Mạch Văn Trường

Chuẩn tướng Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Mạch Văn Trường (sinh 1936), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng.[2] Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân vào thời kỳ Quân đội Việt Nam Cộng hòa hình thành (1955). Trong thời gian tại ngũ, ngoài chuyên môn là một sĩ quan chỉ huy đơn vị Bộ binh, ông cũng được giao phó chức vụ chỉ huy về lãnh vực Hành chính Quân sự.

Mạch Văn Trường
Chức vụ
21st Division.jpg
Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh
Nhiệm kỳ11/1974 – 1/5/1975
Cấp bậc-Đại tá
-Chuẩn tướng (4/1975)
Tiền nhiệm-Chuẩn tướng Lê Văn Hưng
Kế nhiệmSau cùng
Vị tríQuân khu IV
Tư lệnh phó
Tham mưu trưởng
-Đại tá Nguyễn Hữu Kiểm
-Đại tá Lâm Chánh Ngôn
Chánh thanh tra Sư đoàn 21 Bộ binh
Nhiệm kỳ4/1974 – 11/1974
Cấp bậc-Đại tá
Vị tríQuân khu IV
Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng
Tiểu khu Long Khánh
Nhiệm kỳ11/1972 – 1/1974
Cấp bậc-Đại tá
Vị tríQuân khu III
ARVN 5th Division SSI.svg
Tư lệnh phó Sư đoàn 5 Bộ binh
Nhiệm kỳ7/1972 – 11/1972
Cấp bậc-Đại tá
Vị tríQuân khu III
Trung đoàn trưởng Trung đoàn 8
thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh
Nhiệm kỳ7/1971 – 7/1972
Cấp bậc-Trung tá
-Đại tá (3/1972)
Tiền nhiệm-Đại tá Bùi Trạch Dần
Vị tríQuân khu III
Trung đoàn phó Trung đoàn 8
thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh
Nhiệm kỳ1/1971 – 7/1971
Cấp bậc-Trung tá
Vị tríQuân khu III
Đặc khu trưởng Đặc khu Thủ Đức
thuộc tỉnh Gia Định
Nhiệm kỳ6/1969 – 6//1970
Cấp bậc-Trung tá
Vị tríQuân khu III
ARVN Capital Military Zone Unit SSI.svg
Tham mưu trưởng
Tòa Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định
trực thuộc Biệt khu Thủ Đô
Nhiệm kỳ6/1968 – 6/1969
Cấp bậc-Trung tá
Vị tríQuân khu III
Phó Tỉnh trưởng Nội an
kiêm Tiểu khu phó Bạc Liêu
Nhiệm kỳ1/1967 – 6/1968 (6/1968)
Cấp bậc-Thiếu tá (6/1965)
-Trung tá
Vị tríQuân khu IV
Trưởng phòng 2 An ninh
tại Bộ tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh
Nhiệm kỳ6/1965 – 1/1967
Cấp bậc-Thiếu tá
Vị tríQuân khu IV
Thông tin chung
Quốc tịch Hoa Kỳ
 Việt Nam Cộng hòa
SinhTháng 3 năm 1936
Bạc Liêu, Việt Nam
Nơi ởTexas, Hoa Kỳ
Nghề nghiệpQuân nhân
Dân tộcKinh
VợLê Thị Bạch Loan
Gia quyến-Lê Văn Trương (bố vợ)
-Nguyễn Thị Bê (mẹ vợ)
Cha-Mạch Hữu Khương
Mẹ-Tô Thị Lến
Con cái5 người con (4 trai, 1 gái):
-Mạch Công Thành, Mạch Công Danh, Mạch Công Tài, Mạch Thị Hồng Đức và Mạch Công Hạnh
Học vấnTú tài bán phần
Học sinh trường-Trường Trung học Phổ thông Phan Thanh Giản, Cần Thơ
-Trường Võ bị Quốc Gia Đà Lạt
-Trường Võ bị Lục quân Fort Benning, Hoa Kỳ
-Trường Chỉ huy và Tham mưu Đà Lạt
Quê quánNam Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ1955-1975
Cấp bậcUS-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vịARVN 5th Division SSI.svg Sư đoàn 5 Bộ binh
21st Division.jpg Sư đoàn 21 Bộ binh[1]
Chỉ huyFlag of South Vietnam.svg Quân đội Việt Nam Cộng hòa
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam
Khen thưởngVPD National Order of Vietnam - Commander BAR.png B.quốc H.chương III
VPD National Order of Vietnam - Officer BAR.png B.quốc H.chương IV
VPD National Order of Vietnam - Knight BAR.png B.quốc H.chương V

Tiểu sử & Binh nghiệpSửa đổi

Ông sinh vào tháng 3 năm 1936 trong một gia đình trung nông gốc người Hoa tại Bạc Liêu, miền tây Nam phần Việt Nam. Ông học Tiểu học ở Bạc Liêu. Khi lên Trung học trên, ông được gia đình cho lên học ở Cần Thơ. Năm 1955, ông tốt nghiệp Trung học phổ thông tại Cần Thơ với văn bằng Tú tài 1 (Part I).

Quân đội Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Cuối năm 1955, sau khi rời học đường, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Việt Nam Cộng hòa, mang số quân: 56/101.520. Được theo học khóa 12 Cộng hòa tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 24 tháng 10 năm 1955. Ngày 2 tháng 12 năm 1956, mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ngay sau đó, ông cùng với 130 sĩ quan cùng tốt nghiệp được sang Hoa Kỳ du học khóa Liên hợp các Binh chủng.

Đầu năm 1957, ông được thuyên chuyển đi làm huấn luyện viên khoa vũ khí tại Trung tâm Huấn luyện số 1.[3] Cùng năm, được cử đi du học lớp Bộ binh cao cấp tại trường Võ bị Lục quân Fort Benning, Columbus, Tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ. Đầu năm 1958, mãn khóa học về nước, ông được thăng cấp Trung úy, tiếp tục nhiệm vụ làm Huấn luyện viên.

Năm 1962, ông được cử đi du học lớp Tác chiến Rừng rậm tại Mã Lai (The Jungle Warfare course in Malaysia), Philippines. Cùng năm ông được thăng cấp Đại úy và thuyên chuyển về Quân khu 4 làm Biệt đội trưởng Biệt đội Quân báo thuộc Sư đoàn 21 Bộ binh. Năm 1964, ông tiếp tục được cử đi du học lớp Tình báo tác chiến ở trường Tình báo Viễn Đông Hoàng gia Anh tại Singapore.

Quân lực Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1965, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử giữ chức vụ Trưởng phòng 2 tại Bộ tư lệnh Sư đoàn 21 bộ binh. Qua đầu năm 1967, ông chuyển đi làm Phó Tỉnh trưởng Nội an kiêm Tiểu khu phó Bạc Liêu.

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm, sau đó chuyển về Thủ đô giữ chức Tham mưu trưởng Tòa Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định.

Giữa năm 1969, ông được chỉ định vào chức vụ Đặc khu trưởng Đặc khu Thủ Đức. Giữa năm 1970, được cử đi học và tốt nghiệp khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp ở trường Chỉ huy và Tham mưu tại Đà Lạt.

Đấu năm 1971 mãn khóa học, ông được cử làm Trung đoàn phó Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 Bộ binh do Đại tá Bùi Trạch Dần[4] làm Trung đoàn trưởng. Tháng 7 cùng năm ông được lên giữ chức vụ Trung đoàn trưởng thay thế Đại tá Dần.

Tháng 3 năm 1972, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Tháng 7 cùng năm, ông được chỉ định vào chức vụ Tư lệnh phó Sư đoàn 5 Bộ binh dưới quyền Chuẩn tướng Lê Văn Hưng tư lệnh Sư đoàn. Tháng 11 cuối năm, Bộ Tổng tham mưu biệt phái ông sang lĩnh vực Hành chính Quân sự và ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Long Khánh.

Đầu năm 1974, rời chức vụ Tỉnh trưởng, ông được cử theo học và tốt nghiệp Thủ khoa khóa Tổng thanh tra Quân lực. Tháng 4 cùng năm, ông được chuyển trở về Quân khu 4, phục vụ tại Sư đoàn 21 Bộ binh giữ chức vụ Chánh tranh tra Sư đoàn. Tháng 11 cuối năm, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh thay thế Chuẩn tướng Lê Văn Hưng được cử đi làm Tư lệnh phó Quân đoàn IV và Quân khu 4.

  • Sư đoàn 21 Bộ binh vào thời điểm tháng 4/1975, nhân sự của Bộ tư lệnh Sư đoàn và Chỉ huy các Trung đoàn được phân bổ trách nhiệm như sau:

-Tư lệnh - Chuẩn tướng Mạch Văn Trường
-Tư lệnh phó - Đại tá Nguyễn Hữu Kiểm[5]
-Tham mưu trưởng - Đại tá Lâm Chánh Ngôn[6]
-Chỉ huy Pháo binh - Trung tá Nguyễn Bá Nhẫn[7]
-Trung đoàn 32 - Trung tá Huỳnh Thanh Điền[8]

1975Sửa đổi

Ngày 26 tháng 4, ông được Tổng thống Trần Văn Hương ký quyết định thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Ngày 30 tháng 4, ông chỉ huy Sư đoàn chiến đấu đến giờ chót.

Ngày 17 tháng 5, ông bị bắt tại Cần Thơ và bị đưa đi giam cầm và tù đày từ Nam ra Bắc suốt 17 năm.[9] Ngày 11 tháng 2 năm 1992 mới được trả tự do.

Cùng năm 1992, ông được Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh theo diện H.O sang Mỹ tỵ nạn và định cư tại Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.

Huy chươngSửa đổi

  • Huy chương Việt nam Cộng hòa:
    -Bảo quốc Huân chương đệ tam, đệ tứ và đệ ngũ đẳng
    -Lục quân Huân chương đệ nhất hạng.
    -Chương mỹ Bội tinh đệ nhị hạng.
    -Ba mươi hai Anh dũng Bội tinh đủ loại (9 nhành dương liễu, 8 ngôi sao vàng, 13 ngôi sao bạc và 2 ngôi sao đồng).
    -Ba Chiến thương Bội tinh và nhiều huy chương quân sự, dân sự khác.
  • Huy chương Hoa Kỳ:
    -Huy chương Commendation Medal (1969)
    -Hai huy chương Bronze Star with V Device (1969, 1971)
    -Huy chương Silver Star Anloc Battle (1972).
  • Giây biểu chương:
    -Màu Anh dũng Bội tinh (1963)
    -Màu Quân công Bội tinh (1966)
    -Màu Bảo quốc Huân chương (1971).

Gia đìnhSửa đổi

  • Song thân: Cụ Mạch Hữu Khương và Cụ Tô Thị Lến
  • Nhạc phụ: Cụ Lê Văn Trương - Nhạc mẫu: Cụ Nguyễn Thị Bê
  • Phu nhân: Bà Lê Thị Bạch Loan
  • Các con: Mạch Công Thành, Mạch Công Danh, Mạch Công Tài, Mạch Thị Hồng Đức và Mạch Công Hạnh

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Ba lần phục vụ ở Sư đoàn 21 Bộ binh:
    -Lần thứ nhất: Đại úy Biệt đội trưởng Biệt đội Quân báo (1962-1964).
    -Lần thứ hai: Thiếu tá Trưởng phòng 2 (1965-1967).
    -Lần thứ 3: Chánh Thanh tra. Sau đó Tư lệnh Sư đoàn (1974-1975).
  2. ^ Là một trong 8 Đại tá được thăng cấp Chuẩn tướng vào những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, thời điểm từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1975 (trong đó có 3 tướng thuộc Quân đội và 5 tướng thuộc Cảnh sát Quốc gia)
    -Xem bài: Danh sách Chuẩn tướng Việt Nam Cộng hòa.
  3. ^ Tiền thân của Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung.
  4. ^ Đại tá Bùi Trạch Dần sinh năm 1922 tại Hải Dương. Tốt nghiệp khóa 2 Võ bị Quốc gia Huế. Sau cùng là Liên đoàn trưởng Liên đoàn SVSQ tại trường Võ bị Đà Lạt. Giải ngũ năm 1973.
  5. ^ Đại tá Nguyễn Hữu Kiểm sinh năm 1932 tại Quảng Bình, tốt nghiệp khóa 3 Võ khoa Thủ Đức
  6. ^ Đại tá Lâm Chánh Ngôn sinh năm 1929 tại Vĩnh Long, tốt nghiệp khóa 5 Võ bị Đà Lạt
  7. ^ Tốt nghiệp trường Sĩ quan Thủ Đức
  8. ^ Trung tá Huỳnh Thanh Điền tốt nghiệp Trường Sĩ quan Thủ Đức
  9. ^ Là một trong 8 tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa bị tù lưu đày với thời gian lâu nhất từ 1975 đến 1992.
    -Xem bài: Tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa bị tù lưu đày

Tham khảoSửa đổi

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.