Đế quốc Inca

Đế quốc thời kỳ Tiền Cô-lôm-bô ở Nam Mỹ
(đổi hướng từ Đế chế Inca)

Đế quốc Inca hay Đế quốc Inka (Tiếng Quechua: Tawantinsuyu, nghĩa là "tứ địa phương" [4]), là đế quốc lớn nhất ở Châu Mỹ thời kì tiền Columbus.[5] Trung tâm hành chính, chính trị và quân sự của đế quốc là Cusco. Nền văn minh Inca khởi nguồn từ vùng cao nguyên Peru vào khoảng đầu thế kỷ XIII. Thành trì cuối cùng của đế quốc rơi vào tay Tây Ban Nha năm 1572.

Vương quốc bốn phần
1438–1533
Kỳ hiệu phục dựng của Sapa Inca Đế quốc Inca
Kỳ hiệu phục dựng của Sapa Inca
Tổng quan
Cương vực lãnh thổ khoảng năm 1525
Cương vực lãnh thổ khoảng năm 1525
Vị thếĐế quốc
Thủ đôCusco
(1438–1533)
Ngôn ngữ chính thứcQuechua
Ngôn ngữ thông dụngAymara, Puquina, ngữ tộc Jaqi, Muchik và nhiều ngôn ngữ nhỏ khác.
Tôn giáo chính
Tôn giáo Inca
Chính trị
Chính phủThờ cúng quân chủ, quân chủ tuyệt đối
Sapa Inca 
• 1438–1471
Pachacuti
• 1471–1493
Túpac Inca Yupanqui
• 1493–1527
Huayna Capac
• 1527–1532
Huáscar
• 1532–1533
Atahualpa
Lịch sử
Thời kỳTiền Cô-lôm-bô
• Pachacuti lập quốc
1438
• Nội chiến Inca nổ ra giữa HuáscarAtahualpa
1529–1532
1533
1572
Địa lý
Diện tích
• 1527[1][2]
2,000,000 km2
(1 mi2)
Dân số
• 1527
10.000.000
Tiền thân
Kế tục
Vương quốc Chimor
Vương quốc Cusco
Các vương quốc Aymara
Liên hiệp Mapuche
Tỉnh Tân Castile
Tỉnh Tân Toledo
Tỉnh Tân Andalusia
Nhà nước Tân Inca
Hiện nay là một phần của Argentina
 Bolivia
 Chile
 Colombia
 Ecuador
 Peru

Từ năm 1438 đến 1533, người Inca kiểm soát phần lớn phía tây Nam Mỹ, tập trung ở dãy núi Andes, thông qua các cuộc chinh phạt và đồng hóa hòa bình. Thời kì hoàng kim, đế quốc này thống nhất toàn bộ Peru, tây nam Ecuador, tây và nam trung bộ Bolivia, tây bắc Argentina, hầu hết Chile ngày nay và tây nam Colombia sánh ngang với các đế quốc Á-Âu khác. Quốc ngữ là tiếng Quechua.[6] Nhiều tập tục thờ cúng địa phương tồn tại trong đế quốc, hầu hết thờ các huaca. Quốc giáo tôn thờ thần mặt trời Inti và nó quan trọng hơn các tôn giáo khác như Pachamama.[7] Người Inca coi vua của họ, Sapa Inca, là "con trai của mặt trời".[8]

Đế quốc Inca không sở hữu những yếu tố công nghệ văn minh của Cựu thế giới. Nhà nhân chủng học Gordon McEwan có bình rằng:[9]

Người Inca chưa sáng chế ra bánh xe. Họ không có thú để cưỡi hoặc súc vật để kéo xe hàng... [Họ] thiếu hiểu biết về sắt và thép... Hơn nữa, họ còn thiếu cả chữ viết... Mặc cho những thiếu sót căn bản ấy, người Inca đã có thể kiến thiết một đế quốc vĩ đại bậc nhất trong lịch sử nhân loại.

— Gordon McEwan, The Incas: New Perspectives

Những thành tựu của Đế quốc Inca bao gồm những kiến trúc phi thường, đặc biệt là thuật điêu khắc đá, mạng lưới đường bộ khổng lồ dẫn đến mọi góc của đế quốc, nghề dệt vải mịn, sử dụng nút dây (quipu) để lưu giữ số liệu và liên lạc phương xa, những sáng kiến nông nghiệp thích nghi với môi trường khắc nghiệt, và hệ thông điều hành áp đặt lên người dân và giai cấp lao động.

Các học giả mô tả nền kinh tế Inca khá mâu thuẫn:[10]

... phong kiến, nô dịch, chủ nghĩa xã hội (tùy theo cách nhìn của từng người nó sẽ là thiên đường chủ nghĩa xã hội hoặc độc tài chủ nghĩa xã hội)

— Darrell E. La Lone, The Inca as a Nonmarket Economy: Supply on Command versus Supply and Demand

Nền kinh tế của họ không có tiền và không có thị trường. Họ trao đổi hàng hóa và dịch vụ theo quan hệ đối ứng giữa các cá nhân, một cộng đồng, một nhóm người hoặc các nhà lãnh đạo Inca. "Sưu thuế" đối với dân là phải đóng góp lao động cho Đế quốc. Những nhà cai trị Inca (sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất) trả ơn bằng cách ban đất canh tác, hàng hóa và thức ăn đồ uống trong những dịp lễ hội cho nhân dân.[11]

Tổng quanSửa đổi

 
Quipu
 
Ruộng bậc thang tại Pisac

Người Inca nói tiếng Quechua, sử dụng nút thắt Quipu chỉ thể hiện được số và mẫu Tocapu được dệt vào trong vải, loại mẫu mà người ta chưa chắc chắn có phải là chữ viết hay không. Vì người Inca không biết đến tiền nên họ không phát triển thuế theo khái niệm ngày nay của châu Âu. Thay vào đó họ phát triển một quốc gia thông qua việc ghi chép rất chính xác và bao quát số liệu thống kê để điều hòa tất cả các năng lực và nhu cầu, tất cả tài nguyên, cống lễ cũng như việc phân chia chúng. Vì thế, những việc sản xuất cần thiết cho quốc gia đã được thực hiện thông qua lao động được tổ chức tập thể một cách chặt chẽ.

Họ phải làm việc 1/3 thời gian lao động cho Inti- thần mặt trời, được đặt ngang hàng với những người thống trị vương quốc, 1/3 thời gian lao động khác cho những người già, đau ốm, góa bụa, trẻ mồ côi và những người cần giúp đỡ, 1/3 thời gian lao động cuối cùng được phép dùng để mưu sinh cho gia đình. Quý tộc và "nhân viên nhà nước" được nhiều ưu đãi, họ không phải làm công việc đồng áng và không phải phục vụ trong quân đội, được phép có nhiều vợ và đeo trang sức. Người thống trị vương quốc được tôn sùng như thần thánh bên cạnh thần mặt trời Inti, thần sáng tạo ra nền văn minh Inca Viracocha và nữ thần đất và thần sinh sản Pachamama.

Các kiến trúc sư, nhà xây dựng cầu đường đã có nhiều công trình độc đáo, thể hiện rất ấn tượng qua chiếc cầu treo dài 60 m bắt ngang sông Río Apurímac, con đường dọc theo bờ biển dài 4.000 km, rộng 8 m và con đường dọc theo núi Andes dài 5.200 km, rộng 6 m. Chạy trên những con đường này là những người chạy tiếp sức (Chaski), truyền tin tức quan trọng cho đến 400 km trong một ngày. Toàn bộ mạng lưới đường sá có chiều dài vào khoảng 40.000 km. Nhiều công trình xây dựng đã được các kiến trúc sư thiết kế từ những hòn đá nặng hàng tấn, được ghép lại với nhau không có kẽ hở và một phần vẫn còn đứng vững cho đến ngày nay mặc dầu thường hay có động đất.

Nhiều vết mổ xẻ trên xương sọ và tay chân chứng tỏ rằng người Inca đã tiến bộ rất nhiều trong lĩnh vực y học. Dụng cụ và vũ khí được chế tạo từ đồng và đồng thau (bronze). Họ biết cách dệt vải và sản xuất y phục từ lông các loài lạc đà không bướu alcapa (Vicugna pacidoslrkjgou) và vicuña (Vicugna vicugna). Những đồ gốm tìm thấy có mẫu mã nhiều màu và đơn giản và không còn có các thử nghiệm của các nền văn hóa trước đó. Người Inca thổi okarina, một nhạc cụ hơi làm bằng đất sét, trong các dịp lễ hội.

Để phòng nạn đói và cung cấp lương thực cho dân số khổng lồ so với điều kiện trên núi cao, gần như toàn bộ các sườn đồi núi đều được canh tác theo hình thức bậc thang và được tưới nước bằng kênh đào. Lương thực dư thừa được trữ trong các nhà kho đặc biệt, bảo vệ khỏi mưa và trong đó có gió thổi tuần hoàn để chống hư thối. Ngô, khoai tây, quinoa (Chenopodium quinoa), rau dền (Amaranthus), (Cucurbita), cà chua, lạcớt được trồng trên các cánh đồng bậc thang trên cao. Họ nuôi llama (lạc đà không bướu), vịt, alpacachuột lang làm gia súc và để chở hàng hóa.

Lịch sửSửa đổi

Khởi nguyênSửa đổi

Đế quốc Inca là chương cuối trong lịch sử ngàn năm của các nền văn minh Andes. Các học giả coi văn minh Andes là một trong năm nền văn minh "thuần túy" của nhân loại, nghĩa là nó độc đáo và bắt nguồn từ chính văn hóa bản địa chứ không bị ảnh hưởng hoặc lấy từ các nền văn minh khác.[12]

Đế quốc Inca là hậu duệ của hai đế quốc lớn tại Andes: nhà nước Tiwanaku (khoảng 300–1100 SCN) quanh Hồ Titicacanhà nước Wari hoặc Huari (khoảng 600-1100 SCN) quanh trung tâm thành phố Ayacucho. Wari chiếm cứ Cuzco trong khoảng 400 năm. Do đó, nhiều đặc điểm của Đế quốc Inca bắt nguồn từ các nền văn hóa Andes đa sắc tộc trước đó.[13]

Carl Troll lập luận rằng sự phát triển của nhà nước Inca ở miền trung Andes là do các điều kiện thuận lợi để sản xuất loại thực phẩm thiết yếu chuño. Chuño, có thể được lưu trữ trong thời gian dài, được làm bằng khoai tây sấy khô ở nhiệt độ đóng băng vào ban đêm ở vùng cao nguyên phía nam Peru. Mối liên kết giữa nhà nước Inca và chuño bị nghi ngờ, do rằng khoai tây và các loại cây trồng khác như ngô cũng có thể được sấy khô vào ban ngày.[16] Troll cũng lập luận rằng lạc đà không bướu có thể được tìm thấy với số lượng lớn ở khu vực này.[14] Mối liên hệ giữa sự phân bố của lạc đà Alpaca và lạc đà không bướu với nhà nước Inca là một vấn đề cần được nghiên cứu.[15] Điểm thứ ba, Troll chỉ ra công nghệ tưới tiêu là lợi thế to lớn cho việc xây dựng nhà nước Inca.[15] Tuy Troll đưa ra giả thuyết về ảnh hưởng của môi trường lên Đế quốc Inca, ông lại phản đối chủ nghĩa môi trường quyết định (học thuyết này cho rằng môi trường định hình quỹ đạo mà các nền văn minh phát triển sẽ đi theo), cho rằng văn hóa nằm ở cốt lõi của nền văn minh Inca.[15]

Nguồn gốcSửa đổi

 
Manco Cápac và Mama Ocllo, những người con của Inti

Trong thần thoại Inca có rất nhiều truyền thuyết khác nhau về cội nguồn của người Inca. Truyền thuyết được biết đến nhiều nhất là từ nhà biên niên sử Garcilaso Inca de la Vega. Theo truyền thuyết này người Inca đầu tiên Manco Cápac, con trai của Mặt Trời, và em gái là Oqllo được thần mặt trời Inti sai phái xuống Trái Đất để cải thiện thế giới. Họ đến Trái Đất trên hòn đảo Mặt trời trên hồ Titicaca. Thần Mặt Trời cho 2 anh em một cây gậy vàng và 2 người phải dựng nhà ở nơi có thể đánh một lần mà cắm được cây gậy này xuống đất. Sau khi lưu lạc nhiều nơi họ tìm được chốn để thành lập thành phố Cuzco vào khoảng năm 1200, là cái rốn của thế giới theo quan niệm của người Inca.

 
Manco Cápac, vị Inca đầu tiên, 1 trong 14 họa phẩm chân dung của các vị vua Inca, được vẽ vào khoảng giữa thế kỷ XVIII. Tranh sơn dầu. Bảo tàng Brooklyn

Người Inca nói tiếng Quechua và con cháu của dân tộc Tiahuanaco nói tiếng Aymara đều xem hồ Titicaca, một diện tích 8.000 km² màu xanh đậm và màu bạc, với nhiều đảo như Đảo Mặt trăng và Đảo Mặt trời, là linh thiêng. Hai nền văn hóa có cùng chung nguồn gốc: từ titi trong tiếng Aymara có nghĩa là "mèo núi", caca trong tiếng Quechua là "tảng đá".

 
Đế quốc Inca bành trướng (1438–1533)

Theo truyền thuyết, vương quốc Inca có 13 vị vua, 8 vị vua đầu là những hình tượng nửa lịch sử, nửa huyền thoại, 5 vị vua cuối cùng đã được lịch sử minh chứng.

Các vị vua Inca:

  1. Manco Capac: 1200 - 1230
  2. Sinchi Roca: 1230 - 1260
  3. Lloque Yupanqui: 1260 - 1290
  4. Mayta Capac: 1290 - 1320
  5. Capac Yupanqui: 1320 - 1350
  6. Inca Roca: 1350 - 1380
  7. Yáhuar Huácac: 1380 - 1410
  8. Viracocha: 1410 - 1438
  9. Pachacuti: 1438 - 1471
  10. Tupac Inca Yupanqui: 1471 - 1493
  11. Huayna Capac: 1493 - 1527
  12. Ninan Cuyochi: 1527
  13. Huáscar: 1527 - 1532
  14. Atahualpa: 1532 - 1533
  15. Tupac Huallpa: 1533
  16. Manco Inca Yupanqui: 1533 - 1544
  17. Paullu Inca: 1536 - 1549
  18. Sayri Tupac: 1544 - 1560
  19. Titu Cusi: 1560 - 1571
  20. Tupac Amaru: 1571 - 1572

Tái tổ chức và hình thànhSửa đổi

Trong thời gian cai trị từ 1438 đến 1471 Pachacútec mở rộng lãnh thổ Inca tại vùng trung tâm của Andes từ hồ Titicaca đến Huní.Pachacuti tái lập vương quốc Cusco thành Tahuantinsuyu, bao gồm một chính quyền trung ương với người Inca đứng đầu và bốn chính quyền tỉnh với các nhà lãnh đạo quyết đoán ở bốn phần của đất nước: Chinchasuyu (Tây Bắc), Antisuyu (Đông Bắc), Kuntisuyu (Tây Nam) và Qullasuyu (Đông Nam).[16] Lá cờ của vương quốc là lá cờ cầu vồng và Cuzco đã phát triển thành trung tâm tế lễ, kinh tế và văn hóa. Pachacútec cho lập ruộng bậc thang trong vùng để trồng ngô nhằm bảo đảm cung cấp lương thực cho người dân. Nhiều kênh đào chạy xuyên qua toàn thành phố dẫn đến sông Río SapphiRío Tullumayo cung cấp nước sạch cho dân cư và giữ thành phố sạch sẽ. Pachacuti được cho là đã xây dựng Machu Picchu, làm cung điện hoặc nơi nghỉ mát mùa hè, và cũng có thể là một trạm nông nghiệp.[17]

Pachacuti gửi gián điệp sang các vương quốc lân bang, rồi dâng lên vua của họ những món quà xa xỉ và hứa rằng nếu họ chịu trở thành thần dân của đế quốc Inca, họ sẽ trở nên giàu có như vậy.

Hầu hết các vương quốc đều quy phục trong hòa bình. Những vương quốc khước từ thì bị đánh chiếm chinh phạt. Con của những vị vua này được triệu về Cusco để học chính trị Inca rồi được đưa về nước để trị vì.

Mở rộng và củng cốSửa đổi

Theo truyền thống, con trai vua Inca sẽ lãnh đạo quân đội. Con trai của Pachacuti là Túpac Inca Yupanqui bắc phạt vào năm 1463 tới những năm 1471 khi vua cha băng hà. Chiến dịch quan trọng nhất của Túpac Inca là cuộc xâm lược vương quốc Chimor, kình địch duy nhất của người Inca tại bờ biển Peru. Đế chế của Túpac Inca sau đó đánh lên phía bắc vào Ecuador và Colombia ngày nay.

Con trai của Túpac Inca là Huayna Cápac sáp nhập một phần đất nhỏ ở phía bắc Ecuador ngày nay. Ở thời kì đỉnh cao, Đế quốc Inca bao gồm Peru, miền tây và nam miền trung Bolivia, phía tây nam Ecuador và đại bộ phận Chile ngày nay, phía bắc sông Maule. Các sử liệu truyền thống khẳng định cuộc Nam tiến bị hoãn lại sau trận sông Maule nơi họ gặp phải sự kháng cự ngoan cường từ tộc Mapuche.[18] Quan điểm này bị thách thức bởi nhà sử học Osvaldo Silva, người lập luận rằng khuôn khổ chính trị xã hội của người Mapuche mới là lí do gây ra khó khăn trong việc trị vì.[18] Silva đồng ý rằng trận Maule là một bế tắc, nhưng cho rằng người Inca thiếu động lực để chinh phục không như những xã hội phức tạp hơn như vương quốc Chimor chẳng hạn.[18] Silva không đồng tình với thời gian được đưa ra bởi lịch sử truyền thống cho trận chiến: cuối thế kỷ XV dưới triều đại vua Topa Inca Yupanqui (1471–93).[18] Thay vào đó, ông đặt nó vào năm 1532 trong cuộc nội chiến Inca.[18] Tuy nhiên, Silva đồng ý với tuyên bố rằng phần lớn các cuộc chinh phạt của người Inca được thực hiện vào cuối thế kỷ XV.[18] Vào thời Nội chiến Inca, một đội quân Inca, theo Diego de Rosales, đã đàn áp một cuộc nổi dậy của người Diaguita vùng Valles transversales.[18]

Cuộc chinh phạt lưu vực Amazon gần sông Chinchipe đã bị người Shuar chặn lại vào năm 1527.[19] Đế quốc mở rộng vào Argentina và Colombia. Hầu hết phần phía nam của đế quốc Inca, có tên là Qullasuyu, nằm trên Cao nguyên Andes.

Đế quốc Inca là sự hợp nhất của nhiều ngôn ngữ, văn hóa và dân tộc. Các thành phần của đế quốc không phải tất cả đều trung thành cũng như không hoàn toàn bị đồng hóa. Toàn bộ đế quốc Inca có một nền kinh tế dựa trên trao đổi và đánh thuế hàng hóa xa xỉ và lao động. Trích dẫn sau đây mô tả một phương pháp đánh thuế:

For as is well known to all, not a single village of the highlands or the plains failed to pay the tribute levied on it by those who were in charge of these matters. There were even provinces where, when the natives alleged that they were unable to pay their tribute, the Inca ordered that each inhabitant should be obliged to turn in every four months a large quill full of live lice, which was the Inca's way of teaching and accustoming them to pay tribute.[20]

Nội chiến Inca và suy vongSửa đổi

 
Hình ảnh đầu tiên của người Inca ở châu Âu, Pedro Cieza de León, Crónica del Perú, 1553

Các conquistador do Francisco Pizarro dẫn đầu và các anh em của ông tiến xuống nam Panama và thâm nhập lãnh thổ Inca vào năm 1526.[21] Sau một cuộc thám hiểm khác vào năm 1529, Pizarro về Tây Ban Nha hỏi xin chinh phục vùng đất và được hoàng tộc chấp thuận. Cụ thể là như sau:"Vào tháng 7 năm 1529, Nữ hoàng Tây Ban Nha đã ký sắc chỉ cho phép Pizarro chinh phục nước Inca. Pizarro sẽ trở thành thống đốc và thống soái của các cuộc chinh phạt tại Peru, hoặc cái tên mà người Tây Ban Nha giờ gọi vùng đất này, Tân Castile."[22]

Khi các conquistador quay trở lại vào năm 1532, hai con trai của vị hoàng đế Huayna Capac, là Huáscar và Atahualpa, đang tranh giành ngôi báu gây bất ổn xã tắc và suy yếu đế quốc. Hơn vậy, bệnh đậu mùa, cúm, sốt phát ban và sởi giờ đã lan từ Trung Mỹ tới nơi đây gây ra cái chết cho hàng triệu người dân của đế quốc.

Pizarro chỉ có 168 người, một khẩu súng thần công và 27 con ngựa. Các conquistador mang theo thương, súng hỏa mai, áo giáp thép và trường kiếm. Người Inca sử dụng vũ khí làm từ gỗ, đá, đồngđồng đỏ, áo giáp của họ thì làm từ sợi Alpaca. Đây đều là những bất lợi lớn về công nghệ - không vũ khí nào của họ có thể xuyên thủng áo giáp thép của Tây Ban Nha. Ngoài ra, do châu Mỹ không có ngựa, người Inca không biết cách đối phó với kỵ binh. Tuy nhiên, người Inca vẫn là những chiến binh giỏi khi đánh bại được cả người Mapuche, tộc người mà trong nhiều năm tới sẽ gây khó dễ cho tham vọng chinh phục của Tây Ban Nha.

Trận chiến đầu tiên giữa người Inca và người Tây Ban Nha xảy ra trên đảo Puná, gần thành phố Guayaquil, Ecuador ngày nay, trên bờ biển Thái Bình Dương; Pizarro sau đó thành lập thành phố Piura vào tháng 7 năm 1532. Hernando de Soto được gửi vào nội địa để trinh thám và trở về với lời mời gặp vị Inca, Atahualpa, người đã chiến thắng em trai mình và đang nghỉ ngơi tại Cajamarca với 80.000 quân đồn trú ở đó, hiện tại chỉ được trang bị các công cụ săn bắn (dao và dây thòng lòng để săn lạc đà không bướu).

Pizarro và một số, đáng chú ý nhất là Vincente de Valverde, đã gặp mặt vị Inca, người chỉ mang theo một đoàn tùy tùng nhỏ. Người Inca mời họ uống chicha trong một chiếc cốc vàng nghi lễ, nhưng người Tây Ban Nha khước từ. Người phiên dịch Tây Ban Nha, Đan sĩ Vincente, đã đọc "Requerimiento" yêu cầu vị Inca và toàn bộ đế quốc chấp nhận sự cai trị của vua Charles I của Tây Ban Nha và cải đạo Cơ đốc. Atahualpa từ chối và yêu cầu họ rời đi. Chớp thời cơ quân Inca bị xao nhãng, người Tây Ban Nha phục kích và bắt vị Inca làm con tin và bắt họ phải hợp tác.

Atahualpa cho người Tây Ban Nha đủ vàng để lấp đầy căn phòng mà ông đang bị cầm tù và số bạc gấp đôi số vàng đó. Người Inca giao nộp khoản tiền chuộc này, nhưng Pizarro đã lừa dối họ, từ chối thả vị Inca ra. Trong thời gian Atahualpa bị giam cầm, Huáscar bị ám sát ở nơi khác. Người Tây Ban Nha cho rằng vụ ám sát này là do Atahualpa; họ đã lấy cớ này để kết án Atahualpa và xử tử ông, vào tháng 8 năm 1533.[23]

Mặc dù "thất bại" thường ám chỉ sự mất mát không mong muốn trong trận chiến, nhưng phần lớn giới tinh hoa Inca "thực sự hoan nghênh quân xâm lược Tây Ban Nha với tư cách là những người giải phóng và sẵn sàng chia sẻ quyền cai trị nông dân và thợ mỏ vùng Andes."[24]

Những người Inca cuối cùngSửa đổi

 
Atahualpa, vị Sapa Inca cuối cùng, bị hành quyết bởi quân Tây Ban Nga ngày 29 Tháng 8, 1533
 
Quang cảnh cổ trấn Machu Picchu
 
Thành cổ Sacsayhuamán tại Cusco

Người Tây Ban Nha cho em trai của Atahualpa là Manco Inca Yupanqui lên nắm quyền lực trong lúc họ đi bình định phương Bắc. Được một thời gian, Manco chạy trốn, tổ chức kháng chiến. Manco sử dụng lục đục nội bộ của TBN để tạo lợi thế cho mình, chiếm lại thành Cusco năm 1536, nhưng bị Tây Ban Nha tái chiếm sau đó. Manco Inca bèn rút lui vào vùng núi Vilcabamba và thành lập Nhà nước Tân Inca, nơi ông và những người kế vị cai trị thêm 36 năm nữa, đôi khi quấy nhiễu hoặc kích động nổi dậy chống Tây Ban Nha. Năm 1572, thành trì cuối cùng của người Inca thất thủ và vị Inca cuối cùng, Túpac Amaru, con trai của Manco, bị bắt và xử tử.[25] Sự kiện này chấm dứt sự kháng cự cuộc chinh phạt của Tây Ban Nha dưới quyền lực chính trị của nhà nước Inca.

Xã hộiSửa đổi

Dân sốSửa đổi

Số lượng người sinh sống tại Tawantinsuyu ở mức cao nhất là không chắc chắn, với ước tính dao động từ 4-37 triệu. Hầu hết các ước tính dân số nằm trong khoảng từ 6 đến 14 triệu. Người Inca có giữ các số liệu nhân khẩu trong những nút thắt quipu, nhưng cách đọc chúng đã bị mai một và thất truyền qua nhiều đời dưới sự cai trị của Tây Ban Nha.[26]

Ngôn ngữSửa đổi

Hình thức giao tiếp và lưu giữ thông tin chính của đế quốc là bằng quipu, gốm sứ, len dệt và nhiều phương ngữ khác nhau của tiếng Quechua, ngôn ngữ mà người Inca áp đặt lên các sắc tộc khác trong đế quốc. Mặc dù tiếng Quechua được nói ở vùng Andes, bao gồm cả miền trung Peru, nhiều thế kỷ trước khi sự mở rộng nền văn minh Inca, phương ngữ Quechua mà người Inca áp đặt là phương ngữ của Vương quốc Cusco (một dạng ban đầu của "Nam Quechua" ban đầu được đặt tên là Qhapaq Runasimi, hay 'ngôn ngữ vĩ đại của người dân') theo một số học giả.[35][36]

Ngôn ngữ Inca bắt đầu phát triển các phương ngữ khi đế quốc tiếp tục bành trướng. Sự đa dạng của tiếng Quechua tại thời điểm đó và thậm chí là ở ngày nay không phải là kết quả trực tiếp từ người Inca mà chỉ là một phần lý do. Các nền văn minh trong đế chế đã nói trước đây nói tiếng Quechua giữ lại ngôn ngữ của riêng họ.[36]

Mặc dù nhiều xã hội trong đế quốc đã nói hoặc học nói tiếng Quechua, nhiều người vẫn tiếp tục nói các ngôn ngữ gốc của họ, như tiếng Aymara, vẫn được sử dụng ở Bôlivia hiện nay, nơi đây là ngôn ngữ bản địa chính và ở các khu vực xung quanh Bôlivia. Ngôn ngữ của Đế quốc Inca do vậy rất đa dạng. Di sản của người Inca tồn tại lâu hơn đế quốc của họ, do người Tây Ban Nha vẫn cho dân chúng tiếp tục sử dụng tiếng Quechua.[36]

Tuổi và xác định giới tínhSửa đổi

Tỷ lệ tử vong sơ sinh cao trong Đế quốc Inca khiến tất cả trẻ sơ sinh được đặt tên là ‘wawa’ khi mới chào đời. Hầu hết các gia đình không đầu tư quá nhiều vào con của họ cho đến khi chúng được hai hoặc ba tuổi. Khi đứa trẻ lên ba, buổi lễ "đến tuổi" gọi là rutuchikuy được tổ chức. Đối với người Inca, buổi lễ này chỉ ra rằng đứa trẻ đã bước vào giai đoạn "thiếu hiểu biết". Trong buổi lễ này, gia đình sẽ mời tất cả các người thân đến nhà của họ để ăn và nhảy, và sau đó mỗi thành viên trong gia đình sẽ nhận được một lọn tóc từ đứa trẻ. Sau đó, người cha sẽ cạo trọc đầu đứa trẻ. Giai đoạn này của trẻ con được coi là "thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm và thiếu lí sự, thứ mà đứa trẻ sẽ phát triển sau này."[27] Trong xã hội Inca, từ giai đoạn thiếu hiểu biết đến phát triển, trẻ phải học được vai trò của mình dựa trên giới tính của chúng.

Nghi thức quan trọng tiếp theo là kỷ niệm sự trưởng thành của một đứa trẻ. Không giống lễ đến tuổi, lễ trưởng thành đánh dấu sự dậy thì của đứa trẻ. Lễ kỷ niệm dậy thì này được gọi là warachikuy cho bé trai và qikuchikuy cho bé gái. Nghi lễ warachikuy bao gồm khiêu vũ, nhịn ăn, phô trương sức mạnh và các nghi lễ gia đình. Chàng trai cũng sẽ được tặng quần áo mới và dạy cách hành xử như một người đàn ông chưa cưới. Các qikuchikuy đánh dấu sự khởi đầu của kinh nguyệt, cô gái sẽ phải đi vào rừng một mình và chỉ quay trở lại sau khi chảy máu kết thúc. Trong rừng, cô gái sẽ phải nhịn ăn, và một khi trở về, cô gái sẽ được đặt tên mới, quần áo người lớn và lời khuyên. Giai đoạn "dại dột" này của cuộc đời là thời gian những người trẻ tuổi được phép quan hệ tình dục mà không phải làm cha mẹ.[27]

Trong độ tuổi từ 20 đến 30, mọi người được coi là thanh niên, "chín muồi cho suy nghĩ nghiêm túc và lao động."[39] Thanh niên có thể giữ thanh xuân của mình bằng cách sống ở nhà và giúp đỡ trong gia đình của họ. Những người trẻ tuổi chỉ đạt đến sự trưởng thành và độc lập hoàn toàn khi họ kết hôn.

Vào cuối đời, các thuật ngữ dành cho nam và nữ biểu thị sự mất đi sức sống tình dục và tình người. Cụ thể, giai đoạn "suy đồi" biểu thị sự mất mát về tinh thần và suy giảm thể chất.

Bảng 7.1 từ bài viết của R. Alan Covey[27]
Tuổi Giai đoạn Thuật ngữ cho nữ giới Thuật ngữ cho nam giới
< 3 Khái niệm Wawa Wawa
3–7 Thiếu hiểu biết (chưa biết nói) Warma Warma
7–14 Phát triển Thaski (hoặc P'asña) Maqt'a
14–20 Dại dột (động dục) Sipas (chưa cưới) Wayna (chưa cưới)
20+ Trưởng thành (tình thần và thể chất) Warmi Qhari
70 Ốm yếu Paya Machu
90 Già yếu Ruku Ruku

Hành chính và công nghệSửa đổi

 
Tunika của người Inca

Thành tựu của người Inca là bằng khả năng quân sự đã có thể tạo nên một vương quốc rộng lớn, nhưng họ đã không thể giữ vững được quốc gia trong một thời gian dài. Vương quốc chỉ có thể được ổn định bằng một hệ thống quản lý đất nước toàn hảo và khả năng sử dụng tài nguyên mang lại nhiều lợi ích. Trong những việc này, người Inca có thể so sánh được với người Ai Cập hay đế quốc La Mã. Họ đã biết cách sử dụng đúng chỗ những dân tộc đã bị chinh phục. Từ một nguồn chung cực lớn về năng lực, kinh nghiệm, công nghệ và sức lao động họ đã tạo ra những người nông dân, người lính cho các đạo quân, kiến trúc sư và thợ đẽo đá cho việc xây dựng đường sá, đền thờ, kênh đào và ruộng bậc thang. Người Inca chuyển nhiều chức sắc cao của các bộ lạc khác nhau về Cuzco và giao cho họ những nhiệm vụ quản lý quan trọng. Họ cũng giao nhiệm vụ cho các thợ thủ công giỏi nhất của vương quốc sản xuất hàng dệt, đồ vật nghệ thuật, hàng hóa làm bằng đất sétkim loại. Nước cờ khôn ngoan này đã được các bộ lạc bị chinh phục đánh giá cao và được người Inca biết cách lợi dụng.

Mỗi người đều phải phục vụ vương quốc, kể cả người thống trị mà họ tôn thờ theo lễ nghi. Theo sự tôn thờ này, người thống trị vương quốc Inca có nguồn gốc từ con trai của Mặt trời.

 
Mộ của người Inca

Người Inca đã kiến tạo thủ đô Cuzco, trung tâm nghi lễ và chính trị, thành một dự án kiến trúc biểu trưng để cho tất cả những người đến xem đều phải kinh ngạc. Phong cách và kiểu xây dựng lan truyền đi nhanh chóng trong khắp vương quốc. Trong các công trình kíến trúc họ bao giờ cũng quan tâm đến khu vực chung quanh và cố gắng phối hợp cả hai. Thí dụ tốt nhất là Machu Picchu, nơi các yêu cầu về kiến trúc đã hòa hợp với địa hình chung quanh.

Các công trình xây dựng khổng lồ không những chỉ có giá trị thực tiễn mà còn là một hình thức phô trương quyền lực và vinh quang, gây ấn tượng cho những người có thể là kẻ thù. Hai con đường dài nhất trong hệ thống đường sá Inca là cột trụ cho vương quốc, chạy dài khắp đất nước. Hai con đường này, một đường từ Cuzco qua dãy núi Andes đến Quito và con đường kia dọc theo bờ biển Thái Bình Dương cộng với các đường cắt ngang được dùng để di chuyển nhanh chóng quân đội, tiếp tế cũng như trao đổi hàng hóa và thông tin. Chúng cũng có ảnh hưởng quyết định trong việc truyền những thông tin quan trọng trong thời gian ngắn.

Để có thể cung cấp lương thực cho vương quốc to lớn này, người Inca đã di dời chỗ ở nông dân trong toàn đất nước, khuyến khích trao đổi hàng hóa giữa những không gian sinh sống khác nhau trong dãy núi Andes. Họ đào kênh tưới nước tại những vùng đất giống như thảo nguyên. Vì thế, người Inca đã tạo thành nhiều vùng đất màu mỡ từ sa mạc và thung lũng trên cao, những nơi thông thường là trồng khoai tây và ngô. Từ đấy họ sản xuất Chicha, một loại thức uống có cồn và cũng được dùng cho mục đích tế lễ. Cạnh bờ hồ Titicaca, người Inca đã phát triển một hệ thống thoát nước để có thể trồng trọt ngay trên các vùng đất ngập nước và giảm thiệt hại của băng tuyết

Y học của người IncaSửa đổi

Người Inca có nhiều kiến thức trong y khoa, họ đã có thể mổ thành công trên đầu. Lá cây coca được dùng để làm giảm đói và giảm đau, vẫn còn được phổ biến rất rộng rãi cho đến ngày nay tại vùng núi Andes. Những người Casqui đã nhai lá coca để có thêm năng lượng nhằm hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ chạy đưa tin trong khắp trong vương quốc. Các nghiên cứu mới đây của Trường Erasmus Universiteit Rotterdam cho thấy rằng trái với quan niệm phổ biến, người Inca không nghiện coca. Một phương thức trị liệu khác là dùng vỏ cây tiêu Peru (Schinus molle) đã được nấu còn ấm để đắp lên vết thương.

Tham khảoSửa đổi

  • Felipe Guaman Poma de Ayala: El primer nueva corónica y buen gobierno [Original Manuskript (1615/1616) in der königlichen Bibliothek in Kopenhagen]. Digitale Version: [1]
  • Hans D. Disselhoff: Das Imperium der Inka, München 1978 ISBN 3-453-00887-1
  • Hans D. Disselhoff: Oasenstädte und Zaubersteine im Land der Inka. Archäologische Forschungsreisen in Peru, Berlin 1993 ISBN 3-7934-1115-X
  • Kampf um die Inkastadt Cuzco. Aufzeichnungen eines anonymen Zeitzeugen 1535 - 1539. Übersetzt und eingeleitet durch Mario Koch, (=Cognoscere Historias, Band 11), trafo Verlag Berlin, 2000 ISBN 3-89626-321-8
  • Meinrad M. Grewenig: InkaGold. Katalog zur Ausstellung, Heidelberg: Kehrer, 2004
  • Catherine Julien: Die Inka. Geschichte, Kultur, Religion, München: C.H. Beck, 2003 ISBN 3-406-41875-9
  • Jakob Wassermann: Das Gold von Caxamalca
  • National Research Council, 1989, Lost Crops of the Incas: Little-known Plants of the Andes with Promise for Worldwide Cultivation. National Academic Press, Washington, DC. USA.

Đọc thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Turchin, Peter; Adams, Jonathan M.; Hall, Thomas D (tháng 12 năm 2006). “East-West Orientation of Historical Empires”. Journal of World-Systems Research 12 (2): 222. ISSN 1076-156X. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2016. 
  2. ^ Rein Taagepera (tháng 9 năm 1997). “Expansion and Contraction Patterns of Large Polities: Context for Russia”. International Studies Quarterly 41 (3): 497. JSTOR 2600793. doi:10.1111/0020-8833.00053. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2018. 
  3. ^ Namnama, Katrina; DeGuzman, Kathleen, “The Inca Empire”, K12, US, Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2008  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  4. ^ McEwan 2008, tr. 221.
  5. ^ Schwartz, Glenn M.; Nichols, John J. (2010). After Collapse: The Regeneration of Complex Societies. University of Arizona Press. ISBN 978-0-8165-2936-0. 
  6. ^ “Quechua, the Language of the Incas”. Ngày 11 tháng 11 năm 2013. 
  7. ^ “The Inca – All Empires”. 
  8. ^ "The Inca." The National Foreign Language Center at the University of Maryland. ngày 29 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2013.
  9. ^ McEwan, Gordon F. (2006). The Incas: New Perspectives. New York: W.W. Norton & Co. tr. 5. 
  10. ^ La Lone, Darrell E. “The Inca as a Nonmarket Economy: Supply on Command versus Supply and Demand”. tr. 292. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2017. 
  11. ^ Morris, Craig and von Hagen, Adrianna (2011), The Incas, London: Thames & Hudson, pp. 48–58
  12. ^ Upton, Gary and von Hagen, Adriana (2015), Encyclopedia of the Incas, New York: Rowand & Littlefield, p. 2. Some scholars cite 6 or 7 pristine civilizations.
  13. ^ McEwan, Gordon F. (2006), The Incas: New Perspectives, New York: W. W. Norton & Company, p. 65
  14. ^ Hardoy, Jorge Henríque (1973). Pre-Columbian Cities. tr. 24. ISBN 978-0-8027-0380-4. 
  15. ^ a ă â Gade, Daniel W. (1996). “Carl Troll on Nature and Culture in the Andes (Carl Troll über die Natur und Kultur in den Anden)”. Erdkunde 50 (4): 301–16. 
  16. ^ The three laws of Tawantinsuyu are still referred to in Bolivia these days as the three laws of the Qullasuyu.
  17. ^ Weatherford, J. McIver (1988). Indian Givers: How the Indians of the Americas Transformed the World. New York: Fawcett Columbine. tr. 60–62. ISBN 0-449-90496-2. 
  18. ^ a ă â b c d đ Silva Galdames, Osvaldo (1983). “¿Detuvo la batalla del Maule la expansión inca hacia el sur de Chile?”. Cuadernos de Historia (bằng tiếng Spanish) 3: 7–25. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2019. 
  19. ^ Ernesto Salazar (1977). An Indian federation in lowland Ecuador (PDF). International Work Group for Indigenous Affairs. tr. 13. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2013. 
  20. ^ Starn, Orin; Kirk, Carlos Iván; Degregori, Carlos Iván (2009). The Peru Reader: History, Culture, Politics. Duke University Press. ISBN 978-0-8223-8750-3. 
  21. ^ *Juan de Samano (ngày 9 tháng 10 năm 2009). “Relacion de los primeros descubrimientos de Francisco Pizarro y Diego de Almagro, 1526”. bloknot.info (A. Skromnitsky). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009. 
  22. ^ Somervill, Barbara (2005). Francisco Pizarro: Conqueror of the Incas. Compass Point Books. tr. 52. ISBN 978-0-7565-1061-9. 
  23. ^ McEwan 2008, tr. 79.
  24. ^ Raudzens, George biên tập (2003). Technology, Disease, and Colonial Conquest. Boston: Brill Academic. tr. xiv. 
  25. ^ McEwan 2008, tr. 31.
  26. ^ McEwan 2008, tr. 93–96. Con sô 10 triệu ở đây là ước tính tầm trung bình..
  27. ^ a ă â Covey, R. Alan. "Inca Gender Relations: from household to empire.” Gender in cross-cultural perspective. Brettell, Caroline; Sargent, Carolyn F., 1947 (Seventh edition ed.). Abingdon, Oxon. ISBN 978-0-415-78386-6. OCLC 962171839.

Liên kết ngoàiSửa đổi