A-la-hán (Chữ Hán phồn thể 阿羅漢; sa. arhat, arhant; pi. arahat, arahant; bo. dgra com pa, trong dân gian thường gọi là la hán) là "người xứng đáng"[1] hoặc là "người hoàn hảo"[1][2] theo Phật giáo Nguyên thủy, đã đạt tới Niết-bàn, thoát khỏi hoàn toàn Luân hồi[2][1]. Tuy nhiên theo các tông phái khác trong Phật giáo, thì thuật ngữ này để chỉ những người đã tiến rất sâu trên con đường giác ngộ, cũng thoát được sinh tử luân hồi nhưng chưa hoàn toàn viên mãn, nói cách khác là chưa đạt Phật quả.[3]

Bộ tượng La hán bằng đá trên đỉnh núi Cấm (An Giang)

Một A-la-hán còn gọi là Hữu dư Niết-bàn (sa. sopadhiśeṣanirvāṇa; pi. savupadisesanibbāna), khi A-la-hán này viên tịch thì gọi là nhập Vô dư Niết bàn.

Con đường đạt tớiSửa đổi

Có thể đạt quả vị A-la-hán bằng con đường Tứ thiền , chứng đắc được Tứ Thánh quả. Nhưng muốn đi đường nào thì cũng phải sống hướng thiện, học tập đạo lý, nỗ lực thực hành, chế ngự những ham muốn Ái Dục, có Ái Dục mà tu đắc đạo là chuyện không bao giờ có. Vì Ái DụcNiết Bàn là kẻ thù của nhau. Có thể nói Luân Hồi là Ái Dục, Ái Dục là Luân Hồi.

Một vị đã chứng A La Hán sẽ có Tam MinhLục Thông, người có được thần thông chưa chắc là một vị A La Hán, nhưng một vị A La Hán chắc chắn phải có đủ Tam MinhLục Thông, Thần thể.

Một vị A La Hán là một vị đã phá bỏ được 10 kiết sử, trở thành một bậc mô phạm đạo đức giữa cuộc đời. Đức Phật từng dạy rằng, uy đức của các bậc A-la-hán là " trụ động thiên địa", nghĩa là khi vị đó cư ngụ ở nơi nào thì uy đức nơi các vị có thể làm lay động trời đất,khiến tất cả chúng sinh phải quy ngưỡng về.

Tuy nhiên do phúc đức và nhân duyên khác nhau, mà khả năng và thần thông của các vị A La Hán có thể có sự chênh lệch. Vì thế tạo những điều phúc hạnh lành, tôn kính Đức Phật, các vị Thánh và những bậc đáng kính, nghiêm túc giữ giới, không làm các việc gây tổn phước, gieo duyên cho chúng sinh về với Tam bảo,... là những trong nhiều nhân để chứng đạt 1 vị A La Hán trong tương lai.

Tóm lại, một vị chứng được A La Hán có công đức, phước đức và nhân duyên vô cùng lớn, đó là một trong các nhân duyên để chứng đạt được quả vị này.

Từ ngữ: Phật và A-la-hánSửa đổi

Về cơ bản, Đức Phật cũng tự cho mình là một A-la-hán, cách mà Phật đi đến giác ngộ cũng giống hệt những vị A-la-hán khác, nhưng vì trong vô số kiếp trước Phật đã xả thân làm lợi ích cho chúng sinh, thực hành Bồ tát hạnh nên khi đắc đạo ngài có thần thông, trí tuệ, dung mạo, công đức... cực kỳ cao quý, phi phàm, vượt xa những A-la-hán đệ tử sau này. Và chính Phật là người giác ngộ duy nhất thời bấy giờ (trước đó đã có những vị Phật khác rồi (theo bắc tông)) nên người ta gọi Ngài là Bậc Giác Ngộ, tiếng Hán là "Giác giả", tiếng Việt là "Phật". Nhưng càng về sau, nhiều luận bản xuất hiện và làm cho khoảng cách giữa từ "Phật" và từ "A-la-hán" càng cách xa. Thậm chí nhiều luận bản còn có ý chê bai quả vị A-la-hán là kém cỏi. Đây là điều trái ngược với quan điểm ban đầu của Phật.

Sự vĩ đại của một vị A-la-hán cũng giống như Phật thì không một ngôn từ nào có thể diễn tả được. Mỗi người chỉ tùy theo nhân duyên và trí tuệ của riêng mình để hiểu một phần nho nhỏ nào đó mà thôi.

Đại thừa, Tiểu thừa hay Kim Cương thừa,...không phải là do cái này cao, cái kia thấp, mà có sự hỗ tương lẫn nhau, có nhiều pháp môn để tùy người có sự tu học tốt hơn; Vì thế không nên phân biệt Đại thừa, Tiểu thừa. Thời Đức Phật tại thế không có chuyện chia phe, lập phái đấu đá lẫn nhau như thế này, mà người thời nay chia ra như thế. Xưa kia, khi một vị đắc quả A-la-hán, Phật không nói người này đã tinh tấn (chăm chỉ) tu theo pháp môn này hay pháp môn kia, mà giải thích rằng trong một tiền kiếp người đó đã hết lòng cung kính, cúng dường một bậc Thánh nào đó.


Một số vị A La Hán thời Đức Phật Thích Ca Mâu NiSửa đổi

Xem Thêm: Thập đại đệ tử

  1. Ma-ha-ca-diếp (zh. 摩訶迦葉, sa. mahākāśyapa, bo. འོད་སྲུང་ཆེན་པོ་): Đầu-đà (tu khổ hạnh) đệ nhất; ông là người yêu cầu mở đại hội kết tập kinh điển lần đầu tiên của Phật giáo.
  2. A-nan-đà (zh. 阿難陀, sa. ānanda, bo. ཀུན་དགའ་བོ་): Đa văn đệ nhất, người "nghe và nhớ nhiều nhất". A-nan-đà hay được trình bày trong tranh tượng đứng bên cạnh Phật cùng với Ma-ha-ca-diếp; tuy là Đa văn đệ nhất nhưng sau khi Đức Phật Niết-bàn ông mới chứng quả A-la-hán rạng sáng ngày kết tập kinh điển đầu tiên. Trong kiếp cuối cùng, Ngài vừa phải tu tập vừa đồng thời làm thị giả của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nên không thể dồn tâm sức tu hành trọn vẹn. Nhưng khi đã chứng ngộ, công đức của Ngài từ công cuộc kết tập kinh kiển đầu tiên là vô cùng lớn lao.
  3. Xá-lợi-phất (zh. 舍利弗, sa. śāriputra, bo. ཤཱ་རིའི་བུ་): Trí huệ đệ nhất, đệ tử quan trọng của Phật trong các kinh Nikaya; trước khi xuất gia, ông là một luận sư nổi tiếng trong giáo đoàn.
  4. Tu-bồ-đề (zh. 須菩提, sa. subhūti, bo. རབ་འབྱོར་): Giải Không (sa. śūnyatā) đệ nhất. Tu-bồ-đề thường xuất hiện trong kinh điển hệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa.
  5. Phú-lâu-na (zh. 富樓那, sa. pūrṇa, bo. གང་པོ་): Thuyết Pháp đệ nhất. Nổi bật nơi ngài là khả năng thuyết pháp sâu sắc, khéo léo và truyền tải được đạo lý sâu xa đến với cả hội chúng đông đảo;
  6. Mục-kiền-liên (zh. 目犍連, sa. mahāmaudgalyāyana, bo. མོའུ་འགལ་གྱི་བུ་): Thần thông đệ nhất, hay đi đôi với Xá-lợi-phất; sau khi xuất gia được 7 ngày ông đã đoạn trừ hết các lậu hoặc, chứng quả A-la-hán (阿羅漢; sa. arhat, arhant; pi. arahat, arahant).
  7. Ca-chiên-diên (zh. 迦旃延, sa. katyāyana, bo. ཀ་ཏྱའི་བུ་): Biện luận đệ nhất. Nổi bật nơi ngài là khả năng trao đổi đạo lý khéo léo xuất sắc khi đối tiếp với từng chúng sinh;
  8. A-na-luật (阿那律, sa. aniruddha, bo. མ་འགགས་པ་): Thiên nhãn đệ nhất;
  9. U-pa-li (優波離, sa. upāli, bo. ཉེ་བར་འཁོར་): Giới luật đệ nhất;
  10. La-hầu-la (羅睺羅, sa. rāhula, bo. སྒྲ་གཅན་འཛིན་): Mật hạnh đệ nhất, ông cũng là người con duy nhất của Thái tử Tất-đạt-đa (sau này thành Đức Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni)
  11. A-Nhã Kiều Trần Như: Ngài là người chứng đắc đạo quả A-la-hán đầu tiên, mở ra sự phát triển của Tăng bảo.
  12. Lakuntaka Bhaddiya: Đệ nhất âm thanh vi diệu. Nổi bật nơi ngài là giọng nói hòa ái, hay sử dụng mỹ từ với chất giọng truyền cảm thuyết phục được thính chúng.
  13. Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp: Ngài từng là giáo chủ một đạo thờ lửa. Do có đồ chúng đông đảo, thời điểm ngài xin xuất gia với Đức Phật, năm trăm vị đệ tử của ngài và sau đó là năm trăm vị đệ tử của hai em trai ngài cùng xin xuất gia. Các ngài đều chứng đắc đạo quả khi nghe Đức Phật thuyết bài pháp "Lửa".
  14. Thi Bà La (Sivali): Đệ nhất tài lộc, nhờ công đức bố thí rộng rãi trong quá khứ nên ngài đến bất cứ nơi đâu cũng được sự cúng dường của chư thiên và loài người.
  15. Bạc Câu La: Đệ nhất hạnh vô bệnh. Suốt cuộc đời, ngài không hề bị bệnh, nhờ vào công đức chăm sóc sức khỏe cho các vị Phật quá khứ, và vô số kiếp cống hiến sức khỏe và chăm lo cho chúng sinh.

Và rất nhiều vị khác, tương truyền trong thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, số lượng vị A La Hán có thể lên đến nghìn vị.

Nguồn tham khảoSửa đổi

  • Prebish, Charles; Keown, Damien biên tập (2004). Encyclopedia of Buddhism. Routledge. ISBN 978-0415314145.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Rhie, Marylin; Thurman, Robert (1991), Wisdom And Compassion: The Sacred Art of Tibet, new York: Harry N. Abrams (with 3 institutions), ISBN 0810925265Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Warder, A.K. (2000), Indian Buddhism, Delhi: Motilal Banarsidass PublishersQuản lý CS1: ref=harv (liên kết)

Tham khảoSửa đổi