Mở trình đơn chính

Bảy Viễn

tướng cướp Việt Nam

Lê Văn Viễn tức Bảy Viễn (1904-1972), nguyên là một tướng cướp lừng danh trước năm 1945, về sau tham gia tổ chức Lực lượng vũ trang kháng chiến chống Pháp của Việt Minh, rồi ly khai trở về hợp tác với chính phủ Quốc gia Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại làm Quốc trưởng, được phong Thiếu tướng Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ông cũng là thủ lĩnh của Lực lượng Bình Xuyên kiêm Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn. Năm 1955, Bảy Viễn chỉ huy lực lượng này chống chính phủ và bị Thủ tướng Ngô Đình Diệm dẹp tan, nên phải đào thoát và lưu vong sang Pháp.

Lê Văn Viễn
Bảy Viễn.jpg
Tướng Lê Văn Viễn
Tiểu sử
Biệt danhBảy Viễn
Sinh1904
Sài Gòn, Việt Nam
Mất1972 (67–68 tuổi)
Paris, Pháp
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Quốc gia Việt Nam
ThuộcFlag of Binh Xuyen Army.svg Lực lượng Bình Xuyên
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Năm tại ngũ1948-1955
Cấp bậcUS-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vịFlag of Binh Xuyen Army.svg Bộ đội Bình Xuyên

Thân thế và cuộc đờiSửa đổi

Thân thếSửa đổi

Bảy Viễn sinh năm Giáp Thìn 1904 tại Chợ Lớn (Sau thuộc Đô thành Sài Gòn) trong một gia đình điền chủ trung lưu gốc Hoa.

Tuy sinh ra trong một gia đình điền chủ khá giả, nhưng vì mâu thuẫn gia đình và cảm thấy thiệt thòi trong việc chia gia tài, Bảy Viễn bỏ nhà đi bụi, tự lực cánh sinh, rồi thọ giáo ở nhiều võ đường khác nhau, nên ông rất giỏi võ.

Về hình thể, Bảy Viễn cao trên một thước bảy, dáng to và vạm vỡ, trên khắp cơ thể đều có hình xăm (Nguyên một con rồng đỏ chiếm trọn tấm lưng, đầu rồng trên cổ, đuôi rồng tận hậu môn, hai vai xăm hình Đầm trần truồng, bùa và đầu rắn xăm ở đầu dương vật, phía trên cổ tay trái một chút thì xăm hình đại bàng). Vì xăm cùng mình và là dân anh chị nên khi đạt đến những vị thế cao trong xã hội, Bảy Viễn luôn thận trọng vận đồ chỉnh trang, để khoác lên vẻ ngoài lịch lãm và uy nghiêm, cũng như để che đi một cách tối đa những hình xăm của mình. Về diện mạo, Bảy Viễn mặt chữ điền, góc cạnh, lông mày rậm, tóc cứng và dày, đen nhánh, được cắt ngắn gọn gàng. Tuy gương mặt dữ dằn nhưng Bảy Viễn rất điển trai.

Tuổi trẻ lầm lỡSửa đổi

Năm 1921, Bảy Viễn vào tù lần đầu với bản án 20 ngày tù giam khi mới 17 tuổi do phạm tội trộm xe đạp (Thật ra chiếc xe đạp ấy vốn của gia đình Viễn, nhưng vì bà mẹ đem bán cho nhà người bà con mà ông không hay biết, nên khi phát hiện chiếc xe đang nằm ở nhà người ta thì ông mang về, rốt bị hàm oan). Ban đầu Bảy Viễn làm bảo kê ở chợ Bình Đông, sau mới vào trung tâm thành phố Chợ Lớn. Đến năm 1927 thì Bảy Viễn phạm tội hành hung người khác, bị bắt khi đang tá túc tại nhà tình nhân và bị phạt giam 2 tháng tù (Lúc ấy Viễn đương làm cho một ông chủ sòng bạc người Tàu ở Chợ Lớn, nhưng vì mâu thuẫn mà nện cho tên chủ một trận).

Năm 1936, Bảy Viễn bị chính quyền Nam Kỳ tuyên án 12 năm khổ sai đày đi Côn Đảo do tội cướp có vũ trang ở trung tâm thành phố Sài Gòn, tuy nhiên, đến năm 1940, ông vượt ngục thành công về đất liền. Trong khoảng thời gian ngồi khám lần đầu này, Bảy Viễn đã hạ được một tay trùm du đãng gốc Khmer để trở thành ông vua du đãng mới, rồi còn quyến rũ và dan díu với cô vợ của một Thầy chú (Cai ngục), cô này rất mê Bảy Viễn nên sẵn sàng giúp đỡ và hỗ trợ ông.

Năm 1941, Bảy Viễn bị bắt cùng Mười Trí, một người bạn mới quen, trong vụ tổ chức cướp xưởng mộc Bình Triệu (Mười Trí, tức Huỳnh Văn Trí cũng là "Dân giang hồ", giỏi võ, vì bất mãn xã hội mà lập nên một nhóm cướp gây chấn động cả một vùng Sài Gòn-Chợ Lớn, nhờ thế cả hai mới có cơ duyên gặp nhau và kết thân). Tòa án tuyên phạt Bảy Viễn 12 năm khổ sai cộng thêm 8 năm còn thiếu trước đây là 20 năm, sau đó ông lại vượt ngục thành công. Nhưng máu "Đi hát" (Tức đi cướp) vẫn còn âm ỉ nên Bảy Viễn và Mười Trí lại tổ chức đi cướp lần nữa, rồi lại bị bắt đày ra Côn Đảo lần thứ 3. Sau khoảng thời gian chuẩn bị chu đáo nhưng dài hơi vì vợ chồng Thầy chú đã được triệu hồi về đất liền, Bảy Viễn và Mười Trí cùng vài người bạn thân lại tổ chức vượt ngục thành công lần cuối cùng. Lịch sử nhà tù Côn Đảo chỉ tầm 10 cuộc vượt ngục thành công mà Bảy Viễn đã chiếm đến 3, âu cũng là do số mệnh.

Tham gia kháng chiếnSửa đổi

Tháng 8 năm 1945, Bảy Viễn tập hợp lực lượng du đãng tại Sài Gòn hợp tác với Trần Văn Giàu tham gia Kháng chiến chống Pháp và trở thành Chi đội trưởng Chi đội 9 thuộc Liên khu Bình Xuyên bản doanh đặt tại Phú Lâm, Chợ Lớn do Ba Dương (Tức Dương Văn Dương) làm Tổng chỉ huy. Đơn vị của Bảy Viễn tuy tuân thủ chỉ thị quân sự của cấp trên nhưng luôn từ chối tiếp nhận những chính trị viên do cấp trên cử xuống[1]. Tháng 10 năm này, Bảy Viễn đưa đơn vị rời Phú Lâm rút về mật khu Rừng Sác. Cuối tháng 11 cùng năm, ông được Uỷ ban Hành chính lâm thời cử làm Tư lệnh tối cao các Lực lượng Kháng chiến Sài Gòn-Chợ Lớn (Kiêm Chỉ huy trưởng khu Sài Gòn-Chợ Lớn).

Ngày 4 tháng 3 năm 1946, Tổng chỉ huy Ba Dương hy sinh trong một trận chống càn của Pháp ở Bến Tre khi chỉ huy một bộ phận quân Bình Xuyên vượt sông Soài Rạp từ Rừng Sác về cứu nguy cho mặt trận An Hóa-Giao Hòa. Sau khi Ba Dương hy sinh, Bảy Viễn vận động để nắm chức Tư lệnh Bình Xuyên nhưng một số cán bộ chỉ huy trưởng các chi đội Bình Xuyên đã không tán thành.

Ngày 12 tháng 4 năm 1946, tướng Nguyễn Bình, Tư lệnh các lực lượng vũ trang Nam bộ ký quyết định phong cho Năm Hà (Tức Dương Văn Hà, em cùng cha khác mẹ với Dương Văn Dương) làm Tư lệnh lực lượng Bình Xuyên thay cho Ba Dương. Tháng 7 cùng năm, Nguyễn Bình ký quyết định phong Bảy Viễn làm Khu bộ phó chiến khu 7 với ý định tách Viễn ra khỏi vị trí trực tiếp chỉ huy Lực lượng Bình Xuyên và để ông không từ bỏ kháng chiến về hợp tác với Pháp và Cộng hòa tự trị Nam Kỳ. Trung tuần tháng 12 cuối năm, Bảy Viễn chính thức được giữ chức vụ Tư lệnh phó khu 7. Đồng thời cũng trong tháng này Đại úy Savani (Thuộc Phòng nhì Pháp, một cơ quan tình báo quốc phòng hải ngoại của Pháp) cho người bí mật tiếp xúc với Bảy Viễn để chuẩn bị lập Chiến khu Quốc gia Rừng Sác.

Đầu năm 1948, Bảy Viễn đồng ý đi Đồng Tháp gặp Nguyễn Bình (Nguyễn Bình cho mời Huỳnh Văn Nghệ hay còn gọi là Tám Nghệ đi Rừng Sác để thuyết phục vì biết Bảy Viễn rất nể trọng Tám Nghệ dù ông tướng này không phải dân giang hồ), và để tham gia cuộc họp quan trọng do Nguyễn Bình chủ trì với mục đích phong Bảy Viễn chức Khu trưởng khu 7, đồng thời giải quyết những mâu thuẫn đang tồn tại giữa bộ đội Bình Xuyên của Bảy Viễn và bộ đội Nguyễn Bình. Tại cuộc họp, Bảy Viễn đã trả lời khá rắn chắc và đanh thép những chất vấn của Nguyễn Bình về những mâu thuẫn nội bộ và tỏ ý nghi ngờ, lưỡng lự trong việc nhận chức Khu trưởng khu 7 mà trước đó Viễn cho rằng người xứng đáng nhận chức này phải là Huỳnh Văn Nghệ vì chiến công của bộ đội Tám Nghệ vượt xa những chiến công của bộ đội Bảy Viễn. Sau vì Bảy Viễn từ chối chức Khu trưởng khu 7 và tỏ vẻ ngoan cố, bất hợp tác nên Nguyễn Bình quyết định giải tán các đơn vị thuộc Bình Xuyên, phiên chế thành các đơn vị Vệ quốc đoàn để phá tan âm mưu chia rẽ các Lực lượng Quốc gia và Việt Minh của Phòng nhì Pháp, mặc cho rất nhiều những lãnh đạo chủ chốt bên phía Bình Xuyên phản đối quyết định này (Bao gồm cả Mười Trí, một trong những thủ lĩnh chính của Lực lượng Bình Xuyên). Bảy Viễn phản đối quyết liệt đồng thời tố cáo Nguyễn Bình muốn thiết lập chế độ đảng trị và củng cố uy quyền cá nhân nên đã sát hại Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ và hai lần ám sát Viễn nhưng bất thành.[1]

Về thànhSửa đổi

Tuy cũng phản đối quyết định giải tán các đơn vị Lực lượng Bình Xuyên, nhưng Mười Trí vẫn trung thành và ở lại phục vụ quân đội kháng chiến Việt Minh. Rạng sáng ngày 27 tháng 5 năm 1948, sau khi Bảy Viễn âm thầm rút quân rời chiến khu Đồng Tháp đã được Mười Trí mời đến tổng hành dinh đồng thời cũng là nhà của ông ở Đông Thành (Chi đội 4) để tá túc một đêm, nhằm thuyết phục Bảy Viễn suy nghĩ kỹ trước khi quyết định. Đêm ấy, bà vợ Mười Trí đãi hai anh em bữa cơm thịnh soạn, Mười Trí vì tình bạn, tình huynh đệ từng cùng nhau vào sinh ra tử, từ đi cướp, vô tù đến chiến đấu trên mặt trận, đã khuyên Bảy Viễn nên suy nghĩ thấu đáo và nhất là nên ở lại vì còn nước còn tát, nếu có chuyện gì thì Mười Trí sẽ đứng ra bảo lãnh và bảo đảm, bất kể sau đó có bị nghi ngờ, tố cáo, kiểm điểm hay thậm chí là bị kiểm soát, ông vẫn chấp nhận và có thể chịu đựng. Cảm động trước tấm chân tình của Mười Trí, Bảy Viễn tuy vẫn còn tỏ ý giận dữ, nhưng hứa hẹn sẽ suy nghĩ kỹ càng.

 
Bảy Viễn trước khi đọc diễn văn

Cùng đêm, sau khi Bảy Viễn đang say giấc, Mười Trí cho gọi thuộc cấp đến, và ra lệnh thông báo rằng các lực lượng bộ đội Bình Xuyên khác ai ở đâu thì ở yên đấy, không được tự ý rời đi khi không có lệnh của ông, nhằm làm giảm tối đa các thiệt hại cho quân kháng chiến.

Sáng hôm sau, sau khi hai người cùng nhau dùng bữa cơm gia đình thân mật cuối cùng, Bảy Viễn thông báo đã suy nghĩ kỹ, ông quyết định dứt áo ra đi, về thành Sài Gòn vì không thể sống chung với những người mà ông xem là xảo quyệt, bất công. Mười Trí đã tiên liệu trước, nên dù rất thất vọng về Bảy Viễn và về sự bất lực của mình trong việc thuyết phục, vẫn đồng ý tiễn Viễn đi một đoạn dài đến tận xã Hưng Long, Bình Chánh. Từ đấy hai người thuộc hai chiến tuyến khác nhau.

Mười Trí có làm một bài thơ cảm động về hoàn cảnh trên, có thể Bảy Viễn biết bài thơ này, điều đặc biệt, bài thơ được lan truyền từ đấy đến nay, ở Châu Thành-Đồng Tháp, gần Thị trấn Cái Tàu Hạ, còn nhiều người già, nhiều cụ cao niên vẫn thuộc bài thơ ly biệt mà Mười Trí để lại. Theo nhà văn Nguyên Hùng, thì một người vợ của Bảy Viễn bị kẹt lại nên tá túc nhà Mười Trí và được ông bảo vệ, bảo lãnh tuyệt đối, khi hay tin, Bảy Viễn thầm cảm ơn và đến cuối đời ông không bao giờ quên tình bạn của hai người.

 
Bảy Viễn đọc diễn văn

Vào lúc 13 giờ trưa ngày 12 tháng 6 năm 1948, qua sự trung gian móc nối của Đại úy Savani Trưởng phòng nhì Pháp cùng Thiếu úy Cistisni, Bảy Viễn và người cố vấn Lai Hữu Tài của ông đến một địa điểm cách đồn An Phú khoảng 2 cây số thuộc quận Cần Giuộc họp với 2 sĩ quan Pháp bàn việc trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia. Ngày 13 tháng 6, Bảy Viễn mở cuộc hành quân để tái chiếm Rừng Sác nhưng không thành vì tướng Nguyễn Bình đã đánh chiếm vào ngày 19 tháng 5 trước đó và cho củng cố chiến khu này rất chặt chẽ.

Ngày 17 tháng 6, Bảy Viễn tuyên bố Lực lượng Bình Xuyên trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia, cùng mang theo 280 vũ khí đủ loại đặt bản doanh tại số 31 đường Canton. Sau khi về hợp tác với Pháp và Chính phủ Quốc gia, ngày 1 tháng 8 cùng năm Bảy Viễn được Tướng De Latour gắn lon Đại tá và thuộc quyền Tổng trấn Nam phần.

 
Bảy Viễn và quân đội của ông đứng trước Tổng hành dinh gần cầu chữ Y

Sau khi về thành, theo tư liệu từ Cục lưu trữ Sài Gòn, năm 1949, Bảy Viễn cho xây Tổng hành dinh phía bên kia cầu chữ Y (Hướng quận 8 ngày nay, sát dạ cầu, bị phá huỷ sau khi tướng Dương Văn Minh thắng trận), sau đó, Viễn trở thành người bảo trợ cho ngôi chùa Bảo Quốc gần đấy (Bảo Quốc tự, nay cải danh chùa Linh Phước, toạ lạc tại số 139 đường Dạ Nam, quận 8).

 
Bảy Viễn tại tư gia

Theo một bài viết đề cập đến các ngôi biệt thự cổ ở Đà Lạt trên website của báo Người Lao Động, thì Bảy Viễn còn sở hữu một ngôi biệt thự bề thế ngay trung tâm thành phố này, toạ lạc tại số 10 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, mà ngày nay, một phần diện tích bên phải trong khuôn viên biệt thự được sử dụng làm trụ sở của Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng, những phần còn lại được giữ nguyên vẹn[2].

Ngày 1 tháng 1 năm 1951, Bảy Viễn đứng ra mở sòng bạc của khách sạn Casino Cloche d’Or (Sau cải danh thành Kim Chung). Bảy Viễn được Quốc trưởng Bảo Đại phong chức Nam Tước của Hoàng gia và nhận làm em nuôi mặc dù Bảo Đại nhỏ tuổi hơn ông nhiều. Vào thời đó, người ta cho rằng đấy là một niềm vinh hạnh lớn cho Bảy Viễn, khi mà một tướng cướp võ biền xuất thân giang hồ lại được một cựu Hoàng đế nhận làm em nuôi, kết tâm giao, nhưng ai cũng biết, vì Bảo Đại là người tiêu tiền như nước, không bao giờ là đủ khi đồng lương Pháp trả không là gì so với cuộc sống xa hoa Đế vương của ông ta, mà Bảy Viễn đã trở thành bậc đại phú hào, đại tư sản nhờ việc kinh doanh các sòng bạc lớn, một người vì tiền, một người vì quyền lực, nên đây là sự phải thành.

 
Nhà báo người Pháp Jacques Chancel trong một lần phỏng vấn Bảy Viễn tại Tổng hành dinh năm 1955

Ngày 22 tháng 4 năm 1952, Quốc trưởng Bảo Đại phong Bảy Viễn lên cấp Thiếu tướng (Major-général) Quân đội Quốc gia và bổ nhiệm vào chức vụ Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn[3].

Bằng thế lực của mình, Bảy Viễn thâu tóm sòng bạc Đại Thế giới (Casino Grand Monde), đồng thời làm ngơ cho khu mại dâm Bình Khang hoạt động công khai. Có tài liệu còn cho thấy Bảy Viễn móc nối với người đảo Corse (Thuộc nước Pháp) để buôn thuốc phiện và ma tuý công khai. Theo nhiều tài liệu còn lưu lại trong Cục lưu trữ Sài Gòn thì Lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn có mặt trong hầu hết các ngành khai thác và kinh doanh béo bở khắp Nam Kỳ, nhưng đồng thời Lực lượng Bình Xuyên do ông thủ lĩnh vẫn là một đơn vị độc lập.

 
Bảy Viễn trò chuyện với tướng Nguyễn Văn Hinh trong một cuộc gặp

Trong khoảng thời gian huy hoàng, vàng son khi nắm trong tay quyền lực to lớn, thao túng mọi hoạt động kinh doanh-buôn bán, Bảy Viễn dường như trở thành một trong những người giàu có, đại tư sản và quyền lực nhất Đông Dương, thậm chí là toàn cõi Đông Nam Á lúc bấy giờ. Trong giới giang hồ miền Nam xưa thì Bảy Viễn là người thành công nhất về quyền lực, sự giàu sang cũng như đạt đến đỉnh cao của danh vọng.

Tháng 9 năm 1954, Bảy Viễn từ chối lời mời của Thủ tướng Ngô Đình Diệm về việc sáp nhập Lực lượng Bình Xuyên vào Quân đội Quốc gia (Dù đã từng cùng Nguyễn Văn HinhNguyễn Văn Xuân vào Dinh Độc Lập để thương thảo với Diệm).

Bảy Viễn đồng thời cũng là sáng lập viên của Mặt trận Thống nhứt Toàn lực Quốc gia.

Bị trấn áp và lưu vongSửa đổi

Ngày 28 tháng 3 năm 1955, Bảy Viễn chỉ huy quân Bình Xuyên tấn công vào các Lực lượng của Chính phủ Quốc gia nhưng bị các đơn vị Nhảy dù Quân đội Quốc gia do Đại tá Đỗ Cao Trí chỉ huy sau năm ngày đã đánh bật lực lượng của ông ra khỏi Sài Gòn-Chợ Lớn. Sau đó, Thủ tướng Diệm quyết định đóng cửa các sòng bài do Bình Xuyên điều hành, giải tán khu mại dâm Bình Khang, cho quân đội tấn công quân Bình Xuyên và các giáo phái, đồng thời đặt Viễn và các thuộc cấp là Lai Văn Sang và Lai Hữu Tài ra ngoài vòng pháp luật. Bảy Viễn cùng các thuộc cấp thân tín rút về mật khu Rừng Sát ẩn náu. Ngày 21 tháng 5, Bảy Viễn và các thuộc cấp bị truy tố trước Tòa án Quân sự về các tội danh phá hoại và phản quốc. Ngày 21 tháng 9, Thủ tướng Diệm tổ chức Chiến dịch Hoàng Diệu (1955) do Đại tá Dương Văn Minh chỉ huy để truy kích tàn quân Bình Xuyên đang cố thủ tại mật khu Rừng Sát. Bảy Viễn và các thuộc cấp được Pháp giải thoát và đưa sang Pháp bằng phi cơ, kể từ đây Viễn bắt đầu cuộc sống lưu vong.

 
Bảy Viễn đang thương thảo với Ngô Đình Diệm tại Dinh Độc Lập

Ngày 13 tháng 1 năm 1956, Bảy Viễn và các thuộc cấp (Đã lưu vong) bị Tòa án Quân sự tuyên án tử hình khiếm diện về tội danh phá hoại và phản quốc, tước binh quyền và tịch thu tài sản.

Sau khi lưu vong, dù phải sống nơi xứ người, Bảy Viễn vẫn luôn dõi theo tình hình chiến sự ở Việt Nam. Theo các tài liệu và thư từ còn lưu giữ hiện được bảo tồn ở Cục lưu trữ Sài Gòn hiện nay, thì sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ, từ năm 1964 đến năm 1970, Bảy Viễn liên tục gửi nhiều bức thư cho chính quyền mới ở Nam Việt Nam, phần lớn mang nội dung rằng Viễn xin được cùng gia đình hồi hương, trở về Việt Nam cũng như xin được giao hoàn một phần tài sản nhất định để sinh sống như một công dân bình thường, và cam đoan không can hệ gì đến chuyện quốc sự của chính phủ, nhưng nếu chính quyền mới có thiện ý mời ông làm cố vấn để tiếp tục công cuộc đối kháng với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở miền Bắc, thì dù có tuổi cao sức yếu, Viễn vẫn vui lòng góp sức. Tuy nhiên, những bức thư với lời lẽ trang trọng ấy lại không được đón nhận, và Bộ nội vụ chính quyền Sài Gòn cũ thậm chí còn xếp xó vào kho lưu trữ tư liệu dưới dạng tuyệt mật thư. Ngoài thư từ, theo Cục lưu trữ Sài Gòn, có hẳn một công văn của Bộ nội vụ Việt Nam Cộng hoà đề cập đến vấn đề lo ngại việc ông Lê Văn Viễn trong các năm 1965 và 1968 đã thực hiện những chuyến du lịch đến các quốc gia láng giềng lân cận như Thái LanCampuchia, nhưng thực chất là đến tham dự các cuộc họp của những nhóm chính trị lưu vong ở hải ngoại.

Năm 1972, Bảy Viễn từ trần tại Paris, Pháp, hưởng thọ 68 tuổi.

Gia đình và giai thoạiSửa đổi

Bảy Viễn là người Minh Hương (Tức người Hoa lai, cha người Hoa, mẹ người Việt). Thân phụ là cụ Lê Văn Dậu (Người gốc Triều Châu, Trung Quốc). Cụ Dậu vốn là một trong những đàn anh lớn của tổ chức Thiên Địa hội chi nhánh Chợ Lớn-Việt Nam (Mang tinh thần phù Minh diệt Thanh), thuộc nhóm Nghĩa Hoà Đoàn (Triều Châu) ở Chợ Lớn thời đó, kể từ khi cụ di cư sang Việt Nam lập nghiệp. Tuy là tay anh chị giang hồ nhưng cụ tánh tình cương trực, nghĩa hiệp, luôn giúp đỡ bà con hàng xóm và những người khốn khó nên rất được mọi người kính nể. Bảy Viễn lúc nhỏ nghịch ngợm, ương ngạnh nên thường bị cụ Dậu rầy la và dạy dỗ nghiêm khắc, tánh giang hồ hảo hán của cụ Dậu có ảnh hưởng rất lớn đến ông.

Theo các nguồn tin chính thống cũng như không chính thống thì Bảy Viễn có năm người vợ, nhưng chỉ ba người là được ông đón sang Pháp.

Trong số các bà vợ, theo thông tin từ Cục lưu trữ ở Sài Gòn hiện nay, có người tên Huỳnh Thị Lộc, có thể bà Lộc là con gái của Huỳnh Đại, một thương gia Hoa kiều vốn là mạnh thường quân từng giúp đỡ Bảy Viễn thời còn túng quẫn. Theo nhà văn Nguyên Hùng, tác giả "Bảy Viễn, thủ lĩnh Bình Xuyên", thì Huỳnh Đại chính là chủ nhân của nhà hàng Đại La Thiên, một trong những nhà hàng sang trọng nhất nhì Chợ Lớn (Tọa lạc ở đường Phạm Bân, nay không còn), và cũng là cha vợ Bảy Viễn, nếu cả hai nguồn tin này trùng hợp không phải ngẫu nhiên, thì Huỳnh Đại chính là cha của bà Huỳnh Thị Lộc. Huỳnh Ðại cũng là đồng hương với Bảy Viễn khi xuất thân từ Quảng Ðông (Là người Tiều vì Triều Châu thuộc tỉnh Quảng Ðông), sang Sài Gòn với chiếc đòn gánh với hai cái thúng, cả ngày lặn lội mua ve chai sinh sống, lần hồi làm ăn khắm khá, mở quán cà phê hủ tíu vùng ngoại ô, dọc kênh Tàu Hủ, chính lúc này Bảy Viễn được Huỳnh Ðại cưu mang.

Theo nhà văn Nguyên Hùng và các thông tin đáng tin cậy từ Cục lưu trữ Sài Gòn, thì người vợ cuối cùng của Bảy Viễn là bà Hà Thị Tám, người mà ông làm quen trong một dịp tình cờ tìm vận may ở sòng bạc Đại Thế giới. Bà Hà Thị Tám vốn là nhân viên kế toán của hãng thuốc lá MIC mà Bảy Viễn trở thành Sếp lớn cho đến ngày ông thất thế.

Hậu duệ và con cháu Bảy Viễn hiện vẫn ở Pháp.

Một số tác phẩm viết về Bảy Viễn và Bảo Đại có kể một câu chuyện khá thú vị giữa Bảy Viễn-Lê Văn Giáo. Năm 1949, Bảo Đại mời một số chính khách lên biệt điện Đà Lạt để bàn thảo về việc chọn Tham mưu trưởng cho quân đội Quốc gia Việt Nam. Theo hiệp ước Bảo Ðại - Vincent Auriol, Pháp nhìn nhận Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền riêng, có quân đội riêng. Quân đội đã có rồi, còn chọn Tham mưu trưởng nữa thôi. Trong các nhân vật được Quốc trưởng đề cử, có tên Bảy Viễn. Khách sạn Langbian Palace là nơi các chính khách ngụ trong thời điểm này.

Thủ hiến Trung phần Phan Văn Giáo là người đã kích Bảy Viễn mạnh hơn ai hết. Không may cho ông ta là đã chê Bảy Viễn trước mặt Lai Văn Sang, đại diện Bảy Viễn lại cuộc họp. Tư Sang điện khẩn vụ việc, báo cáo cho Bảy Viễn. Viễn tức sôi máu, nhảy lên chiếc Jaguar, loại xe đua mới xuất xưởng, chạy một mạch lên Đà Lạt. Ðường Sài Gòn - Ðà Lạt nhiều đèo cao chạy vòng vèo kế bên vực thẳm, lại nhiều khúc cua có am nhỏ thờ cô hồn những người tử nạn, vậy mà Bảy Viễn vẫn phóng chiếc Jaguar với tốc độ gần 100km/h. Xe vừa tới khách sạn Langbian Palace, nơi có quan khách đến ở dự phiên họp với quốc trưởng, Bảy Viễn lớn tiếng hỏi Tư Sang:

"Thằng chó đẻ Phan Văn Giáo là thằng nào mà dám nói xấu Bảy Viễn này?"

Thủ hiến Phan Văn Giáo là thượng khách thường xuyên của khách sạn, nên một người bồi nhanh chân báo động, Phan Văn Giáo dông ra cửa sau đón taxi lên biệt điện cầu cứu Bảo Đại. Bảy Viễn và Tư Sang cũng phóng xe lên biệt điện. Phan Văn Giáo trốn biệt, Bảo Đại phải đứng ra dàn xếp.

Theo một nguồn đáng tin cậy, thì cố nghệ sĩ cải lương Út Bạch Lan lúc nhỏ từng là con nuôi của Bảy Viễn. Cố nghệ sĩ cải lương Ba Xây (Người gốc Hoa) cũng từng là thông dịch viên tiếng Hoa cho Bảy Viễn (Vì là người Tiều, nên có thể ông chỉ biết tiếng Triều Châu và chút ít tiếng Quảng Đông, hoặc thậm chí là không biết, cần phải có thông dịch viên kề cận khi giao hảo với các đại phú gốc Quảng Đông ở Chợ Lớn, hay từ Hồng Kông mới đến)[4]

  • Trong phim truyền hình dài tập Dưới cờ đại nghĩa được chuyển thể từ tác phẩm "Người Bình Xuyên" của nhà văn Nguyên Hùng, người thủ vai Bảy Viễn là nam diễn viên Trương Minh Quốc Thái.

Tham khảoSửa đổi

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2001). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Chú thíchSửa đổi

Thư mụcSửa đổi

  • Người Bình Xuyên, tác giả Nguyên Hùng
  • Bảy Viễn, Thủ lĩnh Bình Xuyên, tác giả Nguyên Hùng
  • BayVien, Le Maître de Cholon, tác giả Pierre Darcourt
  • Dưới cờ đại nghĩa, Hãng phim TFS

Xem thêmSửa đổi