Lê Văn Thân

Chuẩn tướng Pháo binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Lê Văn Thân (1932-2005), nguyên là một tướng lĩnh gốc Pháo binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên tại trường Võ bị Quốc gia sau khi chuyển từ Huế về Nam Cao nguyên Trung phần. Ông đã phục vụ ở ngành chuyên môn của mình một thời gian dài, sau ông được chuyển sang lĩnh vực Chỉ huy và Tham mưu và đã từng giữ chức vụ Chỉ huy một đơn vị Bộ binh cấp Sư đoàn. Sau cùng là Tư lệnh phó của một Quân đoàn.

Lê Văn Thân
Chức vụ
QD II VNCH.jpg
Tư lệnh phó Lãnh thổ
Quân đoàn II và Quân khu 2
Nhiệm kỳ12/1974 – 3/1975
Cấp bậc-Chuẩn tướng
Tiền nhiệmSau cùng
Vị tríQuân khu II
Tư lệnh-Thiếu tướng Phạm Văn Phú
VNNMA-Emblem.svg
Chỉ huy phó Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt
Nhiệm kỳ11/1973 – 12/1974
Cấp bậc-Chuẩn tướng
Tiền nhiệm-Đại tá Phạm Tất Thông
Vị tríQuân khu 2
ARVN 1st Division SSI.svg
Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh
Nhiệm kỳ11/1972 – 11/1973
Cấp bậc-Chuẩn tướng (11/1972)
Tiền nhiệm-Thiếu tướng Phạm Văn Phú
Kế nhiệm-Đại tá Nguyễn Văn Điềm
Vị tríQuân khu I
QD I VNCH.jpg
Phụ tá Tư lệnh Quân đoàn I
Đặc trách Kế hoạch
tái chiếm tỉnh Quảng Trị
Nhiệm kỳ5/1972 – 11/1972
Cấp bậc-Đại tá
Vị tríQuân khu I
Tư lệnh-Trung tướng Ngô Quang Trưởng
ARVN 7th Division SSI.svg
Tư lệnh phó Sư đoàn 7 Bộ binh
Nhiệm kỳ1/1972 – 5/1972
Cấp bậc-Đại tá
Vị tríQuân khu IV
Tư lệnh-Chuẩn tướng Nguyễn Khoa Nam
Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng
Tiểu khu Thừa Thiên
kiêm Thị trưởng Thị xã Huế
Nhiệm kỳ3/1968 – 1/1972
Cấp bậc-Đại tá
Tiền nhiệm-Đại tá Phan Văn Khoa
Kế nhiệm-Đại tá Nguyễn Hữu Duệ
Vị tríQuân khu I
ARVN Joint General Staff Insignia.svg
Giám đốc Trung tâm Hành quân
tại Bộ Tổng Tham mưu
Nhiệm kỳ5/1965 – 3/1968
Cấp bậc-Trung tá
-Đại tá (11/1967)
Vị tríBiệt khu Thủ đô
Tổng tham mưu trưởng-Trần Văn Minh
-Nguyễn Hữu Có
-Cao Văn Viên
Flag of ARVN's Artillery Forces.svg ARVN 1st Division SSI.svg
Chỉ huy trưởng Pháo binh
Sư đoàn 1 Bộ binh
Nhiệm kỳ10/1962 – 12/1964
Cấp bậc-Thiếu tá
-Trung tá (11/1963)
Vị tríQuân khu I
Tư lệnh Sư đoàn-Nguyễn Văn Thiệu
-Đỗ Cao Trí
-Trần Thanh Phong
Chỉ huy Tiểu đoàn 1 Pháo binh
thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh
Nhiệm kỳ10/1958 – 10/1962
Cấp bậc-Đại úy (6/1956)
-Thiếu tá (1/1960)
Vị tríVùng 1 chiến thuật
Thông tin chung
Quốc tịch Hoa Kỳ
 Việt Nam Cộng hòa
Sinh15 tháng 5 năm 1932
Hà Đông, Việt Nam
Mất26 tháng 9 năm 2005 (73 tuổi)
California, Hoa Kỳ
Nguyên nhân mấtTuổi già
Nơi ởCalifornia, Hoa Kỳ
Nghề nghiệpQuân nhân
Dân tộcKinh
VợNguyễn Thị Bông
Gia quyến-Các anh chị:
Lê Văn Tín
Lê Văn Thành
Lê Văn Thanh
Lê Thị Bé
Lê Thị Năm
ChaLê Văn Kinh
MẹNguyễn Thị Vỹ
Con cái10 người con (6 trai, 4 gái):
Lê Anh Dũng
Lê Anh Ngọc
Lê Lan Dung
Lê Anh Phụng
Lê Lan Hương
Lê Anh Phương Thảo
Lê Anh Nguyễn
Lê Anh Vũ Huy
Lê Anh Vũ Bằng
Lê Lan Anh
Học vấnTú tài bán phần
Học trường-Trường Trung học Phổ thông tại Hà Nội
-Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt
-Tryường Chỉ huy Tham mưu Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ
Quê quánBắc Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ1952-1975
Cấp bậcUS-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vịFlag of ARVN's Artillery Forces.svg Binh chủng Pháo binh
ARVN 1st Division SSI.svg Sư đoàn 1 Bộ binh
ARVN 7th Division SSI.svg Sư đoàn 7 Bộ binh
VNNMA-Emblem.svg Trường Võ bị Đà Lạt
QD I VNCH.jpg Quân đoàn I và QK 1
QD II VNCH.jpg Quân đoàn II và QK 2
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Chỉ huyFlag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam

Tiểu sử & Binh nghiệpSửa đổi

Ông sinh ngày 15 tháng 5 năm 1932 trong một gia đình trung nông khá giả tại làng Quế Dương, Đan Phượng, Hà Đông, miền Bắc Việt Nam.[1] Năm 1951, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Cuối tháng 4 năm 1952, thi hành lệnh động viên ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 52/301.333. Theo học khóa 7 Ngô Quyền tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 5 năm 1952. Ngày 25 tháng 2 năm 1953 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được chọn vào ngành Pháo binh. Sau đó, ông tiếp tục theo học khóa căn bản Binh chủng tại Trung tâm Huấn luyện Pháo binh Phú Lợi, Bình Dương. Tháng 9 cùng năm, mãn khóa về làm Trung đội trưởng trong Pháo đội 2 thuộc Tiểu đoàn 3 Pháo binh, đồn trú tại Hưng Yên, Bắc Việt.

Hạ tuần tháng 7 năm 1954, sau Hiệp định Genève ông được thăng cấp Trung úy giữ chức vụ Pháo đội trưởng Pháo đội 2. Sau đó cùng đơn vị di chuyển vào Nam đồn trú tại Phú Yên.

Quân đội Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Giữa năm 1956, sau hơn nửa năm phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa (cơ cấu mới được đổi tên từ Quân đội Quốc gia), ông được thăng cấp Đại úy và được cử làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 34 Pháo binh 155 ly tại Đà Nẵng. Tháng 10 năm 1958, ông được chuyển sang làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Pháo binh, đồn trú tại Huế (Cuối năm 1960, Tiểu đoàn 1 Pháo binh trực thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh). Đầu năm 1960, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm.

Tháng 10 năm 1962, ông được cử làm Chỉ huy trưởng Pháo binh Sư đoàn 1 Bộ binh. Ngày 4 tháng 11 năm 1963, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm. Cuối năm 1964, ông được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp (khóa 1965/1, thụ huấn 16 tuần) tại trường Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, thuộc Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ.

Thời gian giữ chức chỉ huy Pháo binh Sư đoàn 1 Bộ binh, ông đã trải qua các vị Tư lệnh Sư đoàn: Đại tá Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Đỗ Cao Trí và Đại tá Trần Thanh Phong.

Đầu tháng 5 năm 1965 mãn khóa học về nước ông được về Bộ Tổng tham mưu giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm Hành quân trải qua các vị Tổng tham mưu trưởng: Các Trung tướng Trần văn Minh, Nguyễn Hữu CóCao Văn Viên. Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1967, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm.

Tháng 3 năm 1968, ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng và Tiểu khu trưởng tỉnh Thừa Thiên kiêm Thị trưởng thị xã Huế thay thế Đại tá Phan Văn Khoa.[2]

Cuối tháng 1 năm 1972, ông nhận lệnh bàn giao tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế lại cho Đại tá Nguyễn Hữu Duệ.[3] Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh phó Sư đoàn 7 Bộ binh do Chuẩn tướng Nguyễn Khoa Nam làm Tư lệnh. Đầu tháng 5, trở lại Quân khu 1 ông được cử làm Phụ tá Hành quân cho Tư lệnh Quân đoàn I là Trung tướng Ngô Quang Tưởng, đồng thời kiêm Trưởng ban kế hoạch tái chiếm Quảng Trị. Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Chuẩn tướng và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, thay thế Thiếu tướng Phạm Văn Phú.

Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1973, ông nhận lệnh bàn giao Sư đoàn 1 Bộ binh lại cho Đại tá Nguyễn Văn Điềm (nguyên Tư lệnh phó Sư đoàn). Cùng ngày ông được chuyển về Quân khu 2 giữ chức vụ Chỉ huy phó trường Võ bị Quốc gia Việt Nam, thay thế Đại tá Phạm Tất Thông[4] đi làm Tham mưu trưởng Tổng cục Quân huấn. Cuối năm 1974, ông được chuyển về Bộ tư lệnh Quân đoàn II giữ chức vụ Tư lệnh phó lãnh thổ Quân khu 2 do Thiếu tướng Phạm Văn Phú làm Tư lệnh.

1975Sửa đổi

Sau ngày 30 tháng 4, ông ra trình diện Ủy ban Quân quản Thành phố Sài Gòn, bị bắt đi tù lưu đày cho tới ngày 5 tháng 5 năm 1992 mới được trả tự do.[5]

Năm 1993, ông cùng gia đình xuất cảnh theo chương trình "Ra đi có trật tự" diện H.O, do Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh, sau đó định cư tại Westminster, Tiểu bang California, Hoa kỳ.

Ngày 26 tháng 9 năm 2005, ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 73 tuổi.

Gia đìnhSửa đổi

  • Thân phụ: Cụ Lê Văn Kính
  • Thân mẫu: Cụ Nguyễn Thị Vỹ
  • Bào huynh: Lê Văn Tín, Lê Văn Thành, Lê Văn Thanh
  • Bào tỷ: Lê Thị Bé, Lê Thị Năm
  • Phu nhân: Bà Nguyễn Thị Bông
Ông bà có 10 người con (6 trai, 4 gái):
Lê Anh Dũng, Lê Anh Ngọc, Lê Lan Dung, Lê Anh Phụng, Lê Lan Hương, Lê Anh Phương Thảo, Lê Anh Nguyễn, Lê Anh Vũ Huy, Lê Anh Vũ Bằng, Lê Lan Anh

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Nay thuộc xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội.
  2. ^ Đại tá Phan Văn Khoa sinh năm 1929 tại Huế, tốt nghiệp khóa 3 Võ bị Địa phương Trung Việt, Huế.
  3. ^ Đại tá Nguyễn Hữu Duệ sinh năm 1931 tại Hưng Yên, tốt nghiệp khóa 6 Võ bị Đà Lạt.
  4. ^ Đại tá Phạm Tất Thông sinh năm 1927 tại Hà Nam, tốt nghiệp khóa 3 Võ bị Đà Lạt.
  5. ^ Tám tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa bị tù lưu đày lâu nhất với thời gian 17 năm:
    -Từ tháng 5/1975 đến tháng 5/1992:
    Các Thiếu tướng Đỗ Kế Giai, Trần Bá DiLê Minh Đảo. Các Chuẩn tướng Trần Quang Khôi và Lê Văn Thân.
    -Từ tháng 5/1975 đến tháng 2/1992:
    Các Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, Phạm Duy TấtMạch Văn Trường.

Xem thêmSửa đổi

-Tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa bị tù lưu đày

Tham khảoSửa đổi

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.