Mở trình đơn chính

Lê Quang Lưỡng

Chuẩn tướng nhảy dù của Quân lực VNCH

Lê Quang Lưỡng (1932-2005), nguyên là một tướng lĩnh Nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên tại trường Sĩ quan Trừ bị do Quân đội Pháp và Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra ở miền Nam Việt Nam. Ra trường, ông được tuyển vào đơn vị Nhảy dù và đã phục vụ Binh chủng này trong suốt thời gian tại ngũ của mình. Ông cũng là vị Tư lệnh cuối cùng của Sư đoàn Nhảy dù (1972-1975).

LÊ QUANG LƯỠNG
Tiểu sử
SinhTháng 8 năm 1932
Bình Dương, Liên bang Đông Dương
Mất21 tháng 9 năm 2005 (73 tuổi)
California, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ1953-1975
Cấp bậcUS-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vịVietnamese Airborne Division 's Insignia.svg Binh chủng Nhảy Dù
Chỉ huyFlag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam
Khen thưởngVPD National Order of Vietnam - Officer BAR.png B.quốc H.chương IV
VPD National Order of Vietnam - Knight BAR.png B.quốc H.chương V

Mục lục

Tiểu sử & Binh nghiệpSửa đổi

Ông sinh vào tháng 8 năm 1932 trong một gia đình khá giả tại tỉnh Thủ Dầu Một (sau đổi thành Bình Dương), miền Đông Nam phần Việt Nam. Thiếu thời, ông học Tiểu học ở Thủ Dầu Một. Khi lên Trung học, ông được gia đình gửi về Sài Gòn học ở trường Trung học Tư thục Huỳnh Khương Ninh, tốt nghiệp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt NamSửa đổi

Tháng 11 năm 1953, thi hành lệnh động viên ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia mang số quân: 52/182.618. Theo học khóa 4 Cương Quyết tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 17 tháng 11 năm 1953. Ngày 1 tháng 6 năm 1954 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, ông tình nguyện gia nhập vào đơn vị Nhảy dù. Ngay sau đó, theo học khóa huấn luyện căn bản Binh chủng tại Trung tâm Huấn luyện Nhảy dù ở Bà Quẹo, Tân Sơn Nhứt, Gia Định. Đến ngày 18 tháng 6 năm 1954 mãn khóa. Đầu tháng 7 ra đơn vị làm Trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 5 Nhảy dù đồn trú tại Bưởi cạnh Hồ tây và Đền Quán Thánh, Hà Nội. Sau Hiệp định Genève (ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954), ông theo đơn vị vào Nam bằng đường không vận từ Hà Nội đến Đà Nẵng. Tháng 10, từ Đà Nẵng Tiểu đoàn 5 di chuyển bằng hỏa xa vào đồn trú tại Đồng Đế, Nha Trang.

Quân đội Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Tháng 3 năm 1955, Tiểu đoàn được lệnh từ Nha Trang bằng hỏa xa chuyển quân về Sài Gòn-Chợ Lớn, hành quân truy kích Lực lượng Bình Xuyên của Thiếu tướng Lê Văn Viễn (tự Bảy Viễn) ra khỏi khu vực Đô thành.

Ngày 1 tháng 6 năm 1956, sáu tháng sau thời điểm Quân đội Quốc gia đổi tên thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Trung úy và được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 1 của Tiểu đoàn 5 Nhảy dù. Đến cuối năm 1960, ông được chuyển nhiệm vụ lên Bộ chỉ huy Tiểu đoàn giữ chức vụ Trưởng ban 3, Đặc trách Kế hoạch Hành quân.

Đầu tháng 11 năm 1963, sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngày 1 tháng 11). Ngày 3 tháng 11 ông được thăng cấp Đại úy và giữ chức vụ Tiểu đoàn phó. tháng 2 năm 1964, sau cuộc Chỉnh lý ngày 30 tháng 1, ông được cử theo học khóa Tiểu đoàn trưởng, tốt nghiệp Thủ khoa, mãn khóa trở về đơn vị giữ chức vụ cũ. Đầu tháng 9 năm 1965, ông được chỉ định làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Nhảy dù tân lập.

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1966, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử tháp tùng phái đoàn trong Bộ Tổng tham mưu đi du hành tham quan Okinawa, Nhật Bản. Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1967, ông được chỉ định làm Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 1 Nhảy dù thay thế Trung tá Hồ Trung Hậu.

Đầu tháng 1 năm 1968, Chiến đoàn 1 Nhảy dù được đổi tên thành Lữ đoàn 1 Nhảy dù, ông là Lữ đoàn trưởng. Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1968, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm. Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1970, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Trong chiến dịch Lam Sơn 719, ông chỉ huy Lữ đoàn hành quân sang Hạ Lào từ đầu tháng 2 đến tháng đầu tháng 4 năm 1971.

Sau trận chiến "Mùa hè đỏ lửa" năm 1972, từ tháng 6 đến tháng 7, ông chỉ huy các đơn vị trực thuộc Lữ đoàn tái chiếm Quảng trị. Hạ tuần tháng 8 cùng năm, ông được lệnh bàn giao Lữ đoàn 1 Nhảy dù lại cho Đại tá Lê Văn Ngọc.[1] Ngay sau đó ông được thăng cấp Chuẩn tướng. Đầu tháng 9, ông được cử làm Phụ tá hành quân cho Tư lệnh Sư đoàn. Đến giữa tháng 9, ông được chỉ định vào chức vụ Tư lệnh phó Sư đoàn Nhảy dù, đồng thời nhận trách nhiệm Xử lý Thường vụ chức vụ Tư lệnh khi đương nhiệm Tư lệnh Sư đoàn bị lâm bệnh.

Ngày lễ Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1972, ông được bổ nhiệm chính thức chức vụ Tư lệnh Sư đoàn Nhảy dù thay thế Trung tướng Dư Quốc Đống.[2]

Ngày 25 tháng 6 năm 1973, ông được cử trách nhiệm hướng dẫn phái đoàn gồm 35 chiến sĩ xuất sắc đi tham quan tại Trung hoa Quốc gia (Đài Loan).

Tháng 9 năm 1974, ông chỉ huy 2 Lữ đoàn 1 và 3 hành quân tái chiếm Chi khu (Quận) Thượng Đức thuộc Tiểu khu (Tỉnh) Quảng Nam, cách Đà Nẵng khoảng 60 cây số về hướng tây nam đã bị đối phương chiếm vào lúc 8 giờ 30 sáng ngày 7 tháng 8 năm 1974.

-Tái chiếm lần thứ nhất vào ngày 19 tháng 9
-Tái chiếm lần thứ hai vào ngày 11 tháng 11 sau 3 ngày phản công. Đến cuối năm, ông cùng đơn vị rút ra khỏi Thượng Đức và chỉ lưu lại 2 Tiểu đoàn 1 và 7 để ngăn chặn địch tái chiếm.

1975Sửa đổi

Những ngày cuối tháng 4, ông cùng gia đình di tản ra khỏi Việt Nam. Sau đó định cư tại Bakerfield, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Ngày 21 tháng 9 năm 2005, ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 73 tuổi.

Huy chươngSửa đổi

-Bảo quốc Huân chương đệ tứ và đệ ngũ đẳng (ân thưởng)
-Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu
-Chiến thương Bội tinh.

Gia đìnhSửa đổi

  • Phu nhân: Bà Võ Thị Kim (1933-2009) - Ông bà có bảy người con gồm 1 trai, 6 gái.
  • Bào đệ: Ông Lê Quang Minh[3]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Đại tá Lê Văn Ngọc sinh năm 1935 tại Khánh Hòa, tốt nghiệp khóa 5 Sĩ quan Thủ Đức. Sau cùng là Tỉnh trưởng Quảng Ngãi
  2. ^ Thời điểm tướng Lê Quang Lưỡng nhậm chức Tư lệnh Sư đoàn Nhảy dù, các sĩ quan Chỉ huy và Tham mưu cao cấp trong Sư đoàn như sau:
    -Tư lệnh phó: Đại tá Trương Vĩnh Phước (Sinh năm 1928 tại Sài Gòn, tốt nghiệp khóa 4 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức)
    -Tham mưu trưởng: Đại tá Văn Bá Ninh (Sinh năm 1933 tại Cần Thơ, tốt nghiệp khóa 4 Võ bị Đà Lạt)
    -Lữ đoàn 1: Trung tá Nguyễn Văn Đĩnh (Sinh năm 1938 tại Bắc Giang, tốt nghiệp khóa 15 Võ bị Đà Lạt)
    -Lữ đoàn 2: Đại tá Nguyễn Thu Lương (Sinh năm 1934 tại Hà Đông, tốt nghiệp khóa 4 Sĩ quan Thủ Đức)
    -Lữ đoàn 3: Trung tá Trần Đăng Khôi (Sinh năm 1938 tại Nam Định, tốt nghiệp khóa 16 Võ bị Đà Lạt)
    -Lữ đoàn 4: Trung tá Lê Minh Ngọc (Sinh năm 1939, tốt nghiệp khóa 16 Võ bị Đà Lạt).
  3. ^ Ông Lê Quang Minh sinh năm 1940 tại Thủ Dầu Một, tốt nghiệp khóa 10 Sĩ quan Thủ Đức. Nguyên Trung tá Quận trưởng quận Thạnh Phú, tỉnh Kiến Hòa).

Tham khảoSửa đổi

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.