Mở trình đơn chính

Bệnh dại là bệnh do virus dại (rabies virus) gây nên. Đây là một bệnh truyền nhiễm virus cấp tính của hệ thần kinh trung ương dẫn đến tử vong chắc chắn. Các triệu chứng ban đầu có thể bao gồm sốt và ngứa ran ở vết thương hoặc điểm tiếp xúc, sau đó là một hoặc nhiều triệu chứng sau: cử động dữ dội, hưng phấn không kiểm soát, sợ nước, không thể di chuyển các bộ phận của cơ thể, nhầm lẫn và mất ý thức[1]. Một khi đã xuất hiện các triệu chứng thì bệnh nhân có thể chắc chắn là tử vong.[1] Thời gian từ khi mắc bệnh và bắt đầu xuất hiện các triệu chứng thường là một đến ba tháng, có thể từ dưới một tuần đến hơn một năm,[1] phụ thuộc vào khoảng cách virus di chuyển dọc theo dây thần kinh ngoại biên để đến hệ thần kinh trung ương.[2] Bệnh dại là một trong những bệnh nhiễm được ghi nhận từ thời cổ xưa, mô tả từ cách đây hơn 3000 năm và là một bệnh truyền nhiễm đáng sợ. Bệnh dại có thể gặp ở tất cả động vật có vú.

Bệnh dại
Dog with rabies.jpg
Một con chó bị bệnh dại ở giai đoạn liệt
Chuyên khoaInfectious disease
ICD-10A82
DiseasesDB11148
MedlinePlus001334
eMedicinemed/1374 eerg/493 ped/1974
Patient UKBệnh dại
MeSHD011818
Orphanet770

Bệnh dại do lyssavirus gây ra, bao gồm lyssavirus dại dơi của Úc.[3] Bệnh lây truyền chủ yếu do các chất tiết bị nhiễm, thường do vết cắn, vết liếm của động vật mắc bệnh dại khác, kể cả con người.[1] Nước dãi của động vật bị dại cũng có thể truyền bệnh dại nếu tiếp xúc với mắt, miệng hoặc mũi. Chó là động vật bị dại phổ biến nhất. Hơn 99% các trường hợp mắc bệnh dại ở các quốc gia có chó thường bị dại là do bị chó cắn.[4]

Dấu hiệu và triệu chứngSửa đổi

Khoảng thời gian từ khi đã nhiễm trùng và các triệu chứng đầu tiên (thời gian ủ bệnh) thường là 1 đến 3 tháng ở người.[5]Ca có thời gian ủ bệnh bốn ngày và có ca dài hơn sáu năm đã được ghi nhận, tùy thuộc vào vị trí và mức độ nghiêm trọng của vết thương bị nhiễm trùng và lượng virus đi vào.[5] Các dấu hiệu và triệu chứng ban đầu của bệnh dại thường không đặc hiệu, thường chỉ là sốt và đau đầu.[5] Khi bệnh dại tiến triển, gây viêm não và/hoặc màng não, các triệu chứng có thể bao gồm tê liệt nhẹ hoặc tê liệt một phần, lo lắng, mất ngủ, lẫn, kích động, hành vi bất thường, hoang tưởng, sợ hãi và có ảo giác dẫn đến mê sảng và hôn mê.[2][5] Bệnh nhân cũng có thể mắc chứng sợ nước.[1] Từ 2 đến 10 ngày sau khi có triệu chứng đầu tiên thì bệnh nhân có thể tử vong. Gần như chưa có ca nào sống sót một khi đã xuất hiện triệu chứng,[5] ngay cả khi sử dụng dịch vụ chăm sóc đúng cách và chuyên sâu.[6]

Đặc điểm virusSửa đổi

Phân loạiSửa đổi

Họ Rhabdoviridae gồm hơn 200 loại virus phân bố rộng rãi trong thiên nhiên, nhiễm cho động vật có xương sống và động vật không xương sống và thực vật. Nhiều côn trùng bị nhiễm rhabo nhưng không có virus dại. Họ Rhabdoviridae gây nhiễm cho động vật có vú, kể cả người được chia làm 2 giống: giống Vesiculovirus gây viêm miệng có mụn nước và giống Lyssavirus với khoảng 80 virus khác nhau.

Dựa vào tính chất sinh học, virus dại được chia thành hai loại:

  • Virus dại "đường phố" hay còn gọi là virus dại hoang dại: là các dòng virus mới được phân lập trực tiếp từ con vật bị nhiễm. Các dòng virus này cho thời kỳ ủ bệnh dài và thay đổi (21-60 ngày ở loài chó), tạo thể vùi trong bào tương, khả năng gây bệnh cao.
  • Virus dại cố định: Là dòng virus đã được cấy truyền liên tiếp trong não thỏ; qua hơn 50 lần cấy truyền. Virus cố định (virus đột biến) nhân lên rất nhanh và thời kỳ ủ bệnh rất ngắn chỉ còn khoảng 4-6 ngày, gây bệnh cảnh dại bại liệt cho động vật nhưng mất khả năng gây bệnh cho người, được xử lý để sản xuất vắcxin phòng bệnh.

Cấu trúcSửa đổi

Virus Rhabdo là những tiểu thể hình viên đạn, kích thước lớn khoảng 75 x 180 nm. Virus có màng lipoprotein bọc ngoài, trên bề mặt có các gai dài 10 nm, nhô ra tạo bề mặt lồi lõm đều đặn. Các peplomer (gai) gồm các trimer của glycoprotein virus. Bên trong màng bọc là ribonuleocapsid. Bộ gen là 1 sợi đơn RNA thẳng không phân đoạn cực tính âm, trọng lượng phân tử 4,6 triệu, 12kb(?). Các virion chứa menRNA polymerase phụ thuộc RNA. Thành phần cấu tạo hóa học của virus gồm có 4% RNA, 67% protein, 26% lipit và 3% carbohydrate.

Đặc điểm kháng nguyênSửa đổi

Virus dại có một kiểu kháng nguyên duy nhất. Tuy nhiên, các dòng virus phân lập từ các loài khác nhau ở các vùng địa lý khác nhau có các epitop trên nucleoprotein và glycoprotein khác nhau. Dùng kháng thể đơn dòng hoặc trình tự nucleotid đặc hiệu để xác định những epitop khác nhau. Ở Mỹ, đã tìm thấy 5 biến thể kháng nguyên trong động vật sống trên cạn và 8 biến thể khác trong loài dơi.

Dùng kháng đơn dòng kháng glycoprotein virus để chọn các đột biến không độc của virus dại. Vị trí amino acid 333 của glycoprotein mang tính độc đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học bệnh dại và gây hòa màng tế bào nhiễm virus. Các gai virus chứa glycoprotein, tạo kháng thể trung hòa ở động vật. Kháng huyết thanh kháng nucleocapsit giúp chẩn đoán bệnh dại bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang.

Phản ứng với các tác nhân lý hóaSửa đổi

Virus dại kém bền vững, nhạy cảm với các yếu tố ngoại cảnh: bị tiêu diệt nhanh chóng bởi tia cực tím hoặc ánh sáng mặt trời, xà phòng đặc 20%, bởi sức nóng (50oC /1h), bởi các dung môi lipid, bởi trypsin, chất tẩy, chất oxy hóa và pH quá cao hoặc quá thấp. Virus dại sống được hàng tuần khi lưu trữ ở 4oC, bất hoạt bởi CO2. Trong mô não, virus dại tồn tại vài tháng ở 40oC hoặc hàng năm ở 7oC.

Sự nhân lên của virusSửa đổi

Virus nhân lên ở bào tương, các virion nảy chồi từ màng bào tương tế bào chủ.Virus dại tấn công vào các thụ thể acethylcholin trên bề mặt tế bào qua các gai glycoprotein. Men polymerase RNA của virion sao chép bộ gen sợi đơn RNA thành năm loại RNA thông tin (mRNA). Bộ gen RNA nằm trong ribonucleoprotein (RNP), được protein N bao quanh chứa các gen sao chép. Các mRNA mã hóa cho 5 protein của virion: nucleocapsit (N), protein của men polymerase (L,P), chất đệm (M) và glycoprotein (G). RNP của bộ gen làm khuôn mẫu cho RNA sợi dương bổ sung, tạo ra các RNA con cháu có cực tính âm. Các protein virus đóng vai trò như polymerase cho virus nhân lên và sao chép.

Sự dịch mã cần thiết cho virus nhân lên, đặc biệt là cho protein N và P, RNA mới được nhân lên kết hợp với men transcriptase và nucleprotein của virus để tạo lõi RNP trong bào tương. Các hạt virus được màng bao bọc trong lúc nảy chồi qua màng bào tương. Protein đệm của virus tạo một lớp ở mặt ngoài và tạo các gai virus.

Tính nhạy cảm với động vậtSửa đổi

RẤT CAO CAO TRUNG BÌNH THẤP
Cáo Chó Thú có túi
Chó sói đồng cỏ Chồn hôi Cừu
Chó sói Gấu trúc
Chuột Mèo Ngựa
Dơi Linh trưởng
Trâu bò

Theo thống kê của Viện Pasteur TP. HCM, ở Việt Nam, virus dại chủ yếu được tìm thấy ở chó, chiếm 96-97%. Tiếp đến là mèo 3-4%, các động vật khác (như thỏ, chuột, sóc...) chưa phát hiện được.[7]

Miễn dịchSửa đổi

Kháng thể đặc hiệu với virus dại xuất hiện trễ trong huyết thanh bệnh nhân. Kháng thể trung hòa trong máu xuất hiện khi sau khi tiêm vắcxin phòng dại vào cơ thể 10 ngày và tồn tại khoảng 7 tháng. Kháng thể trung hòa không có trong máu mà có cả trong tế bào, điều này giải thích cơ chế tác dụng của vắc xin phòng dại đối với người bị chó dại cắn. Vì không có người sống sót sau cơn dại nên không có nghiên cứu về miễn dịch khi bị chó dại cắn lần thứ 2.

Hướng dẫn phòng ngừa sau khi tiếp xúc với bệnh dại.

Loại động vật Đánh giá động vật Điều trị người tiếp xúc
Vật nuôi trong nhà: Chó, mèo và chồn hương Khỏe mạnh hoặc phải theo dõi 10 ngày Không (ngoại trừ trường hợp động vật có triệu chứng dại)
Dại hoặc nghi dại Chích vắcxin ngay lập tức
Không rõ (con vật chạy mất) Đến bác sĩ chuyên khoa
Động vật hoang dại: Chồn hôi, gấu trúc, dơi, cáo, chó sói đồng cỏ và các loài ăn thịt khác Nghĩ đến bệnh dại trừ khi có xét nghiệm chứng tỏ động vật không mắc bệnh Cần xem xét để chích ngừa ngay.
Các loài động vật khác: Vật nuôi, loài gặm nhấm, thỏ và thỏ rừng Cân nhắc từng trường hợp. Phải xin ý kiến bác sĩ chuyên khoa xem có cần chích ngừa hay không. Gần như không cần phòng ngừa kháng dại khi có vết cắn của sóc, chuột đất vàng hamster, heo, sóc, chuột, loài gặm nhấm và thỏ rừng.

Dịch tễ họcSửa đổi

Đường lây truyềnSửa đổi

Virus dại chủ yếu lây truyền qua các vết cắn, vết liếm vào vết thương của người hoặc một số động vật khác của động vật mắc bệnh dại. Trong một số ít trường hợp, bệnh có thể lây truyền qua đường hô hấp hoặc do ghép giác mạc. Nhiễm bệnh dại từ người qua người rất hiếm gặp. Chỉ ghi nhận được trường hợp mắc bệnh dại do truyền qua ghép giác mạc: giác mạc người cho bị chết vì bệnh của hệ thần kinh trung ương không rõ nguyên nhân và người nhận chết vì bệnh dại sau 50-80 ngày. Về mặt lý thuyết, bệnh dại có thể khởi đầu từ nước bọt bệnh nhân sang người tiếp xúc, nhưng trên thực tế chưa bao giờ ghi nhận được cách truyền bệnh này.

Phân loại bệnh dạiSửa đổi

Bài chi tiết: Chó dại

Có 2 dạng dịch bệnh dại:

  • Bệnh dại từ động vật nuôi như chó mèo: trên thế giới có khoảng 35.000 - 50.000 ca bệnh dại ở người, chủ yếu ở các nước đang phát triển, phần lớn là do chó dại cắn.
  • Bệnh dại tự nhiên: Là bệnh do động vật hoang dại truyền. Các nước Âu Mỹ có chương trình kiểm soát bệnh dại ở động vật nuôi hiệu quả nên rất ít gặp bệnh dại do chó cắn.
  • Loài dơi rất nguy hiểm vì chúng có thể mang virus dại nhưng biểu hiện hoàn toàn khỏe mạnh, tiết virus dại vào nước bọt rồi truyền đến động vật khác và người. Bệnh dại ở loài dơi có thể gây những trận dịch động vật ở những vùng mới trên trái đất.
  • Theo thống kê tại thành phố Hồ Chí Minh: tỉ lệ tử vong từ chó dại cắn là 98,2% và từ mèo dại cắn là 1,8%. Loài gặm nhấm và thỏ không truyền bệnh dại. Tỉ lệ mắc bệnh tăng cao vào mùa nắng. Bệnh không lây từ người sang người.[cần dẫn nguồn]

Phòng ngừaSửa đổi

Cơ chế phòng bệnh bệnh dại bằng vắc xinSửa đổi

Virus dại nhân lên trong cơ gần nơi bị nhiễm cho đến khi có đủ nồng độ nhiễm vào hệ thần kinh trung ương. Kháng thể thụ động có tác dụng trung hòa bớt virus, làm giảm nồng độ virus. Vắcxin phòng ngừa có tác dụng bảo vệ sau 2-8 tuần.

Các loại vắcxinSửa đổi

Tất cả các vắcxin dùng cho người đều chứa virus dại bất hoạt. Vắcxin chế từ nuôi cấy tế bào có ưu thế hơn vắcxin chế từ mô thần kinh vì ít gây phản ứng phụ.

  1. Vắcxin tế bào lưỡng bội người.
  2. Vắcxin dại hấp thụ
  3. Vắcxin tế bào phôi gà tinh chế
  4. Vắcxin mô thần kinh
  5. Vắcxin phôi vịt
  6. Các virus sống giảm độc lực

Các loại kháng thể dạiSửa đổi

  1. Globudin miễn dịch kháng dại của người: Là một gamma globulin có tính miễn dịch cao, điều chế từ huyết tương người với ethanol lạnh. Globulin này ít gây phản ứng phụ hơn huyết thanh ngựa kháng dại.
  2. Huyết thanh ngựa kháng dại: Là huyết thanh được cô đặc từ ngựa có đáp ứng miễn dịch tốt với virus dại. Đến nay huyết thanh ngựa kháng dại vẫn được dùng ở những nơi không có glubulin miễn dịch kháng dại của người.

Xử lý vết thươngSửa đổi

  1. Rửa thật kỹ vết thương bằng nước sạch hoặc xà phòng đặc 20%
  2. Bôi chất sát khuẩn: cồn iod đậm đặc
  3. Không khâu vết thương
  4. Gây tê tại chỗ cạnh vết thương (chủ yếu bằng procain) để ngăn cản sự tiến triển của virus.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â b c “Những điều cần biết về bệnh dại”. WHO (World Heath Organization). Truy cập 6 tháng 4 năm 2019. 
  2. ^ a ă Robbins and Cotran Pathologic Basis of Disease của Cotran RS, Kumar V, Fausto N (2005) (tái bản lần 7), trang 1375
  3. ^ “Rabies, Australian bat lyssavirus and other lyssaviruses”. Bộ Y Tế Úc. Truy cập 6 tháng 4 năm 2019. 
  4. ^ "Emergency Medicine: A Comprehensive Study Guide" của Tintinalli, Judith E. (2010), chương 152
  5. ^ a ă â b c "30 Years of rabies vaccination with Rabipur: a summary of clinical data and global experienceː của Giesen, A; Gniel, D; Malerczyk, C (tháng 3 năm 2015)
  6. ^ "Current and future trends in the prevention, treatment and control of rabies" của Rupprecht CE, Willoughby R, Slate D (2006)
  7. ^ “Bệnh dại (Rabies) - Viện Pasteur TP. HCM”.