiếu tướng Lê Văn Kim
Flag of the Minister of National Defense of the Republic of Vietnam.svg
Tổng Thư ký Thường trực Bộ Quốc phòng
Nhiệm kỳđầu năm 1960 – 
Tư lệnh Liên Quân khu 1 và 5
Nhiệm kỳtháng 5 năm 1958 – đầu năm 1960
Nhiệm kỳtháng 2 năm 1957 – tháng 4 năm 1959
Cấp bậcTrung tướng (12/1956)
Tiền nhiệmđầu tiên
Kế nhiệmTrung tướng Thái Quang Hoàng
Chỉ huy trưởng Phân khu Sài Gòn-Chợ Lớn
Nhiệm kỳcuối năm 1954 – 
QD III VNCH.jpg
Tham mưu trưởng Đệ nhất Quân khu Nam Việt (lần hai)
Nhiệm kỳđầu tháng 2 năm 1953 – 
Tư lệnhĐại tá Lê Văn Tỵ
Tiền nhiệmTrung tá Trần Văn Minh
QD III VNCH.jpg
Tham mưu trưởng Đệ nhất Quân khu Nam Việt (lần đầu)
Nhiệm kỳtháng 7 năm 1952 – cuối năm 1952
Tư lệnhĐại tá Lê Văn Tỵ
Tiền nhiệmđầu tiên
Kế nhiệmThiếu tá Trần Văn Minh
Thông tin chung
Quốc tịch Việt Nam Cộng hòa
Sinh(1916-02-16)16 tháng 2, 1916
Mỹ Tho, Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương
Mất9 tháng 8, 2001(2001-08-09) (85 tuổi)
California, Hoa Kỳ
Nơi ởCalifornia, Hoa Kỳ
Nghề nghiệpquân nhân, chính khách
Dân tộcKinh
Tôn giáoPhật giáo
VợTrần Thị Lang
Gia quyến
  • Dương Văn Nhựt (em, 1918-1999)
  • Dương Thanh Sơn (em, 1924- )
  • Nguyễn Hồng Đài (con rể, s.1931)
ChaDương Văn Mâu
MẹNguyễn Thị Kỷ
Con cáiDương Thị Xuân Mai
Dương Minh Đức
Dương Minh Tâm
Học vấnTú tài toàn phần Pháp
Học sinh trường
Binh nghiệp
Phục vụFlag of Colonial Annam.svg Liên bang Đông Dương
Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.png Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ1940-1975
Cấp bậcUS-O10 insignia.svg Đại tướng
Đơn vịQD III VNCH.jpg Đệ nhất Quân khu[1]
ARVN Capital Military Zone Unit SSI.svg Quân khu Thủ đô[2]
QD IV VNCH.jpg Đệ ngũ Quân khu[3]
Flag of the Minister of National Defense of the Republic of Vietnam.svg Bộ Quốc phòng
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Flag of the President of the Republic of Vietnam as Supreme Commander of the Armed Forces.svg Phủ Tổng thống
Chỉ huyFlag of Colonial Annam.svg Quân đội Thuộc địa Pháp
Flag of France.svg Quân đội Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Tham chiến- Chiến tranh Đông Dương
- Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởngVPD National Order of Vietnam - Grand Cross BAR.png Bảo quốc Huân chương đệ Nhất hạng

Dù chỉ giữ chức vụ Tổng thống trong thời gian quá ngắn ngủi, vỏn vẹn 3 ngày (từ 28 tháng 4 đến 30 tháng 4 năm 1975), nhưng nhờ sự vận động của em trai là Dương Văn Nhựt (bí danh Mười Ty, Đại tá Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam), ông đã kêu gọi những nhóm Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn lại ngừng bắn và đầu hàng vô điều kiện theo yêu cầu của Quân Giải phóng miền Nam khi họ bắt đầu tấn công vào thành phố Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, qua đó giúp thành phố tránh bị tàn phá. Sau đó, ông tiếp tục làm cố vấn cho Chính phủ mới trước khi sang nước ngoài để sống với con cái.

Tiểu sử và Binh nghiệpSửa đổi

Dương Văn Minh sinh ngày 19 tháng 2 năm 1916 trong một gia đình trung nông tại Mỹ Tho, miền Tây Nam phần Việt Nam.[4] Thời niên thiếu ông học trường College de Mytho,[5] sau đó lên Sài Gòn học tiếp tại trường Collège Chasseloup-Laubat[6] cùng một lớp với tướng Trần Văn Đôn. Năm 1938, ông tốt nghiệp với văn bằng Tú tài toàn phần Pháp (Part II). Sau đó ông được bổ dụng làm Công chức thuộc ngạch Thư ký hành chính, tùng sự tại Sài Gòn. Thời trẻ, ông đã sớm bộc lộ năng khiếu và ham mê thể thao. Do có thể hình to lớn, ông được bạn bè đặt cho biệt danh "Minh Cồ".[7]

Quân đội Thuộc địa và Liên hiệp PhápSửa đổi

Năm 1939, Dương Văn Minh nhập ngũ vào Quân đội Thuộc địa Pháp, mang số quân: 36/100.225. Ngày 9 tháng 1 năm 1940, ông được đơn vị cho theo học khóa 1 tại trường Sĩ quan Thủ Dầu Một. Đầu năm 1941 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy Bộ binh.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương. Ông đang phục vụ tại Cap St. Jacques thì bị Nhật bắt và đưa về Sài Gòn giam giữ tại khám Catinat.[8] Năm 1946, Pháp tái chiếm Nam Kỳ, ông được trả tự do và tái phục vụ ở Trung đoàn 11 Bộ binh của Quân đội Pháp giữ chức vụ Trung đội trưởng. Hai tháng sau, ông được thăng cấp Thiếu úy tại nhiệm. Giữa năm 1948, chuyển biên chế sang Quân đội Liên hiệp Pháp ông được thăng cấp Trung úy giữ chức vụ Đại đội trưởng trong Tiểu đoàn Bộ binh Việt Nam.

Quân đội Quốc gia Việt NamSửa đổi

Tháng 8 năm 1950, Dương Văn Minh chuyển ngạch sang Quân đội Quốc gia mới thành lập, ông được thăng cấp Đại úy. Năm 1951, ông được chuyển sang Dinh Thủ hiến Nam Việt Thái Lập Thành, giữ chức vụ Chánh Võ phòng Cuối năm ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm.

Đầu tháng 7 năm 1952, ông được thăng cấp Trung tá, được cử làm Tham mưu trưởng Đệ nhất Quân khu Nam Việt. Cuối năm, ông được cử đi du học lớp Tham mưu cao cấp tại trường Tham mưu Paris. Đầu tháng 2 năm 1953, mãn khóa về nước tái nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Đệ nhất Quân khu. Cuối năm 1954, ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Phân khu Sài Gòn-Chợ Lớn.

Sau khi người Pháp thất trận Điện Biên Phủ, Dương Văn Minh là một trong những sĩ quan cao cấp ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm nắm quyền, loại trừ vai trò của Quốc trưởng Bảo Đại. Vì vậy ngày 1 tháng 5 năm 1955, ông được Thủ tướng Diệm cử làm Chỉ huy trưởng chiến dịch Bảo vệ Thủ đô Sài Gòn-Chợ Lớn, chống lại quân Bình Xuyên của tướng Lê Văn Viễn tại vùng Sài Gòn-Chợ Lớn và phụ cận. Ngày 5 tháng 5 ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Ngày 21 tháng 9 cùng năm, ông được Thủ tướng Diệm cử làm Tư lệnh Chiến dịch Hoàng Diệu, truy kích và tiêu diệt các lực lượng tàn quân Bình Xuyên của tướng Bảy Viễn.

Quân đội Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Ngày 1 tháng 11 năm 1955, Dương Văn Minh được tân Quốc trưởng Ngô Đình Diệm thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Đầu năm 1956, sau khi hoàn tất việc dẹp loạn Bình Xuyên, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Chiến dịch Nguyễn Huệ rồi tiếp đến Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu để bình định miền Tây, đánh dẹp Lực lượng Quân sự giáo phái Hòa Hảo của các tướng Năm LửaBa Cụt. Ngày 26 tháng 10, ông được Tổng thống Diệm chỉ định làm Tổng Chỉ huy cuộc duyệt binh mừng lễ kỷ niệm Đệ nhất Chu niên ngày Quốc khánh Đệ nhất Cộng hòa trên Đại lộ Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Ngày 8 tháng 12 cuối năm, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm.

Đầu năm 1957, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân khu Thủ đô. Từ tháng 7 đến tháng 11, ông có 3 lần hướng dẫn phái đoàn Quân sự du hành quan sát tại các Quốc gia Nhật Bản (12 tháng 7), Úc (1 tháng 9) và Hàn Quốc. Cuối năm, ông được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu Cao cấp tại Học viện Chỉ huy và Tham mưu Fort Leaveworth, Kansas, Hoa Kỳ. Tháng 5 năm 1958 mãn khóa học về nước, ông tiếp tục giữ chức vụ Tư lệnh Quân khu Thủ đô, kiêm Tư lệnh Liên Quân khu 1 và 5.

Tuy nhiên, trong những năm sau đó, sự tín nhiệm của Tổng thống Ngô Đình Diệm với Dương Văn Minh bị giảm sút. Ông lần lượt được bổ nhiệm vào các chức vụ không có thực quyền. Đầu năm 1960, ông được cử làm Tổng Thư ký Thường trực Bộ Quốc phòng. Qua đầu năm 1961, giữ chức vụ Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân tại Bộ Tổng Tham mưu. Giữa năm 1962, ông được cử hướng dẫn Phái đoàn Quân sự du hành quan sát cuộc thao dượt Hải quân Liên phòng Đông Nam Á. Ngày 8 tháng 12, Bộ Tư lệnh Hành quân Bộ Tổng Tham mưu giải tán. Đầu năm 1963, ông được chuyển về Phủ Tổng thống giữ chức vụ Cố vấn Quân sự cho Tổng thống.[9]

Đảo chính 1963 và những thăng trầm sau đóSửa đổi

 
Trung tướng Dương Văn Minh, Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng

Vốn đã có bất mãn tồn tại, cộng thêm là một tín đồ Phật giáo, Dương Văn Minh nhiều lần biểu hiện thái độ không hài lòng với những biện pháp trấn áp Phật giáo của Chính phủ Ngô Đình Diệm. Trong cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông đóng vai trò chính với cương vị Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, cùng với các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân, Đỗ Mậu...

Từ khi hai anh em Diệm-Nhu bị giết chết (ngày 2.11.1963), ông Minh và các tướng tá đồng sự của ông không ai công khai thừa nhận mình có tham gia quyết định giết Tổng thống, có thể vì 2 lẽ:

  1. Việc giết nguyên thủ đứng đầu chính phủ như ông Diệm là hành động làm phản ở mức cao nhất, điều vượt quá sức tưởng tượng của nhiều quan chức Việt Nam Cộng hòa thời đó;
  2. Các tướng tá tham gia đảo chánh trong chừng mực nào đó hầu hết đều có mang ơn ông Diệm trên con đường thăng tiến binh nghiệp của mình, nhưng họ bất đắc dĩ phải hạ thủ là để “sát nhất miêu cứu vạn thử” (giết một con mèo để cứu muôn con chuột), và cần phải “nhổ cỏ tận gốc” đề phòng nhóm ông Diệm lưu vong nước ngoài sẽ có thể tái tập hợp lực lượng, kết hợp với ngoại quốc hoặc thành phần trong nước để tìm cách phục hồi quyền lực, trả thù nhóm đảo chính.

Tuy nhiên, chỉ 2 tháng sau, tướng Nguyễn Khánh cầm đầu Cuộc Chỉnh lý ngày 30 tháng 1 năm 1964 lật đổ chính quyền quân sự này và giành quyền cai trị Việt Nam Cộng hòa. Ông bị thất thế về chính trị, mặc dù vẫn được giữ chức vụ Quốc trưởng.

Ngày 24 tháng 11 năm 1964, Dương Văn Minh được Quốc trưởng Phan Khắc Sửu thăng cấp Đại tướng (cùng với Nguyễn Khánh). Tháng 12, ông bị ép đi làm Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Thái Lan. Ngày 21 tháng năm 1965, ông nhận được quyết định giải ngũ của Hội đồng Quân lực. Tuy nhiên, ông vẫn được giữ làm Đại sứ tại Thái Lan cho đến năm 1968 mới được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho hồi hương.[10]

Năm 1971, Dương Văn Minh trở lại chính trường để đối đầu với đương kim Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, người được Mỹ ủng hộ, trong cuộc tranh cử Tổng thống. Tuy được nhiều người cho rằng rất có thể ông là lãnh đạo của "Lực lượng thứ ba", có thể đàm phán hòa bình với quân Giải phóng để tránh việc chiến tranh tiếp diễn lâu dài, nhưng nỗ lực của ông đã bị Nguyễn Văn Thiệu cản trở. Cuối cùng, ông đã rút ra khỏi cuộc tranh cử sau khi tuyên bố rằng cuộc bầu cử chỉ là "trò múa rối". Nguyễn Văn Thiệu hiển nhiên đắc cử tổng thống năm đó do ông ta là ứng cử viên duy nhất, không phải cạnh tranh với bất kỳ đối thủ nào.

Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

 
Huy hiệu Bông Lan của Tổng thống Dương Văn Minh

Với sự sụp đổ nhanh chóng của Việt Nam Cộng hòa sau khi Mỹ rút quân, ông lại trở thành một nhân vật quan trọng cho chức vụ Tổng thống. Sau khi Nguyễn Văn Thiệu, rồi Trần Văn Hương từ chức, ngày 28 tháng 4 năm 1975, Dương Văn Minh chính thức nhậm chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa.

Theo hồi ký các tướng tá của Quân lực Việt Nam Cộng hòa như Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Chánh Thi, và cựu dân biểu Lý Quý Chung, thì sáng ngày 28 tháng 4, tướng tình báo Pháp Francois Vanussème đã tới gặp tổng thống Dương Văn Minh và đề nghị Việt Nam Cộng hòa kêu gọi Trung Quốc đem quân tấn công vào Việt Nam để cứu Quân lực Việt Nam Cộng hòa đang trong cơn nguy kịch. Một nhân viên ngoại giao Trung Quốc đề nghị Quân lực Việt Nam Cộng hòa hãy cố thủ, án ngữ Vùng 4 Chiến thuật, hứa hẹn Trung Quốc sẽ đem quân đánh vào biên giới miền Bắc Việt Nam để giải vây. Dương Văn Minh, vốn đã được Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam thông qua em trai là Dương Văn Nhựt (bí danh Mười Ty, Đại tá Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) và gia đình thuyết phục từ trước, đã từ chối và nói:

8h sáng ngày 30 tháng 4, các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn HuyềnVũ Văn Mẫu quyết định đơn phương tuyên bố bàn giao chính quyền lại cho Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Ông Mẫu ngồi soạn lời tuyên bố, mất khoảng một tiếng đồng hồ. Đến 9h, ông Minh đọc vào máy ghi âm. Trong lúc Dương Văn Minh thâu băng lời tuyên bố, Nguyễn Hữu Hạnh gọi điện cho tướng Nguyễn Khoa Nam và yêu cầu tướng Nam cố gắng thi hành lệnh tổng thống sẽ phát trên Đài Vô tuyến Việt Nam. Nguyễn Hữu Hạnh cũng đến Đài phát thanh để ra nhật lệnh cho quân đội và các lực lượng vũ trang buông súng thi hành lệnh của tổng thống. Tuyên bố của ông Dương Văn Minh, nhật lệnh của Nguyễn Hữu Hạnh được truyền đi trên Đài Vô tuyến Việt Nam lúc 9h30:[12]

11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4, Trung úy Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam Bùi Quang Thận đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng hòa trên nóc dinh xuống, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên.

 
Phạm Xuân Thệ (phải) đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh.

Cùng lúc này, Đại úy Trung đoàn phó Trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ cùng lực lượng đột kích thọc sâu của Quân đoàn 2Biệt động thành Sài Gòn tiến vào dinh Độc Lập bắt ông Dương Văn Minh cùng toàn bộ những nhân vật chủ chốt của Nội các chính quyền Sài Gòn. Dương Văn Minh nói: "Tôi chờ các ông tới để bàn giao chính quyền", Phạm Xuân Thệ trả lời: "Các ông đã không còn gì để bàn giao. Thay mặt Cách mạng, tôi đề nghị ông ra lệnh đầu hàng vô điều kiện để tránh đổ máu không cần thiết". Dương Văn Minh đồng ý.

Khoảng 12 giờ trưa, Đại úy Phạm Xuân Thệ đưa Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu lên xe Jeep để đến đài phát thanh. Chiếc xe thứ hai chở Trung tá Chính ủy Lữ đoàn Xe tăng 203 Bùi Văn Tùng cùng hai nhà báo Borries Gallasch (người Đức, báo Der Spiegel) và Hà Huy Đỉnh. Tại đài phát thanh, Tổng thống Dương Văn Minh thay mặt toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn đã đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện với quân đội cách mạng (tức Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam). Thay mặt các đơn vị quân Giải phóng đánh chiếm dinh Độc Lập, Trung tá Bùi Văn Tùng đọc lời tiếp nhận đầu hàng. Chiến tranh kết thúc. Chính Quyền Việt Nam Cộng hòa chính thức sụp đổ.

Sau 1975Sửa đổi

Sau ngày 30 tháng 4, Dương Văn Minh không phải đi cải tạo và sống tại Sài Gòn (Tp Hồ Chí Minh). Ông còn được mời làm cố vấn cho Chính phủ mới. Có hình ảnh cho thấy ông thường xuyên đi bầu cử như một công dân chế độ mới.

Tháng 10 năm 1981, Chính quyền Việt Nam cho phép Dương Văn Minh được xuất cảnh sang Pháp chữa bệnh và đoàn tụ gia đình. Năm 1988 ông chuyển sang Hoa Kỳ, sống với vợ chồng người con gái tại Pasadena, California và định cư luôn tại đây.

Ngày 9 tháng 8 năm 2001, ông qua đời tại nơi định cư.

Huy chươngSửa đổi

Nhận xétSửa đổi

Con trai của ông, Dương Minh Đức, trong một buổi phỏng vấn đã nói về cha mình:[13]

"Tôi rất yêu quý ba tôi… Thứ nhất, ông là vị tướng sống trong sạch, không chấp nhận chuyện tham nhũng; thứ hai, trong nguyên tắc tìm giải pháp hòa bình cho đất nước Việt Nam, theo ông phải do chính người Việt Nam tự giải quyết. Tôi hiểu quan điểm của ba tôi luôn đặt dân tộc và sinh mệnh nhân dân trên hết. Chính vì vậy, ông không ngại đứng ra đảm nhận vai trò Tổng thống trong buổi hoàng hôn của một chế độ…. Ba tôi là người luôn chủ trương hòa giải, hòa bình dân tộc và ông đã bác bỏ ý kiến của một số người yêu cầu “tử thủ” Sài Gòn. Tôi tin rằng đây là quan điểm xuyên suốt trong cuộc đời chính trị của ông “yêu nước trước hết là phải cứu dân”" (theo tạp chí Hồn Việt, 1.6.2009).

Theo cựu dân biểu Dương Văn Ba, một người thân cận từng ở nhờ thời gian khá dài trong tư gia của tướng Dương Văn Minh thì ông Minh là “loại người trầm lắng, suy tư dù gốc của ông là một quân nhân. Triết lý của ông là triết lý trầm lắng của Phật giáo, ông không đua chen, không sân si; ông thuộc vào loại thấy đủ biết đủ, thấy nhàn biết nhàn. Đó là một loại triết lý pha lẫn giữa Phật giáoLão giáo. Ông sống khá bình dị, hòa mình với mọi người, đa số bạn bè bà con đều thương ông.

Gia đìnhSửa đổi

  • Thân phụ: Cụ Dương Văn Mâu (tức Dương Văn Mau, nguyên danh là Dương Văn Huề), cựu công chức hành chính, tùng sự tại dinh Phó soái Nam Kỳ, hàm Đốc phủ sứ.
  • Thân mẫu: Cụ Nguyễn Thị Kỷ.

Tướng Dương Văn Minh là con trai trưởng trong gia đình (Anh Hai theo cách gọi miền Nam), sau ông còn có 3 em trai và 3 em gái.

Ông bà có ba người con: 2 trai, 1 gái:
- Trưởng nữ: Dương Thị Xuân Mai (Phu quân: Nguyễn Hồng Đài, sinh năm 1931, tốt nghiệp Võ khoa Thủ Đức K1. Sau cùng là Đại tá Trưởng khối Kế hoạch của Tổng cục Tiếp vận. Hiện cùng gia đình định cư ở Hoa Kỳ).
- Trưởng nam: Dương Minh Đức (định cư ở Pháp).
- Thứ nam: Dương Minh Tâm (định cư ở Pháp).

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Đệ nhất Quân khu là một trong 4 Quân khu thời Quân đội Quốc gia thành lập từ 1 tháng 7 năm 1952, và là một trong 6 Quân khu dưới thời Đệ nhất Cộng hòa từ năm 1956 đến năm 1959. Kể từ ngày 1 tháng 3 năm 1959 được điều chỉnh trở thành Quân đoàn III và Vùng 3 Chiến thuật.
  2. ^ Quân khu Thủ đô là một trong 6 Quân khu dưới thời Đệ nhất Cộng hòa (Việt Nam Cộng hòa) từ 26/10/1956 đến 1/6/1961. Sau đó được điều chỉnh thành Biệt khu Thủ đô trực thuộc Quân đoàn III và Vùng 3 Chiến thuật. Tướng Dương Văn Minh có hai lần chỉ huy đơn vị này:
    - Lần thứ nhất: Trung tá Chỉ huy trưởng Phân khu Sài Gòn-Chợ Lớn (1954) gồm Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Tây Ninh và hai Quận Cần Đước, Cần Giuộc (hai Quận này về sau trực thuộc tỉnh Long An).
    - Lần thứ hai: Trung tướng Tư lệnh Quân khu Thủ đô (1957-1958).
  3. ^ Đệ ngũ Quân khu (Miền Tây Nam phần - Đồng bằng sông Cửu Long) là một trong 6 Quân khu thời Đệ nhất Cộng hòa. Ngày 1/6/1961 sáp nhập vào Quân đoàn III và Vùng 3 Chiến thuật. Ngày 1/1/1963, tái lập trở thành Quân đoàn IV và Vùng 4 Chiến thuật.
  4. ^ Có tài liệu cho rằng nơi sinh của tướng Dương Văn Minh có thể là Long An hoặc Vĩnh Long.
  5. ^ Trường College de Mytho, sau được đổi tên thành trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu.
  6. ^ Trường Collège Chasseloup-Labat, sau đổi tên thành trường Trung học Lê Quý Đôn.
  7. ^ Sau này tướng Dương Văn Minh còn có thêm biệt danh "Minh Lớn" khi ông mang cấp Trung tướng là để phân biệt với tướng Trần Văn Minh cũng mang cấp Trung tướng cùng thời với ông và vị tướng này được gọi với biệt danh là "Minh Nhỏ".
  8. ^ Sau Cách mạng tháng 8, ông tham gia Lực lượng Vũ trang chống Pháp tái chiếm Nam Bộ, còn gia đình ông tản cư về Chợ Đệm ở Tân An. Tuy nhiên các mặt trận nhanh chóng tan vỡ, ông cùng đơn vị rút khỏi Sài Gòn. Năm 1946, trong một lần về thăm nhà, do đơn vị rút đi bất ngờ, Dương Văn Minh bị kẹt lại chưa tìm được đơn vị thì bị quân Pháp bắt được. Ông bị giam chung cùng với ông Nguyễn Ngọc Thơ, sau đó bị những trận đòn của các viên chức cảnh sát Pháp đánh gãy hai chiếc răng cửa. Nhiều năm sau này ông vẫn không trồng răng giả để giữ kỷ niệm về những trận đòn này. Vì vậy nhiều bạn bè trong quân đội còn gọi ông là "Minh Sún".
  9. ^ Ngay từ năm 1962, do nắm được những bất mãn của tướng Dương Văn Minh đối với Chính phủ Ngô Đình Diệm, phía Bắc Việt đã nhiều lần vận động sự ủng hộ của ông thông qua các tiếp xúc bí mật của người em trai là Dương Văn Nhựt, một sĩ quân Quân đội Bắc Việt bí mật trở vào Nam.
  10. ^ Năm 1967, tướng Dương Văn Minh làm đơn xin về nước để tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ 1967-1971 nhưng Quốc hội bác đơn vì không hợp lệ.
  11. ^ Nguyễn Hữu Thái. Hồi ức "Dương Văn Minh và tôi" năm 2008.
  12. ^ “Bút ký Nguyễn Hữu Hạnh - Kỳ cuối: Ngày lịch sử”. 
  13. ^ VietnamNet, "Ba tôi luôn chủ trương hòa giải, hòa bình dân tộc". 09:52' 29/04/2007

Tham khảoSửa đổi

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên kếtSửa đổi