Khác biệt giữa các bản “Bát-nhã tâm kinh”

→‎Nội dung: Wikipedia không phải là nơi đăng nội dung nguyên tác, rất nhiều đoạn vi phạm bản quyền
n (đã xóa Thể loại:Phật học dùng HotCat)
(→‎Nội dung: Wikipedia không phải là nơi đăng nội dung nguyên tác, rất nhiều đoạn vi phạm bản quyền)
 
Khi so lại bản dịch phổ biến hiện nay hầu hết dịch lại từ bản Hán ngữ của sư [[Huyền Trang|Trần Huyền Trang]] với một phiên bản khác còn lưu lại được trong [[Tiếng Tạng cổ điển|Tạng ngữ]] thì bộ kinh này thiếu vắng phần khai kinh và phần kết luận hoan hỉ vâng làm theo của chư vị nghe giảng kinh. Trong bản dịch từ Tạng ngữ, phần này vẫn còn đầy đủ<ref>Xem bản dịch đầy đủ từ Tạng ngữ của "Tâm Kinh" bằng Anh ngữ trong cuốn "How to Practice -- The way to a Meaningful Life" GS TS Jeffrey Hopkins. Nhà xuất bản Pocket Books. 2002. ISBN 0743427084. Chương 9 (Trang 159-163)</ref>
 
== Nội dung ==
=== Bản dịch tiếng Việt ===
==== Bản dịch đầy đủ ====
 
::Như vầy một lần tôi nghe:
::Thế Tôn ở thành Vương Xá trên đỉnh Linh Thứu sơn cùng với đại Tăng đoàn và nhiều chư Bồ-tát, vào thời điểm đó, Thế Tôn đã đang nhập chính định về các Pháp giới phân biệt gọi là Cảnh giới trình hiện thậm thâm. Cũng chính tại thời điểm đó, Thánh giả Quán Tự Tại Bồ-tát, một đại thiện tri thức, thực hành thâm diệu Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa, ngài thấy được ngay cả năm uẩn cũng<ref>Theo như lời giảng của đức Dalai Lama thì trong các bản dịch tiếng Hán và do đó các bản tiếng Việt và Hàn đều bị thiếu đi một chữ quan trọng là chữ "cũng" (also). Ngài có khẳng định đã có kiểm tra và xác nhận lại với các học giả Phạn ngữ về nội dung chữ "cũng" này trong nguyên bản Phạn ngữ. Ngài có gỉai thích về chi tiết là việc hàm ý của chữ đó rằng ngoài tâm thức vốn thiếu vắng tự tính thì chính các uẩn cũng không có tự tính. Tham khảo: http://www.dalailama.com/webcasts/post/211-the-great-treatise-on-the-stages-of-the-path-to-enlightenment. Day 1. After noon session. time: 00:08:00 to 00:13:00</ref> đều trống rỗng, không có tự ngã. Sau đó, thông qua năng lực gia trì của Đức Phật, tôn giả Xá-lợi-phất thông bạch với thánh giả Bồ-tát Quán Tự Tại rằng: "Thiện nam tử nên phát tâm rèn luyện thực hành thâm sâu pháp Bát-nhã Ba-la-mật-đa như thế nào?"
::Khi điều này được hỏi, Thánh giả Quán Tự Tại Bồ-tát đáp lời tôn giả Xá-lợi-phất rằng: "Này Xá-lợi-phất! Các thiện Nam tử, thiện nữ nhân phát tâm thực hành pháp Bát-nhã Ba-la-mật-đa thâm diệu nên thấy như sau. Họ nên soi thấy đúng đắn, xuyên suốt và tái lặp là đến cả năm uẩn cũng đều trống rỗng, không có tự ngã. Sắc tức là không, không tức là sắc. Không [hoạt hành] chẳng khác chi sắc, sắc [hoạt hành] ''cũng'' chẳng khác chi Không. Tương tự, thọ, tưởng, hành thức thảy đều là Không.
::Xá-lợi-phất, bởi thế, mọi hiện tượng đều là Không – thiếu vắng các đặc tính xác định; chúng không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm.
::Cho nên, Xá-lợi-phất, trong Không, không có sắc, không thụ, không tưởng, không hành, không thức; không có nhãn, không nhĩ, không tỷ, không thiệt, không thân, không ý; không sắc, không thanh, không hương, không vị, không xúc, không pháp. Không có nhãn giới và vân vân cho đến không có ý thức giới. Không có vô minh cũng không có diệt hết vô minh, và vân vân cho đến không có già, chết cũng không có diệt hết già chết. Không có khổ, tập, diệt đạo. Không có [[bát-nhã|trí tuệ]], không có chứng đắc, cũng không có không chứng đắc.
::Xá-lợi-phất, vì không có chứng đắc nên do đó [[Bồ Tát|Bồ-tát]] an trụ theo Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Vì tâm không uế chướng nên không sợ hãi, vượt khỏi sai lầm, đạt cứu cánh [[niết-bàn]].
::Tất cả chư Phật, an trụ trong tam thế tỉnh thức viên mãn và thấu suốt, cũng y theo Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa mà được vô thượng, chính đẳng, chính giác.
::Do vậy, phải biết được rằng chú Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa – vốn là đại tri [[chú]], là đại minh chú, là vô thượng chú, là ngang bằng với vô đẳng chú, diệt trừ được mọi khổ não – là chân thật vì nó không sai sót. Chú Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa được tuyên thuyết như sau:
::Tadyatha - gate gate paragate parasamgate bodhi svaha!<BR>(Vượt qua, vượt qua, vượt qua bên kia, hoàn toàn vượt qua, tìm thấy giác ngộ)
::Này Xá-lợi-phất, bằng cách này, các vị đại Bồ-tát nên hành trì trong Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa thâm diệu."
::Sau đó, Thế Tôn xuất khỏi chính định và tán dương Thánh giả Quán Tự Tại Bồ-tát rằng: "Lành Thay!"
::Ngài nói: "Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử, Đúng là vậy. Phải nên hành trì Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa thâm diệu như cách ông nói. Ngay cả các Như Lai cũng đều hoan hỷ!"
::Thế tôn nói xong, tôn giả Xá-lợi-phất, Quán Tự Tại Bồ-tát, toàn thể đoàn tùy tùng chung quanh, và giới chúng sinh bao gồm trời, người, a-tu-la, và càn-thát-bà đều hoan hỷ và tán thán điều Thế Tôn dạy.
 
=== Bản dịch phổ thơ lục bát ===
 
::Khi hành Bát Nhã Ba La
::Ngài Quán Tự Tại soi ra tột cùng
::Thấy ra năm uẩn đều Không
::Bao nhiêu khổ ách khốn cùng độ qua
::Nầy Xá Lợi Tử xét ra
::Không là sắc đó, sắc là không đây
::Sắc cùng không chẳng khác sai
::Không cùng sắc vẫn sánh tài như nhau
::Thọ, tưởng, hành, thức uẩn nào,
::Cũng như sắc uẩn, một màu không không
::Nầy Xá Lợi Tử ghi lòng
::Không không tướng ấy, đều không tướng hình
::Không tăng giảm, không trược thanh
::Cũng không diệt, cũng không sanh pháp đồng
::Vậy nên trong cái chơn không
::Vốn không năm uẩn, cũng không sáu trần
::Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý, thân
::Vị, hương, xúc, pháp, cùng phần sắc, thinh
::Từ không giới hạn mắt nhìn
::Đến không ý thức, vô minh cũng đồng
::Hết vô minh, cũng vẫn không
::Hết già, hết chết, cũng không có gì
::Không khổ, tập, diệt, đạo kia
::Trí huệ chứng đắc cũng là không không
::Sở thành, sở đắc bởi không
::Các vị Bồ Tát nương tùng huệ năng
::Tâm không còn chút ngại ngăn
::Nên không còn chút băn khoăn sợ gì
::Đảo điên mộng tưởng xa lìa
::Niết Bàn mới đến bên kia bến bờ
::Ba đời chư Phật sau, xưa
::Đắc thành Chánh Giác cũng nhờ huệ năng
::Trí huệ năng lực vô ngần
::Đại Minh vô thượng, Đại Thần cao siêu
::Trí huệ năng lực có nhiều
::Thật là thần chú trừ tiêu não phiền
::Trí huệ năng lực vô biên
::Dẫn đường giải thoát qua bên giác ngàn
::Liền theo lời chú thuyết rằng:
::Độ tha giác ngộ khắp trần chúng sanh.
::Yết đế, yết đế
::Ba la yết đế
::Ba la tăng yết đế
::Bồ đề Tát bà ha
 
==== Bản dịch giản lược ====
:(Theo Thiền viện Trúc Lâm Sùng Phúc, Gia Lâm, Hà Nội)
:MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH
:'''Kinh Trí tuệ cứu Kính rộng lớn'''
::Khi Bồ Tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa, ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách.
::Này Xá Lợi Phất, Sắc chẳng khác không, không chẳng khác Sắc, Sắc tức là không, không tức là sắc. Thụ, Tưởng, Hành, Thức cũng lại như thế.
:: Này Xá Lợi Phất, tướng Không của các pháp không sinh không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt.
::Cho nên trong tướng Không
::Không có sắc; không có Thụ, Tưởng, Hành, Thức;
::Không có Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý;
::Không có Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp;
::Không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới;
::Không có vô minh, cũng không có hết vô minh;
::Cho đến không có già chết, cũng không có hết già chết.
::Không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo;
::Không có Trí tuệ, cũng không có Chứng Đắc,
::Vì có chỗ không được nên Bồ Tát y Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa, tâm không ngăn ngại.
::Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn.
::Chư Phật ba đời đều y theo Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa được đạo quả Vô thượng, Chính Đẳng, Chính Giác.
::Nên biết Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, hay trừ được hết thảy khổ, chân thật không dối.
::Vì vậy nói Chú Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa, liền nói Chú rằng:
::"Yết Đế, Yết Đế, Ba la Yết Đế, Ba la tăng Yết Đế, Bồ Đề tát Bà Ha" (3 lần)
==== Bản dịch của Hòa Thượng Thích Chơn Thiện ====
BÁT NHÃ TÂM KINH
(Trái tim của Bát Nhã)
Xin kính lễ Thánh Pháp- Trí tuệ Toàn Giác.
Bồ-tát Quán Tự Tại khi đã thực hành Trí tuệ Ba-la-mật (Trí tuệ toàn giác nhìn khắp mọi phương). Bồ-tát chỉ thấy có năm uẩn và thấy rằng năm uẩn là rỗng không, không có tự ngã.
Ở đây, này Xá-lợi-phất, sắc là “không” (rỗng không) và chính “không” là sắc; “không” không khác gì sắc, sắc không khác “không”, bất cứ cái gì là sắc cái ấy là “không”; bất cứ cái gì là “không” cái ấy là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy.
Ở đây, này Xá-lợi-phất, tất cả pháp là không tướng, chúng không bị sanh, không bị diệt, không cấu, không tịnh, không bất toàn, không toàn thiện.
Cho nên, này Xá-lợi-phất, trong ‘‘Không tánh” (hay trong Không tướng) không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có hành, không có thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, không có sự dập tắt vô minh (nghĩa là không có Niết-bàn). Không có khổ, tập, diệt, đạo. Không có trí, không có sự chứng đắc và không có sự không chứng đắc.
Cho nên, này Xá-lợi-phất, chính do vì không chứng đắc, vị Bồ-tát nương vào Trí tuệ Ba-la-mật mà trú không bị chướng ngại. Do không bị chướng ngại, Bồ-tát không run sợ, vượt qua tất cả những gì gây rối loạn, cuối cùng Bồ-tát chứng đắc Niết-bàn.
Tất cả chư Phật trong ba đời đều nương vào Trí tuệ Ba-la-mật này mà chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Cho nên cần phải hiểu biết rằng Trí tuệ Ba-la-mật là một thần chú lớn, là một minh chú lớn, là chú không gì cao hơn, là chú không gì sánh bằng, là khả năng loại trừ tất cả khổ đau, là Sự thật bởi vì không hư dối. Nên, do Trí tuệ Ba-la-mật, bài chú này được nói lên. Nói rằng: Đã qua rồi, đã qua rồi, hoàn toàn đã qua rồi. Ôi giải thoát! (reo vui) Câu mật chú - sự thật này kết thúc bài Kinh Trái tim của Trí tuệ Ba-la-mật.
 
==== Bản dịch Việt ngữ của Thi Vũ ====
:
 
:<blockquote>
:'''KINH CHÂN TUỆ GIÁC SIÊU VIỆT'''
:Khi tiến sâu vào nguồn mạch của Tuệ giác Siêu việt, Kẻ Tỉnh thức Quán khổ Trừ nguy nhận chân ra năm hợp thể và thấy suốt tự tánh Không của chúng, liền độ thoát mọi khổ ách.
: Này người con dòng Sari, hình thể là chân không, chân không là hình thể. Chân không chẳng khác hình thể, hình thể chẳng khác chân không. Mọi hình thể đều chân không, mọi chân không đều hình thể. Cảm xúc, nhận thức, tạo ứng hay ý thức đều như thế cả.
:Này người con dòng Sari, mọi hiển tướng đều mang tự tánh Không. Mọi hiển tướng đều không sinh không diệt, không dơ không sạch, không hề thêm cũng chẳng hề bớt.
:Bởi lẽ đó, này người con dòng Sari, trong chân không không có hình thể, không có cảm xúc, không có nhận thức, không có tạo ứng, không có ý thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có hình, tiếng, mùi, vị, sờ chạm, hiển tướng; không có đối tượng của mắt, suốt đến đối tượng của ý thức cũng không; không có vô minh, không có chấm dứt vô minh, cho đến không có già, chết, cũng không có hết già, chết; không có khổ, không có nguyên nhân của khổ, không có giải thoát, không có con đường giải thoát; không có trí giác, không có tựu thành, vì chẳng có quả vị gì để thành tựu.
:Bởi thế, này người con dòng Sari, nhờ an nhiên bất động với mọi thành quả cá nhân, Kẻ Tỉnh thức nương vào Tuệ giác Siêu việt thoát ly các niệm tưởng. Nhờ ly niệm nên không còn sợ hãi, thắng lướt mọi ảo vọng, và hóa hiện tính an như. Các đấng giác ngộ trong quá khứ, hiện tại và vị lai đều nương theo Tuệ giác Siêu việt mà phát hiện Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
:Cho nên, phải biết rằng Tuệ giác Siêu việt là linh ngữ kỳ vĩ, linh ngữ của huệ trí, linh ngữ tối hậu vô song, mang khả năng lay đổ mọi nghịch cảnh khổ đau. Linh ngữ thoắt sinh từ Tuệ giác Siêu việt này là sự thật, không mảy may dối trá. Câu linh ngữ có khả năng giải phóng đó là: "Độ, độ, siêu suốt mình và độ thoát mọi sinh dân. Giải thoát! Tất thảy cùng về an nhiên nơi chốn.</blockquote>
 
=== Bản Âm Hán ===
==== Bản Chữ Hán ====
<div lang="ja" style="background:#fff;font:serif;border:#cc6 2px inset;padding:0.5em">
觀自在菩薩。行深般若波羅蜜多時。照見五蘊皆空。度一切苦厄。舍利子。色不異空。空不異色。色即是空。空即是色。受想行識。亦復如是。舍利子。是諸法空相。 不生不滅。不垢不淨。不增不減。是故空中無色。無受想行識。無眼耳鼻舌身意。無色聲香味觸法。無眼界。乃至無意識界。無無明。亦無無明盡。乃至無老死。亦無老死盡。無苦集滅道。無智亦無得。以無所得故。菩提薩埵。依般若波羅蜜多故。心無罣礙。無罣礙故。無有恐怖。遠離一切顛倒夢想。究竟涅槃。三世諸佛。依般若波羅蜜多故。得阿耨多羅三藐三菩提。故知般若波羅蜜多。是大神咒。是大明咒。是無上咒。是無等等咒。能除一切苦。真實不虛。故說般若波羅蜜多咒。即說咒曰。揭諦揭諦。波羅揭諦。波羅僧揭諦。菩提薩婆訶。
</div>
Bản này do [[Huyền Trang|Đường Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang]] dịch.
 
==== Bản Hán-Việt ====
<blockquote>
:''"Quán-tự-tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.''
:''[[Xá-lợi-phất|Xá-lợi-tử]], [[Ngũ uẩn|sắc]] bất dị không,<ref>''không'' ở đây có nghĩa là trống rỗng, chứ không phải là ''không'' theo nghĩa đối nghịch với ''có''</ref> không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. [[Ngũ uẩn|Thụ, tưởng, hành, thức]] diệc phục như thị.''
:''Xá-lợi-tử! thị chư pháp không tướng, bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.''
:''Thị cố không trung vô sắc,vô thọ, tưởng, hành, thức.''
:''Vô [[lục căn|nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý]]; [[lục trần|vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp]]; [[lục thức|vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới]].''
:''Vô [[vô minh]], diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận.''
:''Vô [[Tứ diệu đế|khổ, tập, diệt, đạo]], vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly nhất thiết điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn.''
:''Tam thế chư [[Phật]], y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam bồ-đề.''
:''Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thực bất hư.''
:''Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú. Tức thuyết chú viết:''
:''Yết-đế, yết-đế, Ba-la yết-đế. Ba-la-tăng yết-đế Bồ-đề tát-bà-ha."''
</blockquote>
 
=== Bản tiếng Phạn ===
 
==== Chữ [[Devanāgarī]] ====
 
http://thuvienhoasen.org/images/file/Hf3-SptG0QgBADw1/phanvanbatnhatamkinh.jpg
 
==== Chữ [[Chữ tất-đàm|Siddhaṃ]] ====
 
[[Tập tin:heart sutra sdh.jpg]]
 
<br />
=== Giải nghĩa câu [[chân ngôn|chú]] ===
<div lang="ja" style="background:#fff;font:serif;border:#cc6 2px inset;padding:0.5em">
{| align="center" width="88%" border="0" cellspacing="0" cellpadding="1"
|-
! align="centre" colspan="2" | Tiếng Phạn
|-
! align="left" | Chữ Devanāgarī
! align="left" | Chữ Latin hóa
! align="left" | Phát âm (theo [[Bảng mẫu tự phiên âm quốc tế|IPA]])
! align="left" | Âm Hán Việt
! align="left" | Dịch nghĩa
|-
| गते गते
| ''Gate gate''
| {{IPA|[gəteː gəteː]}}
| ''Yết đế, yết đế''
| ''Vượt qua, vượt qua''
|-
| पारगते
| ''Pàragate''
| {{IPA|[pɑːɾə gəteː]}}
| ''Ba la yết đế''
| ''Vượt qua bờ bên kia''
|-
| पारसंगते
| ''Pàrasaṃgate''
| {{IPA|[pɑːɾəsəm gəteː]}}
| ''Ba la tăng yết đế''
| ''Vượt qua hoàn toàn''
|-
| बोधि स्वाहा
| ''Bodhi svàhà''
| {{IPA|[boːdɦɪ sʋɑːhɑː]}}
| ''Bồ đề tát bà ha''
| ''Tuệ giác Thành tựu.''
|-
|}
</div>
 
Theo giảng giải của đức [[Tenzin Gyatso|Đạt-lai Lạt-ma thứ 14]]<ref>Xem thêm các chi tiết giải thích về các giai đoạn tu tập trong câu chú này qua sách "How to Practice -- The way to a Meaningful Life" của His Holiness the Dalai Lama biên dịch và hiệu đính bởi GS.TS. [[Jeffrey Hopkins]]. Nhà xuất bản Pocket Books. 2002. ISBN 0743427084. Chương 12 (trang 201 -207)</ref> thì mỗi chữ trong câu chú trên tương ứng với một lộ trình tu tập Bồ-tát giới từ thấp đến cao đó là:
*gate—Lộ trình tích lũy hay tích lũy đạo
*gate—Lộ trình chuẩn bị hay gia hành đạo
*paragate—Lộ trình tri kiến hay kiến đạo
*parasamgate—Lộ trình thiền định hay tu tập đạo
*bodhi—Lộ trình vô học hay vô lậu học đạo
 
== Chú thích ==