Mở trình đơn chính

Nguyễn Trọng Bảo

Sĩ quan cao cấp thuộc Binh chủng Nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Nguyễn Trọng Bảo (1925-1972), nguyên là một sĩ quan cao cấp thuộc Binh chủng Nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên ở trường Sĩ quan Trừ bị, được Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra tại Nam phần Việt Nam nhằm mục đích đào tạo sĩ quan người Việt để phục vụ Quân đội Liên hiệp Pháp-Việt. Ông đã phục vụ đơn vị Nhảy Dù trong suốt thời gian tại ngũ của mình. Năm 1972, khi đang là Đại tá Tham mưu trưởng Sư đoàn Nhảy dù, ông bị tử nạn trong khi thi hành nhiệm vụ, được truy thăng cấp bậc Chuẩn tướng.

NGUYỄN TRỌNG BẢO
Tiểu sử
Sinh29 tháng 4 năm 1925
Hà Nội, Việt Nam
Mất14 tháng 7 năm 1972 (47 tuổi)
Quảng Trị, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ1953-1972
Cấp bậcUS-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vịVietnamese Airborne Division 's Insignia.svg Binh chủng Nhảy dù
Chỉ huyFlag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam
Khen thưởngVPD National Order of Vietnam - Commander BAR.png B.quốc H,chương III
VPD National Order of Vietnam - Officer BAR.png B.quốc H.chương IV

Tiểu sử & Binh nghiệpSửa đổi

Ông sinh ngày 29 tháng 4 năm 1925 tại Hà Nội trong một gia đình cha mẹ là những thương nhân. Ông đã tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Sau đó, ông được tuyển dụng làm công chức của Chính quyền Bảo hộ Pháp cho đến ngày gia nhập quân đội.

Quân đội Quốc gia Việt NamSửa đổi

Đầu tháng 11 năm 1953, thi hành lệnh động viên ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 45/102.581. Theo học khoá 4 Cương Quyết tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 7 tháng 11 năm 1953. Ngày 1 tháng 6 năm 1954 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, ông tình nguyện gia nhập Binh chủng Nhảy dù và được theo học tiếp khóa huấn luyện căn bản Binh chủng tại Bà Quẹo, Tân Sơn Nhứt. Sau 3 tuần mãn khóa học, ông được cử làm Trung đội trưởng trong Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù. Ngày 9 tháng 8 năm 1954, ông bị thương tại chiến trường Bạc Liêu.

Quân đội Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Sau khi chuyển sang phục vụ Quân đội của Chính thể Đệ nhất Cộng hòa (từ năm 1955) được 2 năm. Giữa năm 1957, ông được thăng cấp Trung úy và được cử giữ chức vụ Đại đội trưởng.

Đầu năm 1962, ông được thăng cấp Đại úy và được chọn làm sĩ quan Tuỳ viên cho Trung tá Kỳ Quang Liêm,[1]Phụ tá Quân sự Bộ Quốc phòng. Cuối năm 1963, sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm ông được chuyển trở lại đơn vị Nhảy Dù và được giữ chức vụ Trưởng phòng 3 của Liên đoàn Nhảy Dù.

Đầu năm 1965, ông được thăng cấp Thiếu tá giữ chức vụ Tham mưu phó Lữ đoàn Nhảy Dù. Thượng tuần tháng 8 cùng năm, ông bị thương tại chiến trường Đức Cơ. Đến tháng 10 năm 1966, ông được đặc cách thăng cấp Trung tá và được cử giữ chức vụ chỉ huy một Lữ đoàn Nhảy Dù.

Đầu năm 1968, ông lại được đặc cách thăng cấp Đại tá tại mặt trận và được cử làm Tham mưu trưởng kiêm Phụ tá hành quân cho Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù.

Tử nạnSửa đổi

Sáng ngày 14 tháng 7 năm 1972, ông cùng 5 sĩ quan Tham mưu bay trên trực thăng quan sát các cánh quân Nhảy Dù và Thuỷ quân Lục chiến tại phía Đông Bắc Quảng Trị. Vào lúc 10 giờ 45, trực thăng rớt vì lý do kỹ thuật hư máy, ông bị tử nạn, hưởng dương 47 tuổi.[2]Thi hài của ông được chuyển ngay về Sài gòn buổi chiều cùng ngày.

Sáng hôm sau ngày 15 tháng 7, tại Bộ Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù ở trại Hoàng Hoa Thám đã tổ chức lễ truy điệu cho ông rất trọng thể, ông được truy thăng cấp bậc Chuẩn tướng và truy tặng đệ tam đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu.

Tang lễ của ông được tổ chức vào ngày 17 tháng 7 theo lễ nghi quân cách của một tướng lãnh, an táng tại Nghĩa trang Đô thành Mạc Đĩnh Chi, Sài Gòn.

Huy chươngSửa đổi

-Bảo quốc Huân chương đệ tứ đẳng (ân thưởng)
-Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng (truy tặng)
-Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu (truy tặng).
-Một số Anh dũng Bội tinh đủ loại gồm ngôi sao vàng, bạc và đồng (ân thưởng).
-Một số Chiến thương Bội tinh (ân thưởng).

Nhận xétSửa đổi

Suốt 19 năm tại ngũ phục vụ trong Binh chủng Nhảy dù. Cố Chuẩn tướng Bảo đã 2 lần bị thương tại Bạc Liêu (miền tây Nam phần) và Đức Cơ (Cao nguyên Trung phần). Ông đã theo sát từng bước hành quân của các đơn vị Nhảy dù trên khắp các chiến trường từ 4 Quân khu đến Hạ Lào và Campuchia.

Gia đìnhSửa đổi

  • Phu nhân: Bà Nguyễn Châu Mây (sinh ngày 15 tháng 12 năm 1927)

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Trung tá Kỳ Quang Liêm tốt nghiệp khóa 5 Võ bị Đà Lạt. Sau cùng là Đại tá Giám đốc Nha Nhân dụng tại Bộ Quốc phòng.
  2. ^ -Cùng tử nạn với cố Chuẩn tướng Bảo còn có:
    -Trung tá Huỳnh Long Phi (Sinh năm 1931 tại Sài Gòn, tốt nghiệp khóa 4 Sĩ quan Thủ Đức, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Pháo binh của Sư đoàn Nhảy dù. Được truy thăng Đại tá)
    -Trung úy Đỗ Văn Chắc (Sĩ quan thuộc Bộ chỉ huy Pháo binh Nhảy dù. Được truy thăng Đại úy)
    -Trung úy Bồ Việt Quốc (Sĩ quan thuộc Phòng 3 của Sư đoàn Nhảy dù. Được truy thăng Đại úy).

Tham khảoSửa đổi

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.