Khác biệt giữa các bản “Nhà Liêu”

n
Đã lùi lại sửa đổi của Anhhungcodon (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của 14.248.193.123
Thẻ: Soạn thảo trực quan Đã được lùi sửa
n (Đã lùi lại sửa đổi của Anhhungcodon (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của 14.248.193.123)
Thẻ: Lùi tất cả Đã được lùi sửa
|colspan=3 align="center"|<font size="+1" font color="#ff00ff">■</font> Cương vực triều Liêu năm [[1111]].
|}
'''Nhà Liêu''' hay trào'''Liêu triều''' ({{zh|s=辽朝|t=遼朝|p=Liáo Cháo|v=Liêu triều}} [[907]]/[[916]]-[[1125]]), còn gọi là nước '''Khiết Đan''' '''quốc'''(契丹國, [[đại tự Khiết Đan]]: [[Tập tin:契丹國.png|60px]]){{NoteTag|Liên quan đến quốc hiệu triều Liêu, học giả hiện đại nghiên cứu bia mộ đại tự và tiểu tự Khiết Đan, còn phát hiện nhiều loại tổ hợp:<br />①Phần nhiều tại phía trước có thêm "Đại" hoặc "Đại Trung ương".<br />②có các tổ hợp bắt nguồn từ ba nhóm từ là Hồ Lý Chỉ (胡里只), Khiết Đan và Quốc, như "Hồ Lý Chỉ Khiết Đan Quốc", "Hồ Ly Chỉ Quốc", "Khiết Đan hồ Ly Chỉ Quốc", "Khiết Đan Quốc"; trong đó "Hồ Lý Chỉ" có ý chỉ nhân chúng, "Khiết Đan" có ý chỉ dân tộc.<br />và "Cáp Lạt Khiết Đan" (Kara-Khitan) là cách xưng hô của người Ba Tư và Mông Cổ đối với Tây Liêu, không phải người Khiết Đan tự xưng<ref>Ái Tân Giác La Ô Lạp Hy Xuân〈[http://www.apu.ac.jp/~yoshim/B4.pdf 遼朝國號非「哈喇契丹(遼契丹)」考]〉. 載《愛新覚羅烏拉熙春女真契丹学研究》. 京都松香堂出版社. 2009年2月.</ref>。}} là một [[triều đại]] phong kiến do người [[Khiết Đan]] kiến lập trong [[lịch sử Trung Quốc]], vận nước kéo dài từ năm [[907]] đến năm [[1125]], dài 218 năm (hoặc kéo dài 331 năm, đến năm 1218 nếu tính cả triều [[Tây Liêu]]), đối kháng kéo dài với [[triều Tống]] ở phía nam.
 
Ngày [[27 tháng 2]] năm 907, thủ lĩnh tộc Khiết Đan là [[Gia Luật A Bảo Cơ]] xưng là "Thiên hoàng đế", đến ngày [[17 tháng 3]] năm 916 thì Gia Luật A Bảo Cơ đăng cơ, xưng là "Đại Thánh Đại Minh Thiên hoàng đế", quốc hiệu là "Khiết Đan". Năm 918, Gia Luật A Bảo Cơ định đô tại phủ Lâm Hoàng (nay là Nam Ba La thành, [[Baarin Tả|Ba Lâm Tả]], [[Xích Phong]], [[Nội Mông]]). Năm 947, [[Gia Luật Đức Quang]] nam hạ [[Trung Nguyên]], diệt triều [[Hậu Tấn]], sau đó cải quốc hiệu thành "Đại Liêu",{{NoteTag|Lần đầu tiên Khiết Đan cải quốc hiệu thành "Liêu" được các sử sách ghi chép không thống nhất. [[Tân Ngũ Đại sử]], Tứ Di phụ lục" thì viết là năm Thiên Hiển thứ 11 ([[936]]); "[[Tư trị thông giám]]" quyển 281 thì viết là vào năm Thiên Phúc thứ 2 (937), "Khiết Đan Quốc chí" cũng viết ghi vậy; "Đông đô sự lược" quyển 123 thì viết là vào năm Thiên Phúc thứ 3 ([[938]]); [[Liêu sử]], Thái Tông kỷ thì ghi cải năm Đại Đồng thứ nhất ([[947]]).}} năm [[983]] thời [[Liêu Thánh Tông]] thì đổi quốc hiệu thành "Khiết Đan", năm [[1066]] thời [[Liêu Đạo Tông]] thì đổi về thành "Đại Liêu",{{r|契丹史略|page=225}} đến [[25 tháng 3]] năm 1125 thì bị [[nhà Kim|Kim]] tiêu diệt. Sau khi triều Liêu diệt vong, [[Gia Luật Đại Thạch]] kéo các thuộc hạ còn lại dời về phía tây, đến lưu vực [[sông Chuy]] ở miền bắc [[Kyrgyzstan]] và miền nam [[Kazakhstan]], lập ra [[Tây Liêu]] vào năm [[1132]]. Năm [[1211]], Tây Liêu bị [[Khuất Xuất Luật]] soán vị, cuối cùng bị [[đế quốc Mông Cổ]] tiêu diệt vào năm 1218.
27.865

lần sửa đổi