Mở trình đơn chính

Bùi Thế Lân (1932 – 2014), nguyên là một tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Thiếu tướng.[1] Ông xuất thân từ trường Sĩ quan Trừ bị được mở ra ở Nam phần dưới thời Quốc gia Việt Nam. Ra trường, ông được chọn phục vụ Lực lượng Bộ binh Hải quân thuộc Quân chủng Hải quân.[2] Trong thời gian tại ngũ ông chỉ phục vụ đơn vị của mình. Ban đầu là một sĩ quan Trung đội trưởng. Mười tám năm sau ông đã là một tướng lĩnh Tư lệnh Binh chủng Thủy quân Lục chiến (1972 – 1975).

BÙI THẾ LÂN
Viet Nam Laan Gillies.jpg
Tiểu sử
SinhTháng 11 năm 1932
Hà Nội, Bắc Kỳ
Mất(2014-01-14)14 tháng 1, 2014 (82 tuổi)
California, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ1953-1975
Cấp bậcUS-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vịTổ quốc - Đại dương.gif Quân chủng Hải quân
Republic of Vietnam Marine Division SSI.png Thủy quân Lục chiến
Chỉ huyFlag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam

Tiếu sử & Binh nghiệpSửa đổi

Ông sinh vào tháng 11 năm 1932, là thứ nam trong một gia đình thương nhân khá giả tại Hà Nội. Thời niên thiếu, ông đã học qua các trường Trung học Chu Văn An và Dũng Lạc ở Hà Nội. Năm 1952, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp với văn bằng Tú tài 1 (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt NamSửa đổi

Tháng 10 năm 1953, thi hành lệnh động viên ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 52/700.453. Theo học khóa 4 Cương Quyết tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 7 tháng 11 năm 1953. Ngày 1 tháng 6 năm 1954 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, ông được phân bổ vào Lực lượng Bộ binh Hải quân, giữ chức vụ Chỉ huy cấp Trung đội, rồi cấp Đại đội thuộc Tiểu đoàn 1 Thuỷ quân Lục chiến.[3]

Quân đội Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Đầu năm 1958, sau hơn 2 năm từ Quân đội Quốc gia chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Trung úy, giữ chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Thuỷ quân Lục chiến. Đầu năm 1960, ông được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Liên đoàn Thủy quân Lục chiến.[4]

Ngày 1 tháng 6 năm 1961, ông được thăng cấp Đại úy và được chỉ định làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4.[5] Tháng 9 năm 1963, ông được lệnh bàn giao Tiểu đoàn 4 lại cho Đại úy Lê Hằng Minh[6] để lên đường đi du học khóa Chỉ huy và Tham mưu cao cấp tại căn cứ Thủy quân Lục chiến Quantico, Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ.

Sau cuộc Chỉnh lý nội bộ các tướng lãnh trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng vào cuối tháng 1 năm 1964 để lên cầm quyền của tướng Nguyễn Khánh. Giữa tháng 3 mãn khóa về nước, ông được cử làm Tham mưu trưởng Lữ đoàn Thuỷ quân Lục chiến thay thế Thiếu tá Trần Văn Nhựt[7] đồng thời ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm. Đến ngày lễ Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1965, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm.

Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1966, ông được đặc cách thăng cấp Đại tá, vẫn đương nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Lữ đoàn.[8] Tư lệnh Lữ đoàn là Thiếu tướng Lê Nguyên Khang. Đầu năm 1971, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh phó Sư đoàn Thủy quân Lục chiến và vẫn kiêm chức vụ Tham mưu trưởng của Sư đoàn.

Tháng 5 năm 1972, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến thay thế Trung tướng Lê Nguyên Khang được điều về Bộ Tổng Tham mưu giữ chức vụ Tổng thanh tra Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ngay sau đó ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

1975Sửa đổi

Đầu tháng 4, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm.

Ngày 30 tháng 4, ông cùng gia đình di tản khỏi Việt Nam. Sau đó sang định cư tại Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.

Ngày 14 tháng 1 năm 2014 ông từ trần tại San Jose, Tiểu bang California, Hoa Kỳ. Hưởng thọ 82 tuổi.

Huy chươngSửa đổi

Tướng Lân được ân thưởng nhiều huy chương Quân sự, Dân sự và Đồng minh. Trong số huy chương Đồng minh có huy chương Legion of Merit (Degree of Commander) của Hoa Kỳ.

Gia đìnhSửa đổi

  • Thân phụ: Cụ Bùi Thế Quỳnh (nguyên là viên chức trong bộ phận Quản lý tại Phi trường Tân Sơn Nhất)
  • Thân mẫu: Cụ Lê Thị Thân (1905 – 2000). Cả hai cụ mất tại Montreal, Canada
  • Anh trai: Ông Bùi Thế Cầu (nguyên là Y sĩ Trung tá trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nguyên Tỉnh trưởng tỉnh Gia Định năm 1965 – 1966, giải ngũ cùng cấp năm 1967)

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Trong những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, ngoài tướng Bùi Thế Lân, còn hai Chuẩn tướng nữa được thăng cấp Thiếu tướng là Lê Minh ĐảoPhan Đình Niệm.
  2. ^ Đơn vị Bộ binh Hải quân về sau tách ra khỏi Quân chủng Hải quân và được đặt tên là Binh chủng Thủy quân Lục chiến
  3. ^ Tiểu đoàn 1, ban đầu là đơn vị Thuỷ bộ của Hải quân, được thành lập đầu tiên vào tháng 8 năm 1954. Sau này có tên danh xương là "Tiểu đoàn Quái Điểu" của Sư đoàn Thủy quân Lục chiến
  4. ^ Năm 1965, Liên đoàn Thủy quân Lục chiến được nâng cấp thành Lữ đoàn và tách khỏi Quân chủng Hải quân
  5. ^ Tiểu đàn 4 Thủy quân Lục chiến về sau có danh xưng là Tiểu đoàn "Kình Ngư"
  6. ^ Đị uý Lê Hằng Minh sinh năm 1935 tại Gia Định (số quân: 55/700.794), tốt nghiệp khóa 5 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, là bào đệ của Thiếu tướng Lê Minh Đảo. Năm 1966, là Trung tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Thủy quân Lục chiến (Tiểu đoàn Trâu Điên), bị tử trận do đối phương phục kích khi đang chỉ huy đơn vị tham chiến tại mặt trận Phong Điền, Thừa Thiên. Do mới được thăng cấp Trung tá trước đó một tuần nên không truy thăng
  7. ^ Thiếu tá Trần Văn Nhựt được cử đi làm Phụ tá Tùy viên Quân lực cạnh Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Manila, Philippines.
  8. ^ Năm 1968, Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến được nâng lên cấp Sư đoàn, đồng thời tổ chức trang bị hoàn chỉnh để trở thành đơn vị Tổng Trừ bị cho Bộ Tổng Tham mưu

Tham khảoSửa đổi

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Xem thêmSửa đổi