Mở trình đơn chính

Nguyễn Văn Điềm (1930-1975), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên của trường Sĩ quan Trừ bị do Quân đội Quốc gia Việt Nam mở ra ở miền Nam, ban đầu với mục đích đào tạo sĩ quan để phục vụ cho Quân đội Liên hiệp Pháp. Suốt thời gian tại ngũ, ông chỉ chuyên phục vụ trong Quân chủng Bộ binh. Ông đã tuần tự đi lên từ chức vụ chỉ huy cấp Trung đội cho đến Tư lệnh cấp Sư đoàn. Cuối tháng 3 năm 1975, ông bị tử nạn khi đang trên đường di tản về tuyến sau.

NGUYỄN VĂN ĐIỀM
Tiểu sử
SinhTháng 8 năm 1930
Thừa Thiên, Liên bang Đông Dương
Mất(1975-03-29)29 tháng 3, 1975 (45 tuổi)
Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, Việt Nam Cộng hòa
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ1953-1975
Cấp bậcUS-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vịARVN 1st Division SSI.svg Sư đoàn 1 Bộ binh
Chỉ huyFlag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam

Tiểu sử & Binh nghiệpSửa đổi

Ông sinh vào tháng 8 năm 1930 trong một gia đình Nho học tại Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam. Ông học Tiểu học và Trung học theo giáo trình Pháp tại Huế. Năm 1949, ông tốt Trung học Phổ thông tại Huế với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Sau đó được bổ dụng làm công chức ngoại ngạch tùng sự tại Huế cho đến khi gia nhập quân đội.

Quân đội Quốc gia Việt NamSửa đổi

Cuối năm 1953, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 50/200.102. Theo học khóa 4 Cương Quyết 1 tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 1 tháng 12 năm 1953. Ngày 1 tháng 6 năm 1954 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy.[1] Ra trường giữ chức vụ Trung đội trưởng trong một đơn vị Bộ binh.

Quân đội Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Giữa năm 1956, sau 8 tháng chuyển từ Quân đội Quốc gia sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Trung úy giữ chức vụ Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2, Sư đoàn 1 Bộ binh.

Cuối năm 1963, sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngày 1 tháng 11). Ngày 2 tháng 11 ông được thăng cấp Đại úy và được chỉ định giữ chức vụ Trưởng phòng 2 trong Bộ tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh. Đầu tháng 2 năm 1964, ông bàn giao chức vụ này lại cho Đại úy Vũ Văn Giai (nguyên Trại trưởng Lực lượng Đặc biệt Khâm Đức) để nhận nhiệm vụ mới trong Bộ tư lệnh Sư đoàn.

Giữa năm 1968, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử làm Chỉ huy phó Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh. Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1969, ông được thăng cấp Trung tá và được cử giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1.

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1970, ông được đặc cách tại mặt trận thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Cuối năm 1971, ông chuyển công tác về Bộ tư lệnh Sư đoàn 1 và được cử làm Tư lệnh phó Sư đoàn.

Tháng 9 năm 1972, Tư lệnh Sư đoàn 1 là Thiếu tướng Phạm Văn Phú xin từ nhiệm vì lý do sức khoẻ, ông được giao chức vụ Xử lý Thường vụ Tư lệnh Sư đoàn trong thời gian chờ Chuẩn tướng Lê Văn Thân về làm Tư lệnh.

Cuối năm 1973, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh[2] thay thế Chuẩn tướng Lê Văn Thân.[3] Ngày 1 tháng 4 năm 1974, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

1975Sửa đổi

Ngày 28 tháng 3, ông được giao kiêm chức vụ Quân trấn trưởng Đà Nẵng. Ngày 29 tháng 3, trong chuyến trực thăng UH1.H bay từ Non Nước (Đà Nẵng) lúc hoàng hôn di tản về Quy Nhơn, Bình Định. Vì chở nặng và bay trong đêm cộng thêm sương mù nên trực thăng bay theo ven biển. Bay đến địa phận Quận Bình Sơn, Quảng Ngãi, trực thăng chao đảo, cánh quạt chạm nước gây tai nạn và chìm xuống biển. Trên trực thăng chở hơn 10 người gồm Phi hành đoàn, ông cùng một số sĩ quan Chỉ huy, Tham mưu và một Thượng sĩ Y tá.[4] Khi tử nạn, mất tích, ông mới 45 tuổi.

Ngày 2 tháng 10 năm 2011, gia đình ông đã tìm ra hài cốt tại địa điểm sát bờ biển Lá Ngải, thôn An Hải, xã Bình Châu, Bình Sơn, Quảng Ngãi. Ngoài hài cốt của ông còn có phần hài cốt của Đại tá Võ Toàn.

Gia đìnhSửa đổi

  • Thân phụ: Cụ Nguyễn Văn Bùi
  • Thân mẫu: Cụ Nguyễn Thị Châu
  • Nhạc phụ: Cụ Nguyễn Phúc Ưng Ký
  • Nhạc mẫu: Cụ Nguyễn Thị Hảo
  • Phu nhân: Bà Công tằng Tôn Nữ Minh Tâm - (Ông bà có bảy người con gồm 3 trai, 4 gái)

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Tốt nghiệp khóa 4 Cương Quyết 1, sau này lên tướng có Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Thiếu tướng Bùi Thế Lân. Các Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng, Hồ Trung Hậu và cố Chuẩn tướng Nguyễn Trọng Bảo.
  2. ^ Thời điểm tướng Nguyễn Văn Điềm Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, các sĩ quan Chỉ huy và Tham mưu như sau:
    -Các Đại tá
    -Trương Tấn Thục (Sinh năm 1927 tại Khánh Hòa, tốt nghiệp khóa 9 Võ bị Đà Lạt) - Tư lệnh phó
    -Ngô Văn Lợi (Sinh năm 1928 tại Hà Nội, tốt nghiệp khóa 6 Võ bị Đà Lạt) - Tham mưu trưởng
    -Võ Toàn (Sinh năm 1942 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp khóa 17 Võ bị Đà Lạt) - Chỉ huy Trung đoàn 1
    -Nguyễn Bùi Quang (Sinh năm 1934 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp khóa 10 Võ bị Đà Lạt) - Chỉ huy Trung đoàn 51
    -Các Trung tá
    -Hoàng Mão (Sinh năm 1942 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp khóa 20 Võ bị Đà Lạt) - Chỉ huy Trung đoàn 3
    -Nguyễn Văn Bình (Sinh năm 1943 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp khóa 19 Võ bị Đà Lạt) - Chỉ huy Trung đoàn 54
  3. ^ Chuẩn tướng Lê Văn Thân được cử đi làm Chỉ huy phó trường Võ bị Quốc gia.
  4. ^ Khi chiếc trực thăng UH.1H bị rơi, hầu hết số người trên phi cơ đều bị tử nạn và mất tích, duy nhất chỉ có một người sống sót là Trung tá Lê Ngọc Bình Cơ trưởng và cũng là Phi đoàn trưởng Phi đoàn 257 (Phi đoàn có nhiệm vụ tản thương và tìm cứu).

Tham khảoSửa đổi

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.