Agonidae là danh pháp khoa học của một họ cá biển nhỏ, sống đáy vùng nước lạnh. Các tên gọi phổ biến trong tiếng Anh của chúng là poacher, alligatorfish, starsnout, hooknose, snailfish và rockhead.

Agonidae
Aspidophoroides monopterygius.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Nhánh Craniata
Phân ngành (subphylum)Vertebrata
Phân thứ ngành (infraphylum)Gnathostomata
Liên lớp (superclass)Osteichthyes
Lớp (class)Actinopterygii
Nhánh Actinopteri
Phân lớp (subclass)Neopterygii
Phân thứ lớp (infraclass)Teleostei
Nhánh Osteoglossocephalai
Nhánh Clupeocephala
Nhánh Euteleosteomorpha
Nhánh Neoteleostei
Nhánh Eurypterygia
Nhánh Ctenosquamata
Nhánh Acanthomorphata
Nhánh Euacanthomorphacea
Nhánh Percomorphaceae
Nhánh Eupercaria
Bộ (ordo)Perciformes
Phân bộ (subordo)Cottoidei
Phân thứ bộ (infraordo)Cottales
Họ (familia)Agonidae
Swainson, 1839
Chi điển hình
Agonus
Bloch & J. G. Schneider, 1801
Các phân họ và chi
Xem văn bản.

Các loài cá này đáng chú ý vì có cơ thể thuôn dài được che phủ bằng các lớp vảy bị biến đổi thành các tấm xương, cũng như vì việc sử dụng các vây ức lớn của chúng để di chuyển thành từng đợt bật lên ngắn. Các vây chậu của chúng gần như chỉ ở dạng dấu vết, chủ yếu bao gồm một gai nhỏ và vài tia vây mềm. Chúng không có bong bóng.

Với chiều dài lên tới 42 xentimét (17 in) thì Percis japonica là loài lớn nhất trong họ Agonidae nghĩa hẹp, trong khi Bothragonus occidentalis trưởng thành chỉ dài 7 cm (2,8 in); phần lớn có chiều dài trong phạm vi 20–30 cm. Khi gộp cả HemitripteridaeHemilepidotus thì Hemitripterus bolini là loài lớn nhất, với chiều dài lên tới 73 xentimét (29 in).

Thức ăn chủ yếu của chúng là động vật giáp xác nhỏ và giun biển tìm thấy trên đáy. Một vài loài ngụy trang cơ thể bằng thủy tức, bọt biển hay rong biển. Chúng sống ở độ sâu tới 1.280 m (4.200 ft), với chỉ một vài loài ưa thích các vùng nước nông hơn ven bờ. Trừ một loài (Agonopsis asperoculis) ở tây nam Đại Tây Dương thì tất cả các loài còn lại đều sinh sống ở Bắc bán cầu.[1]

Hệ thống họcSửa đổi

Theo truyền thống, Agonidae được xếp trong liên họ Cottoidea của phân bộ Cottoidei trong bộ Cá mù làn (Scorpaeniformes).[2] Tuy nhiên, gần đây người ta coi nó thuộc cận bộ Cottales trong phân bộ Cottoidei của bộ Perciformes.[3]

Phân tích phát sinh chủng loài của Smith & Busby năm 2014 cho thấy Hemilepidotus (6 loài) có quan hệ họ hàng gần với các loài Agonidae hơn là với các loài trong Cottidae.[4] Bên cạnh đó, họ Hemitripteridae T. N. Gill, 1872 (3 chi, 8 loài) là cận ngành trong tương quan với Agonidae. Vì thế việc gộp Hemitripteridae và Hemilepidotus vào họ Agonidae là hợp lý.[4]

Họ này chứa khoảng 46 loài trong 21 chi, một vài trong số đó là phổ biến khá rộng. Nếu cộng cả HemitripteridaeHemilepidotus thì nó chứa 60 loài trong 25 chi.

Phân loạiSửa đổi

Các phân họ và chi như liệt kê dưới đây:[2]

Chuyển từ họ khácSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  •   Dữ liệu liên quan tới Agonidae tại Wikispecies
  •   Phương tiện liên quan tới Agonidae tại Wikimedia Commons
  1. ^ Eschmeyer William M. (1998). Paxton J. R.; Eschmeyer W. N., biên tập. Encyclopedia of Fishes. San Diego: Academic Press. tr. 179. ISBN 0-12-547665-5. 
  2. ^ a ă Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (năm 2018). "Agonidae" trên FishBase. Phiên bản tháng tháng 6 năm năm 2018.
  3. ^ Betancur-R R., E. Wiley, N. Bailly, A. Acero, M. Miya, G. Lecointre, G. Ortí. 2017. Phylogenetic Classification of Bony Fishes – Phiên bản 4, 2017. BMC Evolutionary Biology BMC series – open, inclusive and trusted 2017 17:162. doi:10.1186/s12862-017-0958-3
  4. ^ a ă Smith W. L., Busby M. S., 2014. Phylogeny and taxonomy of sculpins, sandfishes, and snailfishes (Perciformes: Cottoidei) with comments on the phylogenetic significance of their early-life-history specializations. Mol. Phylogenet. Evol. 79: 332–352. doi:10.1016/j.ympev.2014.06.028.