Bệnh dại

bệnh do virus gây tử vong

Bệnh dại (tiếng Anh: Rabies) là một căn bệnh do virus gây ra viêm não ở người và động vật có vú khác.[1] Triệu chứng ban đầu có thể bao gồm sốt và ngứa ran nơi vết thương;[1] tiếp đến là một hoặc nhiều hơn những triệu chứng sau: hành động bạo lực, kích động không kiểm soát, sợ nước, không thể cử động các phần cơ thể, lú lẫn, và mất ý thức.[1] Một khi triệu chứng đã khởi phát thì kết cục gần như luôn là tử vong.[1] Thời gian từ khi mắc bệnh đến khi xuất hiện triệu chứng thường rơi vào khoảng một đến ba tháng song có thể dao động từ dưới một tuần đến hơn một năm tùy thuộc vào quãng đường virus phải di chuyển để đến hệ thần kinh trung ương.[5]

Bệnh dại
Manwithrabies4.png
Một người đàn ông mắc bệnh dại, 1958
KhoaBệnh truyền nhiễm
Triệu chứngSốt, sợ nước, lú lẫn, tăng tiết nước bọt, ảo giác, mất ngủ, liệt, hôn mê[1][2]
Nguyên nhânVirus dại, lyssavirus dơi Úc[3]
Phòng chốngVắc-xin bệnh dại, kiểm soát động vật, globulin miễn dịch bệnh dại[1]
Điều trịĐiều trị triệu chứng
Tiên lượngHầu như 100% tử vong sau khi xuất hiện các triệu chứng[1]
Tử vong59.000 mỗi năm trên toàn thế giới[4]
Wikipedia không phải là một văn phòng y tế Phủ nhận y khoa 

Thủ phạm gây bệnh dại là các loại Lyssavirus bao gồm virus dạilyssavirus dơi Úc.[3] Căn bệnh lây lan khi động vật bị nhiễm cắn hoặc cào động vật khác hoặc con người.[1] Nước bọt từ động vật bị nhiễm cũng có thể truyền bệnh nếu tiếp xúc với mắt, miệng, hay mũi.[1] Tổng quan thì chó là động vật liên quan phổ biến nhất.[1] Hơn 99% ca dại ở các quốc gia mà chó thường nhiễm bệnh là do chó cắn.[6] Ở châu Mỹ, dơi cắn là nguồn gây nhiễm dại phổ biến nhất ở người, trong khi số ca từ chó chưa đến 5%.[1][6] Các loài gặm nhấm rất hiếm khi bị dại.[6] Bệnh chỉ có thể chẩn đoán sau khi xuất hiện triệu chứng.[1]

Các chương trình tiêm chủng và kiểm soát động vật đã làm giảm nguy cơ mắc bệnh dại từ chó ở một số vùng trên thế giới.[1] Tiêm chủng từ trước được khuyến cáo với nhóm nguy cơ cao gồm người làm việc với dơi hay người dành nhiều thời gian ở những nơi mà bệnh phổ biến.[1] Ở người bị phơi nhiễm, vắc-xin dại và đôi khi là globulin miễn dịch hiệu quả trong phòng bệnh nếu người bệnh được điều trị trước khi triệu chứng khởi phát.[1] Rửa vết cào và cắn bằng xà phòng và nước, povidon iod, hay chất tẩy trong 15 phút có thể làm giảm số lượng virus và phần nào đó ngăn được sự truyền nhiễm.[1][7] Tính đến năm 2016, chỉ 14 người qua khỏi bệnh dại sau khi khởi phát triệu chứng.[8][9][10]

Trên thế giới năm 2015, bệnh dại đã giết chết khoảng 17.400 người.[11] Hơn 95% số ca tử vong xảy ra ở châu Á, châu Phi[1] và khoảng 40% là ở trẻ dưới 15 tuổi.[12] Căn bệnh có mặt tại hơn 150 quốc gia và mọi lục địa trừ châu Nam Cực.[1] Hơn ba tỷ người đang sống ở những vùng có bệnh dại.[1] Một số nước như Úc, Nhật Bản, và hầu khắp Tây Âu, không có bệnh dại trong chó.[13][14] Nhiều đảo Thái Bình Dương cũng không tồn tại bệnh này.[14] Tổ chức Y tế Thế giới đã xếp dại thuộc nhóm các bệnh nhiệt đới bị lãng quên.[15]

Dấu hiệu và triệu chứngSửa đổi

Một bệnh nhân dại biểu hiện chứng sợ nước (Viện các bệnh Nhiệt đới và Truyền nhiễm Quốc gia, Hà Nội, Việt Nam, 28 tháng 6 năm 2007)

Thời kỳ ủ bệnh (từ khi bị nhiễm đến những triệu chứng đầu tiên) ở người thường là 1–3 tháng song đã ghi nhận trường hợp ngắn đến bốn ngày và dài đến hơn 6 năm tùy vào vị trí, mức độ nghiêm trọng của vết thương, và số lượng virus xâm nhập.[16] Các dấu hiệu và triệu chứng ban đầu của bệnh dại thường không đặc biệt như sốt và đau đầu.[16] Khi bệnh tiến triển gây viêm não và viêm màng não, dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm liệt nhẹ hoặc một phần, lo âu, mất ngủ, lú lẫn, hành xử bất thường, hoang tưởng, quấy rối, ảo giác, rồi tiến tới mê sảng và hôn mê.[5][16] Cái chết thường xảy ra sau đó 2 đến 10 ngày. Khi triệu chứng đã biểu hiện, khả năng sống sót là gần như bằng không, kể cả bệnh nhân có được chăm sóc tích cực hay không.[16][17]

Chứng sợ nước (hydrophobia) là tên gọi khác ít phổ biến hơn của bệnh dại đề cập đến loạt triệu chứng giai đoạn sau mà ở đó bệnh nhân có biểu hiện khó nuốt, tỏ ra sợ hãi khi được cho nước để uống, và không thể làm hết cơn khát.[18] Tất cả động vật có vú bị nhiễm virus đều có thể biểu hiện chứng sợ nước.[19] Lượng nước bọt sản ra tăng lên nhiều và nỗ lực hoặc thậm chí ý định, gợi ý uống nước hay nuốt nước bọt có thể gây co thắt đau đớn dữ dội ở cổ họng và thanh quản. Có thể điều này là do thực tế virus sinh sôi và tích lũy trong tuyến nước bọt của động vật bị nhiễm vì mục đích lây truyền thông qua hành vi cắn. Khả năng truyền virus sẽ giảm đi đáng kể nếu cá thể bị nhiễm có thể nuốt nước bọt và nước.[20] Chứng sợ nước thường đi với thể dại cuồng, loại chiếm 80% số ca người mắc. 20% còn lại có thể trải qua thể dại câm với đặc điểm yếu cơ, mất cảm giác, và liệt; thể này không mấy khi gây ra chứng sợ nước.[19]

Tác nhânSửa đổi

 
Ảnh 3D mô tả cấu trúc virus dại.
 
Ảnh TEM cho thấy nhiều hạt virus (nhỏ, hình que, đen xám) và tiểu thể Negri (các thể vùi tế bào bệnh lý lớn)

Tác nhân gây bệnh dại là một số loại Lyssavirus bao gồm virus dạilyssavirus dơi Úc.[3]

Virus dại là loài điển hình của chi Lyssavirus thuộc họ Rhabdoviridae, bộ Mononegavirales. Các hạt lyssavirus hoàn chỉnh (lyssavirion) có cấu trúc xoắn ốc cân đối, dài khoảng 180 nm, bề ngang khoảng 75 nm,[21] có vỏ ngoài bao bọc và một bộ gen RNA sợi đơn âm. Thông tin di truyền được gói gém dưới dạng tổ hợp ribonucleoprotein, ở đó RNA được bọc chặt bởi nucleoprotein virus. Bộ gen RNA mã hóa năm gen của virus mà trình tự của chúng rất được bảo tồn: nucleoprotein (N), phosphoprotein (P), matrix protein (M), glycoprotein (G), và RNA polymerase (L).[22]

Khi đã vào cơ thể, virus dại bắt đầu quá trình nhân bản. Các gai tam phân ở phần ngoài màng virus tương tác với một thụ thế tế bào đặc hiệu mà nhiều khả năng là acetylcholine. Màng tế bào lõm xuống trong một quá trình gọi là ẩm bào cho phép virus xâm nhập tế bào. Virus sau đó tập hợp thành những thể nội bào lớn, dung hợp màng virus với màng thể nội bào rồi giải phóng năm protein và RNA sợi đơn vào tế bào chất.[23]

Tiếp theo, protein L sao chép năm sợi mRNA và một sợi RNA dương từ sợi RNA âm gốc nhờ các nucleotide tự do trong tế bào chất. Năm sợi mRNA này được dịch mã thành các protein tương ứng (P, L, N, G, và M) tại những ribosome tự do.[23] Một số protein yêu cầu sửa đổi sau dịch mã. Ví dụ, protein G bị gập thêm khi di chuyển qua mạng lưới nội chất gồ ghề rồi bị glycosyl hóa khi tới bộ máy Golgi.

Khi đã có đủ protein virus, polymerase của virus sẽ bắt đầu tổng hợp các sợi RNA âm mới từ khuôn sợi RNA dương.[23] Các sợi RNA âm này sẽ tạo nên những tổ hợp với protein N, P, L, M rồi di chuyển tới màng trong tế bào, nơi protein G bị gắn vào. Tiếp đó protein G quấn quanh tổ hợp N-P-L-M đồng thời lấy đi một phần màng tế bào chủ tạo ra vỏ ngoài mới của hạt virus. Virus sau đó chui ra khỏi tế bào.

Từ lúc vào cơ thể, virus nhắm đến tế bào thần kinh, đi theo những con đường để đến hệ thần kinh trung ương. Virus thường nhiễm vào tế bào cơ gần điểm xâm nhập trước, ở đó chúng có thể nhân bản mà không bị hệ miễn dịch của vật chủ chú ý. Khi đã đủ số lượng, virus bắt đầu bám vào thụ thể acetylcholine tại ngã giao thần kinh cơ.[24] Virus tiếp theo nghịch chuyển qua sợi trục tế bào thần kinh khi protein P của nó tương tác với dynein, một protein có trong tế bào chất của tế bào thần kinh. Khi đã đến thân bào virus di chuyển nhanh đến hệ thần kinh trung ương, nhân bản trong nơron vận động và cuối cùng lên não.[5] Sau khi nhiễm vào não, virus lần lượt phân tán đến hệ thần kinh ngoại biênhệ thần kinh tự chủ, sau đó tới tuyến nước bọt, nơi chúng sẵn sàng để nhiễm sang vật chủ kế tiếp.[25]:317

Lây truyềnSửa đổi

 
Hai con chó mắc bệnh dại thể liệt

Mọi loài máu nóng, bao gồm con người, đều có thể bị nhiễm virus dại và khởi phát triệu chứng. Chim bị con người truyền virus dại lần đầu vào năm 1884 nhưng hầu hết những con chim bị nhiễm đều không có triệu chứng và sau đó đã bình phục.[26] Ngoài ra còn có những loài chim được biết là đã xuất hiện kháng thể dại sau khi ăn động vật có vú mắc bệnh dại.[27][28]

Virus còn thích nghi để sinh trưởng trong tế bào của động vật có xương sống máu lạnh.[29][30] Có nhiều loại động vật có thể nhiễm virus và truyền bệnh cho người. Dơi, khỉ, gấu mèo, cáo, chồn hôi, bò, sói xám, sói đồng cỏ, chó, mèo, cầy lỏn, mang đến rủi ro cao cho con người.[31][32][33]

Gấu, gia súc, macmot châu Mỹ, chồn, và những loại động vật ăn thịt khác cũng có thể làm lây nhiễm dại. Thỏ và những loại gặm nhấm nhỏ như sóc chuột, chuột nhảy, chuột lang, hamster, chuột nhắt, chuột đồng, sóc, gần như không bao giờ bị dại và không được biết là truyền dại cho người.[34] Vết cắn từ chuột hay sóc ít khi cần đề phòng vì những loại gặm nhấm này thường bị giết khi đụng độ động vật dại lớn.[35] Opossum Virginia có nhiệt độ cơ thể thấp hơn mức phù hợp cho virus dại nên đề kháng nhưng không miễn nhiễm căn bệnh.[36]

Virus thường có trong dây thần kinh và nước bọt của động vật dại biểu hiện triệu chứng.[37][38] Con đường truyền chủ yếu là qua vết cắn. Ở nhiều trường hợp, con vật dại cực kỳ hung dữ, có thể tấn công vô cớ và biểu hiện hành vi lạ thường khác.[39] Đây là ví dụ về việc virus điều chỉnh hành vi của vật chủ để tạo thuận lợi cho lây truyền sang vật chủ khác. Sau khi vào cơ thể, virus đi vào hệ thần kinh ngoại biên rồi theo dây thần kinh hướng tâm đến hệ thần kinh trung ương.[40] Thời gian này, virus không thể dễ dàng bị phát hiện trong vật chủ và vắc-xin vẫn có thể ban miễn dịch trung gian tế bào. Khi đã đến não, virus nhanh chóng gây viêm não, khởi động những triệu chứng. Khi triệu chứng đã xuất hiện, việc chữa trị gần như vô dụng và tỷ lệ tử vong là trên 99%. Bệnh dại còn có thể gây viêm tủy sống và viêm tủy ngang.[41][42]

Lây từ người sang người là cực hiếm, mới chỉ ghi nhận vài trường hợp qua phẫu thuật cấy ghép.[43][44] Mặc dù trên lý thuyết người bị dại có thể truyền bệnh cho người khác qua hành vi cắn hay gì khác nhưng thực tế chưa ghi nhận trường hợp nào như vậy vì bệnh nhân thường được đưa đi bệnh viện và có những biện pháp đề phòng cần thiết. Chạm vào người bị dại hay tiếp xúc với mô hoặc dịch không nhiễm (nước tiểu, phân, máu) không gây phơi nhiễm và không cần dự phòng sau phơi nhiễm. Tuy nhiên nếu virus có trong tinh dịch hoặc dịch tiết âm đạo, khả năng lây qua đường tình dục là có thể.[45]

Chẩn đoánSửa đổi

Cách thức tham khảo là xét nghiệm kháng thể huỳnh quang (FAT), một thủ tục hóa mô miễn dịch được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo.[46] FAT dựa vào khả năng của một phân tử dò (thường là FITC) kết hợp với kháng thể dại tạo ra liên hợp ràng buộc cho phép quan sát kháng nguyên dại nhờ kỹ thuật hiển vi huỳnh quang. Phân tích hiển vi mẫu là phương pháp trực tiếp duy nhất giúp nhận biết kháng nguyên đặc hiệu trong thời gian ngắn với chi phí thấp, bất kể nguồn gốc địa lý và tình trạng vật chủ. Đây có thể được xem là bước đầu tiên trong thủ tục chẩn đoán đối với mọi phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, các mẫu tự phân có thể làm giảm độ nhạy và độ đặc hiệu của FAT.[47] Xét nghiệm RT-PCR tỏ ra hiệu quả cho chẩn đoán thông thường,[48] nhất là những mẫu phân hủy[49] và mẫu lưu trữ.[50] Chẩn đoán mẫu não lấy từ vật chủ đã chết có thể chắc chắn. Chẩn đoán còn có thể thực hiện với nước bọt, nước tiểu, và các mẫu dịch não tủy, song không nhạy hoặc độ tin cậy thấp hơn mẫu não.[47] Các thể vùi não gọi là tiểu thể Negri là dấu hiệu 100% bệnh dại nhưng chỉ thấy ở 80% số ca.[21] Con vật gây ra vết cắn nên được khám nghiệm nếu có thể.[51]

Một số kỹ thuật hiển vi quang học cũng có thể được dùng để chẩn đoán bệnh dại với chi phí bằng một phần mười kỹ thuật hiển vi huỳnh quang truyền thống, phù hợp cho các nước kém phát triển.[52] LN34 là xét nghiệm dễ dàng thực hiện trên não động vật chết và có thể giúp xác định xem có cần dự phòng sau phơi nhiễm không.[53] Xét nghiệm này do CDC phát triển vào năm 2018.[53]

Chẩn đoán phân biệt dại nghi ngờ ở người lúc đầu có thể bao gồm mọi nguyên nhân gây viêm não, cụ thể nhiễm virus như herpesvirus, enterovirus, và arbovirus như virus Tây sông Nile. Virus quan trọng nhất cần loại trừ là herpes đơn dạng loại một, varicella zoster, enterovirus bao gồm coxsackievirus, echovirus, poliovirus, và enterovirus 68 đến 71.[54]

Các nguyên nhân mới gây viêm não do virus cũng có thể, như đợt bùng phát 300 ca viêm não ở Malaysia năm 1999 có tỷ lệ tử vong 40% do virus Nipah, một paramyxovirus mới được công nhận.[55] Tương tự, virus đã biết có thể xuất hiện ở địa bàn mới, như đợt viêm não do virus Tây sông Nile ở miền đông Hoa Kỳ.[56] Yếu tố dịch tễ như mùa, vị trí địa lý, tuổi bệnh nhân, lịch sử du lịch, khả năng phơi nhiễm, có thể hữu ích trong quá trình chẩn đoán.

Phòng ngừaSửa đổi

Gần như mọi ca dại ở người đều dẫn đến tử vong cho đến khi Louis PasteurÉmile Roux tìm ra vắc-xin vào năm 1885. Vắc-xin ban đầu thu từ thỏ bệnh, ở đó virus trong mô thần kinh bị làm yếu bằng cách để khô 5 đến 10 ngày.[57] Những vắc-xin có nguồn gốc từ mô thần kinh tương tự hiện vẫn được dùng ở một số nước do chi phí rẻ hơn nhiều vắc-xin nuôi cấy tế bào hiện đại.[58]

Vắc-xin dại tế bào lưỡng bội người được khởi động năm 1967. Vắc-xin tế bào phôi gà và vắc-xin tế bào vero tinh khiết rẻ hơn hiện sẵn có.[51] Một vắc-xin tái tổ hợp gọi là V-RG được dùng ở Bỉ, Pháp, Đức, Mỹ để ngăn bệnh dại bùng phát trong động vật không thuần hóa.[59] Chủng ngừa tiền phơi nhiễm được áp dụng cả ở người và động vật trong những hoàn cảnh được cho là cần thiết.[60]

 
Một bé gái bị động vật nghi dại cắn chuẩn bị được dự phòng sau phơi nhiễm

Các hành động sau có thể giúp làm giảm nguy cơ mắc dại:[61]

  • Tiêm phòng dại cho chó, mèo
  • Luôn giám sát vật nuôi, không thả rông
  • Tránh xa động vật hoang dã hoặc đi lạc
  • Liên hệ cục quản lý động vật khi thấy thú hoang hay đi lạc, nhất là nếu con vật hành xử kỳ lạ
  • Nếu bị động vật cắn, rửa vết thương bằng xà phòng và nước trong 10–15 phút rồi đi gặp bác sĩ để xác định có cần dự phòng sau phơi nhiễm không.

Ở châu Á và một phần châu Mỹ, châu Phi, chó vẫn là vật chủ chính. Tiêm phòng bắt buộc động vật ít hiệu quả ở vùng nông thôn. Ở các nước đang phát triển, chó hay được thả rông và người dân không chấp nhận tiêu hủy chúng. Vắc-xin đường miệng có thể được phân phát an toàn trong mồi, cách làm đã giảm trừ bệnh dại thành công ở những vùng nông thôn của Canada, Pháp, Mỹ. Bởi lẽ, các chiến dịch vắc-xin có thể gây tốn kém và dùng mồi là phương pháp hiệu quả chi phí.[62] Ở Ontario, bệnh dại được ghi nhận giảm mạnh khi một chiến dịch thả mồi chứa vắc-xin từ trên không được phát động.[63]

Số người tử vong do bệnh dại ở Mỹ đã giảm từ 100 hoặc hơn mỗi năm hồi đầu thế kỷ 20 xuống một hoặc hai hiện tại nhờ tiêm phòng chó mèo diện rộng và sự phát triển của phương pháp điều trị globulin miễn dịch cũng như vắc-xin ở người. Hầu hết ca tử vong hiện giờ có nguyên nhân do dơi cắn, điều có thể khiến nạn nhân không chú ý và do đó không điều trị.[64]

Điều trịSửa đổi

Sau phơi nhiễmSửa đổi

Rửa kỹ vết thương càng sớm càng tốt bằng xà phòng và nước trong năm phút có tác dụng làm giảm số hạt virus.[65] Tiếp theo, khuyến cáo nên dùng povidon-iod hoặc cồn nhằm làm giảm thêm lượng virus.[66] Không làm dập nát thêm vết thương hoặc làm tổn thương rộng hơn, tránh khâu kín ngay vết thương. Nếu bắt buộc phải khâu thì nên trì hoãn khâu vết thương sau vài giờ đến ba ngày và nên khâu ngắt quãng/bỏ mũi sau khi đã tiêm huyết thanh kháng dại vào tất cả các vết thương. Tùy trường hợp cụ thể có thể sử dụng kháng sinh và tiêm phòng uốn ván.

Điều trị sau phơi nhiễm có thể ngăn ngừa bệnh nếu thực hiện kịp thời, nhìn chung là trong vòng 10 ngày từ lúc nhiễm. Vắc-xin dại hiệu quả 100% nếu áp dụng sớm và vẫn có cơ hội thành công trong trường hợp chậm trễ.[21][67][68] Mỗi năm có hơn 15 triệu người được chủng ngừa sau khi nghi nhiễm virus. Công tác chữa trị tuy hiệu quả song chi phí là đáng kể.[69] Ở Mỹ, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật (CDC) khuyên người dân nên nhận một liều globulin miễn dịch (hay huyết thanh kháng, HRIG) và bốn liều vắc-xin trong 14 ngày.[70] HRIG đắt và chiếm phần lớn chi phí điều trị sau phơi nhiễm (lên đến vài ngàn đô-la).[71] Liều này nên được tiêm nhiều nhất quanh vết cắn, phần còn lại tiêm sâu vào bắp cách xa nơi tiêm vắc-xin.[67]

Người mà trước đó đã từng được nhận vắc-xin không cần dùng đến globulin miễn dịch, chỉ cần dùng vắc-xin sau phơi nhiễm vào ngày 0 và 3.[72] Tác dụng phụ của vắc-xin tế bào hiện đại giống vắc-xin cúm. Vắc-xin mô thần kinh cũ đòi hỏi tiêm nhiều lần vào bụng với mũi kim lớn ít tốn kém[51] song dần ít dùng và bị thay thế bởi chế độ vắc-xin trong da cũng ít tốn kém của Tổ chức Y tế Thế giới.[51] Tiêm bắp thì nên tiêm vào cơ delta, không tiêm cơ mông vì vắc-xin có thể không tác dụng do mũi tiêm đi vào mỡ chứ không vào cơ. Với trẻ sơ sinh, khuyến cáo là nên tiêm ở vị trí đùi bên.[73]

Sau phát bệnhSửa đổi

Một phương pháp điều trị gọi là giao thức Milwaukee, bao gồm việc làm cho người bệnh hôn mê và dùng thuốc chống virus từng được đề xuất nhưng về sau bị phát hiện là không có tác dụng.[74] Con người lần đầu đưa phương pháp này vào sử dụng năm 2003 sau khi Jeanna Giese, một thiếu niên từ Wisconsin, trở thành người đầu tiên được biết qua khỏi bệnh dại mà không nhận điều trị dự phòng trước khi triệu chứng khởi phát.[75][76] Tuy nhiên lúc tới bệnh viện Giese đã có sẵn kháng thể chống bệnh dại trong người.[77] Cách chữa này đã được thử nghiệm thêm nhiều lần nhưng không lần nào thành công.[74] Kể từ đó nó được đánh giá là không hiệu quả đi kèm với vấn đề chi phí và đạo đức.[74][78]

Tiên lượngSửa đổi

Với người không dùng vắc-xin, bệnh dại gần như luôn gây tử vong sau khi triệu chứng thần kinh biểu hiện.[79] Sử dụng vắc-xin sau phơi nhiễm (PEP) rất thành công trong ngừa bệnh nếu thực hiện phù hợp.[68]

Dịch tễSửa đổi

 
Số ca tử vong vì bệnh dại mỗi triệu người năm 2012
  0
  1
  2–4
  5–9
  10–17
  18–69
 
Bản đồ các quốc gia và lãnh thổ không có bệnh dại (màu xanh).

Trong năm 2010 trên thế giới ước tính có khoảng 26.000 người tử vong vì bệnh dại, giảm từ 54.000 năm 1990.[80] Đa số ca tử vong xảy ra ở châu Á và châu Phi.[79] Tính đến năm 2015, Ấn Độ kế đến là Trung QuốcCộng hòa Dân chủ Congo là những nước có nhiều ca nhất.[81] Vào năm 2015 Tổ chức Y tế Thế giới, Tổ chức Sức khỏe Động vật Thế giới, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc, và Liên minh Kiểm soát Bệnh dại Toàn cầu đã hợp tác vì mục tiêu đến năm 2030 không còn ca tử vong vì bệnh dại.[82]

Ấn ĐộSửa đổi

Ấn Độ là nước có tỷ lệ người mắc bệnh dại cao nhất thế giới, chủ yếu vì chó đi lạc[83] với số lượng gia tăng nhiều kể từ đạo luật cấm giết chó năm 2001.[84] Công tác kiểm soát và điều trị bệnh dại một cách hiệu quả ở Ấn Độ bị cản trở bởi một kiểu điên loạn đám đông gọi là hội chứng mang thai chó con. Người bị hội chứng này, cả nam lẫn nữ, mà bị chó cắn sẽ tin rằng chó con đang lớn lên trong người họ và thường đi tìm sự trợ giúp từ những người chữa bệnh bằng niềm tin thay vì dịch vụ y tế.[85] Ước tính mỗi năm ở Ấn Độ có 20.000 người chết vì bệnh dại, chiếm hơn một phần ba tổng số toàn cầu.[84]

ÚcSửa đổi

Mặc dù trạng thái chính thức là nước không có bệnh dại,[86] lyssavirus dơi Úc (ABLV) được phát hiện năm 1996 là chủng virus dại thịnh hành trong quần thể dơi bản địa. Tính đến nay đã ghi nhận ba ca người nhiễm ABLV ở Úc và tất cả đều tử vong.

MỹSửa đổi

Tại Mỹ, trong khi bệnh dại ở người có nguyên nhân từ chó đã được loại bỏ, mỗi năm lại có khoảng một trăm con chó bị nhiễm bệnh từ loài hoang dã khác.[87][88] Dơi, gấu mèo, chồn hôi, và cáo là vật chủ mang virus ở hầu hết các ca báo cáo (98% năm 2009). Dơi dại được tìm thấy ở tất cả 48 bang tiếp giáp. Những ổ chứa khác bị hạn chế hơn về mặt địa lý, ví dụ người ta chỉ tìm thấy biến thể virus dại gấu mèo ở một dải đất tương đối hẹp dọc Đông Duyên hải.

Do nhận thức công chúng cao về virus, nỗ lực chủng ngừa cho động vật nuôi, việc hạn chế quần thể hoang dã, và tính sẵn có của dự phòng sau phơi nhiễm, trường hợp người mắc dại ở Mỹ là rất hiếm. Giai đoạn 1960–2018, nước Mỹ ghi nhận tổng cộng 125 ca bệnh dại ở người, 36 (28%) trong đó được cho là do bị chó cắn trong lúc du lịch quốc tế.[89] Trong số 89 ca nhiễm ở lãnh thổ Mỹ, 62 (70%) có nguồn gốc từ dơi.[89]

MexicoSửa đổi

Vào năm 2019, Mexico được Tổ chức Y tế Thế giới chứng nhận là không có bệnh dại lây truyền từ chó sang người vì không có trường hợp lây truyền nào được ghi nhận trong vòng 2 năm.[90]

Châu ÂuSửa đổi

Hàng năm không có hoặc có rất ít ca bệnh dại được báo cáo ở châu Âu. Những người bị mắc bệnh có thể mắc trong thời gian du lịch ở nơi khác và tại châu Âu.[91]

Ở Thụy Sĩ căn bệnh hầu như bị xóa sổ sau khi các nhà khoa học đặt đầu gà tẩm vắc-xin sống đã làm yếu ở vùng Alps Thụy Sĩ.[63] Cáo Thụy Sĩ, nguồn dại chính ở nước này, ăn đầu gà và có được sự miễn dịch.[63][92]

Ý sau khi tuyên bố không còn bệnh dại từ 1997 đến 2008 đã chứng kiến căn bệnh quay trở lại trong động vật hoang dã ở Triveneto (Trentino-Alto Adige/Südtirol, Veneto và Friuli-Venezia Giulia) do sự lây lan của một đợt dịch ở Balkan mà cũng tác động đến Áo. Một chiến dịch chủng ngừa động vật hoang dã diện rộng đã một lần nữa diệt trừ virus khỏi Ý và nước này lại đạt trạng thái không bệnh dại vào năm 2013. Ca dại cuối cùng được báo cáo là ở một con cáo đỏ hồi đầu năm 2011.[93][94]

Anh đã không còn bệnh dại từ đầu thế kỷ 20 ngoại trừ một virus giống dại ở một vài con dơi Daubenton. Có một ca lây truyền sang người gây tử vong. Kể từ năm 2000 ghi nhận bốn ca tử vong do bệnh dại nhiễm từ nước ngoài bởi chó cắn. Ca nhiễm cuối cùng tại Anh xảy ra năm 1922 và ca tử vong cuối cùng do bệnh dại bản địa là vào năm 1902.[95][96] Khác với những quốc gia châu Âu khác Anh được bảo vệ bởi việc là một hòn đảo cộng thêm những thủ tục kiểm dịch nghiêm ngặt.

Việt NamSửa đổi

Tại Việt Nam, bệnh dại có mặt ở hầu hết các tỉnh thành.[97] Vào đầu thập niên 1990 mỗi năm có 350-500 ca tử vong vì bệnh dại.[97] Giai đoạn 1996-2007 nhờ tích cực tiến hành các biện pháp phòng chống nên số ca tử vong đã giảm 75%.[97] Tuy nhiên sau đó căn bệnh lại có chiều hướng gia tăng.[97] Cụ thể trong thập niên 2010, mỗi năm Việt Nam có 70-110 người mắc bệnh và tử vong.[98] Kể từ năm 1992 trung bình mỗi năm có khoảng 440.000 người phải đi tiêm phòng.[99] Chó là động vật truyền bệnh chủ yếu, chiếm 96-97%, tiếp đến là mèo 3-4%.[97] Chưa ghi nhận trường hợp người mắc dại từ động vật khác.[97] Trong khoảng 2005 đến 2014, tổn thất kinh tế do bệnh dại là hơn 719 triệu USD, chủ yếu là chi phí liên quan đến điều trị sau phơi nhiễm.[100]

Những nguyên nhân chủ yếu khiến bệnh xuất hiện trong cộng đồng bao gồm tỷ lệ tiêm phòng dại cho chó thấp, người dân thiếu kiến thức, khó tiếp cận vắc-xin hay huyết thanh kháng dại ở nhiều nơi.[101] Hầu hết trường hợp tiêm phòng là sau khi bị chó cắn và tham khảo ý kiến bác sĩ, rất ít khi bệnh được xác định qua phòng thí nghiệm.[101] Chi phí dự phòng sau phơi nhiễm tại Việt Nam ước tính từ một đến hai triệu VND, con số quá lớn đối với những cộng đồng thiểu số miền núi.[101] Theo Bộ Y tế Việt Nam thì 80% số ca tử vong vì bệnh dại xảy ra ở những địa bàn miền núi phía bắc do dân trí thấp và điều kiện y tế thiếu thốn.[101] Đa số trường hợp bị chó hay mèo cắn ở đây không đi tiêm phòng.[101] Giai đoạn 2005-2015, tỷ lệ dự phòng sau phơi nhiễm (PEP) giảm và tổng quan thì không có sự gia tăng số ca bệnh đáng kể.[101] Một nghiên cứu khác chỉ ra mặc dù PEP sẵn có ở nhiều nơi song tỷ lệ hoàn thành là thấp, hay nói cách khác người nghi mắc bệnh thường bỏ dở tiến trình tiêm vắc-xin.[99]

Virus dại ở Việt Nam và Thái Lan có quan hệ gần gũi và khả năng khởi nguồn từ một tổ tiên chung.[102]

Lịch sửSửa đổi

 
Một bức khắc gỗ từ thời Trung Cổ có hình ảnh một con chó dại.

Con người đã biết đến bệnh dại từ khoảng năm 2000 trước Công Nguyên.[103] Tài liệu chữ viết đầu tiên về bệnh dại là Bộ luật Eshnunna của Lưỡng Hà (khoảng 1930 TCN) trong đó ra lệnh cho chủ sở hữu của chó biểu hiện triệu chứng dại cần có biện pháp ngăn ngừa chó cắn. Nếu một người khác bị chó dại cắn và chết sau đó, chủ chó sẽ bị phạt nặng.[104]

Những phương thuốc dân gian vô dụng đầy rẫy trong tài liệu y khoa của thế giới cổ đại. Bác sĩ Scribonius Largus kê đơn thuốc gồm có một mảnh vải và da linh cẩu, còn Antaeus thì đề nghị chuẩn bị đầu lâu của một người bị treo cổ.[105]

Bệnh dại xem ra có nguồn gốc ở Cựu Thế giới, đợt dịch trên động vật đầu tiên ở Tân Thế giới xảy ra ở Boston năm 1768.[106] Căn bệnh từ đó lây lan trong những năm tiếp theo đến nhiều bang khác cũng như Tây Ấn thuộc Pháp và cuối cùng trở nên phổ biến khắp Bắc Mỹ.

Con người xem bệnh dại như tai họa vì sự phổ biến của nó trong thế kỷ 19. Ở Pháp và Bỉ, nơi người ta sùng kính Thánh Hubert, chìa khóa của Thánh Hubert được nung nóng và đặt vào chỗ vết thương. Ứng dụng tư duy ma thuật, con người in dấu chìa khóa vào chó với hy vọng điều đó bảo vệ chúng khỏi bệnh dại. Nỗi sợ bệnh dại quá lớn đến phi lý do số lượng vật truyền (chủ yếu là chó dại) đông và việc không hề có phương pháp chữa trị hiệu quả. Chuyện một người bị chó chỉ nghi ngờ là mắc dại cắn tự sát hoặc bị người khác giết không phải là hiếm.[107]

Vào thời cổ đại phần gắn lưỡi (hãm lưỡi, một màng nhầy) bị cắt và loại bỏ vì người ta nghĩ đó là khởi nguồn của bệnh dại. Hành vi này chấm dứt khi nguyên nhân gây bệnh thực sự được phát hiện.[25] Vắc-xin mô thần kinh 1885 của Louis Pasteur đã thành công và dần dần được cải thiện nhằm làm giảm những tác dụng phụ nghiêm trọng.[16]

Cho đến thời hiện đại, nỗi sợ bệnh dại vẫn không biến mất và căn bệnh cùng những triệu chứng của nó (nhất là kích động) như một nguồn cảm hứng cho một số tác phẩm về xác sống hay hư cấu cùng đề tài, thường miêu tả virus dại là đã đột biến thành một virus mạnh hơn gây bệnh không thể chữa hoặc biến con người thành cuồng sát, mang đến một đại dịch tàn phá rộng khắp.[108]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s “Rabies Fact Sheet N°99”. World Health Organization. tháng 7 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2014.
  2. ^ “Rabies - Symptoms and causes”. Mayo Clinic (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2018.
  3. ^ a b c “Rabies, Australian bat lyssavirus and other lyssaviruses”. The Department of Health. tháng 12 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2014.
  4. ^ “Rabies”. CDC (bằng tiếng Anh). 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2021.
  5. ^ a b c Cotran RS, Kumar V, Fausto N (2005). Robbins and Cotran Pathologic Basis of Disease (ấn bản 7). Elsevier/Saunders. tr. 1375. ISBN 978-0-7216-0187-8.
  6. ^ a b c Tintinalli JE (2010). Emergency Medicine: A Comprehensive Study Guide (Emergency Medicine (Tintinalli)). McGraw-Hill. tr. Chapter 152. ISBN 978-0-07-148480-0.
  7. ^ Wunner WH (2010). Rabies: Scientific Basis of the Disease and Its Management. Academic Press. tr. 556. ISBN 9780080550091.
  8. ^ Hemachudha T, Ugolini G, Wacharapluesadee S, Sungkarat W, Shuangshoti S, Laothamatas J (tháng 5 năm 2013). “Human rabies: neuropathogenesis, diagnosis, and management”. The Lancet. Neurology. 12 (5): 498–513. doi:10.1016/s1474-4422(13)70038-3. PMID 23602163. S2CID 1798889.
  9. ^ “UC Davis Children's Hospital patient becomes third person in U.S. to survive rabies”. UC Davis Medical Center. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2012.
  10. ^ Manoj S, Mukherjee A, Johri S, Kumar KV (2016). “Recovery from rabies, a universally fatal disease”. Military Medical Research. 3 (1): 21. doi:10.1186/s40779-016-0089-y. PMC 4947331. PMID 27429788.
  11. ^ Wang H, Naghavi M, Allen C, Barber RM, Bhutta ZA, Carter A, và đồng nghiệp (GBD 2015 Mortality and Causes of Death Collaborators) (tháng 10 năm 2016). “Global, regional, and national life expectancy, all-cause mortality, and cause-specific mortality for 249 causes of death, 1980-2015: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2015”. Lancet. 388 (10053): 1459–1544. doi:10.1016/s0140-6736(16)31012-1. PMC 5388903. PMID 27733281.
  12. ^ “Rabies: The Facts” (PDF). World Health Organization. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2017.
  13. ^ WHO Expert Consultation on Rabies : second report (PDF) (ấn bản 2). Geneva: WHO. 2013. tr. 3. ISBN 9789241209823. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2014.
  14. ^ a b “Rabies-Free Countries and Political Units”. CDC. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2019.
  15. ^ “Neglected Tropical Diseases”. cdc.gov. 6 tháng 6 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2014.
  16. ^ a b c d e Giesen A, Gniel D, Malerczyk C (tháng 3 năm 2015). “30 Years of rabies vaccination with Rabipur: a summary of clinical data and global experience”. Expert Review of Vaccines (Review). 14 (3): 351–67. doi:10.1586/14760584.2015.1011134. PMID 25683583.
  17. ^ Rupprecht CE, Willoughby R, Slate D (tháng 12 năm 2006). “Current and future trends in the prevention, treatment and control of rabies”. Expert Review of Anti-Infective Therapy. 4 (6): 1021–38. doi:10.1586/14787210.4.6.1021. PMID 17181418. S2CID 36979186.
  18. ^ Cliff AD, Haggett P, Smallman-Raynor M (2004). World atlas of epidemic diseases. London: Arnold. tr. 51. ISBN 9780340761717.
  19. ^ a b “Symptoms of rabies”. NHS.uk. 12 tháng 6 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2014.
  20. ^ “Rabies”. AnimalsWeCare.com. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2014.
  21. ^ a b c Drew WL (2004). “Chapter 41: Rabies”. Trong Ryan KJ, Ray CG (biên tập). Sherris Medical Microbiology (ấn bản 4). McGraw Hill. tr. 597–600. ISBN 978-0-8385-8529-0.
  22. ^ Finke S, Conzelmann KK (tháng 8 năm 2005). “Replication strategies of rabies virus”. Virus Research. 111 (2): 120–31. doi:10.1016/j.virusres.2005.04.004. PMID 15885837.
  23. ^ a b c “What is Rabies?”. cdc.gov. 30 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2021.
  24. ^ Gluska S, Zahavi EE, Chein M, Gradus T, Bauer A, Finke S, Perlson E (tháng 8 năm 2014). “Rabies Virus Hijacks and accelerates the p75NTR retrograde axonal transport machinery”. PLOS Pathogens. 10 (8): e1004348. doi:10.1371/journal.ppat.1004348. PMC 4148448. PMID 25165859.
  25. ^ a b Baer G (1991). The Natural History of Rabies. CRC Press. ISBN 9780849367601. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2011.
  26. ^ Shannon LM, Poulton JL, Emmons RW, Woodie JD, Fowler ME (tháng 4 năm 1988). “Serological survey for rabies antibodies in raptors from California”. Journal of Wildlife Diseases. 24 (2): 264–7. doi:10.7589/0090-3558-24.2.264. PMID 3286906.
  27. ^ Gough PM, Jorgenson RD (tháng 7 năm 1976). “Rabies antibodies in sera of wild birds”. Journal of Wildlife Diseases. 12 (3): 392–5. doi:10.7589/0090-3558-12.3.392. PMID 16498885.
  28. ^ Jorgenson RD, Gough PM, Graham DL (tháng 7 năm 1976). “Experimental rabies in a great horned owl”. Journal of Wildlife Diseases. 12 (3): 444–7. doi:10.7589/0090-3558-12.3.444. PMID 16498892. S2CID 11374356.
  29. ^ Wong D. “Rabies”. Wong's Virology. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2009.
  30. ^ Campbell JB, Charlton K (1988). Developments in Veterinary Virology: Rabies. Springer. tr. 48. ISBN 978-0-89838-390-4.
  31. ^ Pawan JL (1959). “The transmission of paralytic rabies in Trinidad by the vampire bat (Desmodus rotundus murinus Wagner”. Caribbean Medical Journal. 21: 110–36. PMID 13858519.
  32. ^ Pawan JL (1959). “Rabies in the vampire bat of Trinidad, with special reference to the clinical course and the latency of infection”. Caribbean Medical Journal. 21: 137–56. PMID 14431118.
  33. ^ Taylor PJ (tháng 12 năm 1993). “A systematic and population genetic approach to the rabies problem in the yellow mongoose (Cynictis penicillata)”. The Onderstepoort Journal of Veterinary Research. 60 (4): 379–87. PMID 7777324.
  34. ^ “Rabies. Other Wild Animals: Terrestrial carnivores: raccoons, skunks and foxes”. Centers for Disease Control and Prevention(CDC). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2010.
  35. ^ Anderson J, Frey R (2006). “Rabies”. Trong Fundukian LJ (biên tập). Gale Encyclopedia of Medicine (ấn bản 3).
  36. ^ McRuer DL, Jones KD (tháng 5 năm 2009). “Behavioral and nutritional aspects of the Virginian opossum (Didelphis virginiana)”. The Veterinary Clinics of North America. Exotic Animal Practice. 12 (2): 217–36, viii. doi:10.1016/j.cvex.2009.01.007. PMID 19341950.
  37. ^ The Merck Manual (ấn bản 11). 1983. tr. 183.
  38. ^ The Merck manual of Medical Information . 2003. tr. 484.
  39. ^ Turton J (2000). “Rabies: a killer disease”. National Department of Agriculture. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2006.
  40. ^ Jackson AC, Wunner WH (2002). Rabies. Academic Press. tr. 290. ISBN 978-0-12-379077-4. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2014.
  41. ^ Lynn DJ, Newton HB, Rae-Grant AD (2012). The 5-Minute Neurology Consult. Lippincott Williams & Wilkins. tr. 414–. ISBN 978-1-4511-0012-9.
  42. ^ Davis LE, King MK, Schultz JL (15 tháng 6 năm 2005). Fundamentals of neurologic disease. Demos Medical Publishing. tr. 73. ISBN 978-1-888799-84-2. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2014.
  43. ^ Srinivasan A, Burton EC, Kuehnert MJ, Rupprecht C, Sutker WL, Ksiazek TG, và đồng nghiệp (tháng 3 năm 2005). “Transmission of rabies virus from an organ donor to four transplant recipients”. The New England Journal of Medicine. 352 (11): 1103–11. doi:10.1056/NEJMoa043018. PMID 15784663.
  44. ^ “Human Rabies Prevention --- United States, 2008 Recommendations of the Advisory Committee on Immunization Practices”. Centers for Disease Control and Prevention. 23 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2020.
  45. ^ RabiesAlliance.org Lưu trữ 24 tháng 9 2016 tại Wayback Machine
  46. ^ Dean DJ, Abelseth MK (1973). “Ch. 6: The fluorescent antibody test”. Trong Kaplan MM, Koprowski H (biên tập). Laboratory techniques in rabies. Monograph series. 23 (ấn bản 3). World Health Organization. tr. 73.
  47. ^ a b Fooks AR, Johnson N, Freuling CM, Wakeley PR, Banyard AC, McElhinney LM, và đồng nghiệp (tháng 9 năm 2009). “Emerging technologies for the detection of rabies virus: challenges and hopes in the 21st century”. PLOS Neglected Tropical Diseases. 3 (9): e530. doi:10.1371/journal.pntd.0000530. PMC 2745658. PMID 19787037.
  48. ^ Tordo N, Bourhy H, Sacramento D (1994). “Ch. 10: PCR technology for lyssavirus diagnosis”. Trong Clewley JP (biên tập). The Polymerase Chain Reaction (PCR) for Human Viral Diagnosis. CRC Press. tr. 125–145. ISBN 978-0-8493-4833-4.
  49. ^ David D, Yakobson B, Rotenberg D, Dveres N, Davidson I, Stram Y (tháng 6 năm 2002). “Rabies virus detection by RT-PCR in decomposed naturally infected brains”. Veterinary Microbiology. 87 (2): 111–8. doi:10.1016/s0378-1135(02)00041-x. PMID 12034539.
  50. ^ Biswal M, Ratho R, Mishra B (tháng 9 năm 2007). “Usefulness of reverse transcriptase-polymerase chain reaction for detection of rabies RNA in archival samples”. Japanese Journal of Infectious Diseases. 60 (5): 298–9. PMID 17881871.
  51. ^ a b c d Ly S, Buchy P, Heng NY, Ong S, Chhor N, Bourhy H, Vong S (tháng 9 năm 2009). Carabin H (biên tập). “Rabies situation in Cambodia”. PLOS Neglected Tropical Diseases. 3 (9): e511. doi:10.1371/journal.pntd.0000511. PMC 2731168. PMID 19907631. e511.
  52. ^ Dürr S, Naïssengar S, Mindekem R, Diguimbye C, Niezgoda M, Kuzmin I, và đồng nghiệp (tháng 3 năm 2008). Cleaveland S (biên tập). “Rabies diagnosis for developing countries”. PLOS Neglected Tropical Diseases. 2 (3): e206. doi:10.1371/journal.pntd.0000206. PMC 2268742. PMID 18365035. e206.
  53. ^ a b “New Rapid Rabies Test Could Revolutionize Testing and Treatment | CDC Online Newsroom | CDC”. www.cdc.gov (bằng tiếng Anh). 16 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2018.
  54. ^ “Rabies: Differential Diagnoses & Workup”. eMedicine Infectious Diseases. 3 tháng 10 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2010.
  55. ^ Taylor DH, Straw BE, Zimmerman JL, D'Allaire S (2006). Diseases of swine. Oxford: Blackwell. tr. 463–5. ISBN 978-0-8138-1703-3. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2010.
  56. ^ Minagar A, Alexander JS (2005). Inflammatory Disorders Of The Nervous System: Pathogenesis, Immunology, and Clinical Management. Humana Press. ISBN 978-1-58829-424-1.
  57. ^ Geison GL (tháng 4 năm 1978). “Pasteur's work on rabies: reexamining the ethical issues”. The Hastings Center Report. 8 (2): 26–33. doi:10.2307/3560403. JSTOR 3560403. PMID 348641.
  58. ^ Srivastava AK, Sardana V, Prasad K, Behari M (tháng 3 năm 2004). “Diagnostic dilemma in flaccid paralysis following anti-rabies vaccine”. Neurology India. 52 (1): 132–3. PMID 15069272. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2009.
  59. ^ Reece JF, Chawla SK (tháng 9 năm 2006). “Control of rabies in Jaipur, India, by the sterilisation and vaccination of neighbourhood dogs”. The Veterinary Record. 159 (12): 379–83. doi:10.1136/vr.159.12.379. PMID 16980523. S2CID 5959305.
  60. ^ “Compendium of Animal Rabies Prevention and Control” (PDF). National Association of State Public Health Veterinarians. 31 tháng 12 năm 2007. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010.
  61. ^ 2007 Annual Report (PDF) (Bản báo cáo). Bureau of Communicable Disease Control and Prevention. 2007.
  62. ^ Meltzer MI (October–December 1996). “Assessing the costs and benefits of an oral vaccine for raccoon rabies: a possible model”. Emerging Infectious Diseases. 2 (4): 343–9. doi:10.3201/eid0204.960411. PMC 2639934. PMID 8969251.
  63. ^ a b c Grambo RL (1995). The World of the Fox. Vancouver: Greystone Books. tr. 94–5. ISBN 978-0-87156-377-4.
  64. ^ “Rabies in the U.S.”. Centers for Disease Control and Prevention (CDC). 22 tháng 4 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2011.
  65. ^ “Rabies & Australian bat lyssavirus information sheet”. Health.vic.gov.au. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2012.
  66. ^ National Center for Disease Control (2014). “National Guidelines on Rabies Prophylaxis” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2014.
  67. ^ a b “Rabies Post-Exposure Prophylaxis”. Centers for Disease Control and Prevention (CDC). 23 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2010.
  68. ^ a b Lite J (8 tháng 10 năm 2008). “Medical Mystery: Only One Person Has Survived Rabies without Vaccine—But How?”. Scientific American. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2010.
  69. ^ “Human rabies: better coordination and emerging technology to improve access to vaccines”. World Health Organization (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2017.
  70. ^ "Use of a Reduced (4-Dose) Vaccine Schedule for Postexposure Prophylaxis to Prevent Human Rabies" Lưu trữ 25 tháng 7 2011 tại Wayback Machine Centers for Disease Control and Prevention (CDC)
  71. ^ “Cost of Rabies Prevention”. 11 tháng 6 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2016.
  72. ^ Park's textbook of Community medicine, 22nd edition, 2013, p 254.
  73. ^ “Rabies”. www.who.int. World Health Organization. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2015.
  74. ^ a b c Jackson AC (tháng 11 năm 2016). “Human Rabies: a 2016 Update”. Current Infectious Disease Reports (Review). 18 (11): 38. doi:10.1007/s11908-016-0540-y. PMID 27730539. S2CID 25702043.
  75. ^ Lite J (8 tháng 10 năm 2008). “Medical Mystery: Only One Person Has Survived Rabies without Vaccine--But How?”. Scientific American. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2008.
  76. ^ Willoughby Jr RE (tháng 4 năm 2007). “A Cure for Rabies?”. Scientific American. 256 (4): 95. Bibcode:2007SciAm.296d..88W. doi:10.1038/scientificamerican0407-88. PMID 17479635.
  77. ^ Jackson AC (tháng 7 năm 2013). “Current and future approaches to the therapy of human rabies”. Antiviral Research (Review). 99 (1): 61–67. doi:10.1016/j.antiviral.2013.01.003. PMID 23369672. S2CID 2440876.
  78. ^ Zeiler FA, Jackson AC (tháng 1 năm 2016). “Critical Appraisal of the Milwaukee Protocol for Rabies: This Failed Approach Should Be Abandoned”. The Canadian Journal of Neurological Sciences (Review). 43 (1): 44–51. doi:10.1017/cjn.2015.331. PMID 26639059.
  79. ^ a b “Rabies”. World Health Organization (WHO). tháng 9 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2011.
  80. ^ Lozano R, Naghavi M, Foreman K, Lim S, Shibuya K, Aboyans V, và đồng nghiệp (tháng 12 năm 2012). “Global and regional mortality from 235 causes of death for 20 age groups in 1990 and 2010: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2010”. Lancet. 380 (9859): 2095–128. doi:10.1016/S0140-6736(12)61728-0. hdl:10536/DRO/DU:30050819. PMID 23245604. S2CID 1541253.
  81. ^ Hampson K, Coudeville L, Lembo T, Sambo M, Kieffer A, Attlan M, và đồng nghiệp (tháng 4 năm 2015). “Estimating the global burden of endemic canine rabies”. PLOS Neglected Tropical Diseases. 9 (4): e0003709. doi:10.1371/journal.pntd.0003709. PMC 4400070. PMID 25881058.
  82. ^ “Rabies”. World Health Organization (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2017.
  83. ^ Dugan E (30 tháng 4 năm 2008). “Dead as a dodo? Why scientists fear for the future of the Asian vulture”. The Independent. London. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2008. India now has the highest rate of human rabies in the world.
  84. ^ a b Harris G (6 tháng 8 năm 2012). “Where Streets Are Thronged With Strays Baring Fangs”. New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2012.
  85. ^ Medicine challenges Indian superstition | Asia | DW.DE | 31.12.2012 Lưu trữ 31 tháng 1 2013 tại Wayback Machine
  86. ^ "Essential rabies maps" Lưu trữ 17 tháng 2 2010 tại Wayback Machine. World Health Organization (WHO).
  87. ^ “CDC – Rabies Surveillance in the U.S.: Human Rabies – Rabies”. www.cdc.gov (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2017.
  88. ^ Fox M (7 tháng 9 năm 2007). “U.S. free of canine rabies virus”. Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2017. "We don't want to misconstrue that rabies has been eliminated – dog rabies virus has been," CDC rabies expert Dr. Charles Rupprecht told Reuters in a telephone interview.
  89. ^ a b Pieracci EG, Pearson CM, Wallace RM, Blanton JD, Whitehouse ER, Ma X, và đồng nghiệp (tháng 6 năm 2019). “Vital Signs: Trends in Human Rabies Deaths and Exposures - United States, 1938-2018”. MMWR. Morbidity and Mortality Weekly Report. 68 (23): 524–528. doi:10.15585/mmwr.mm6823e1. PMC 6613553. PMID 31194721.
  90. ^ “Cómo México se convirtió en el primer país del mundo libre de rabia transmitida por perros”. BBC News. 12 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2019.
  91. ^ “SURVEILLANCE REPORT - Annual Epidemiological Report for 2015 - Rabies, ECDC (European Centre for Disease Prevention and Control)” (PDF). Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2018.
  92. ^ “Switzerland ended rabies epidemic by air dropping vaccinated chicken heads from helicopters / thefactsource.com”. 20 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2019.
  93. ^ “Rabies in Africa: The RESOLAB network”. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2016.
  94. ^ “Ministero della Salute: "Italia è indenne dalla rabbia". l'Ultimo caso nel 2011 - Quotidiano Sanità”. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2016.
  95. ^ “Rabies”. NHS. 23 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2018.
  96. ^ “Q&A: Rabies”. BBC News. 17 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2018.
  97. ^ a b c d e f “BỆNH DẠI”. vncdc.gov.vn. 24 tháng 6 năm 2016. Truy cập 19 tháng 1 năm 2021.
  98. ^ “Bệnh dại: Hợp tác và Tiêm chủng để Chấm dứt bệnh dại”. who.int. 27 tháng 9 năm 2020. Truy cập 19 tháng 1 năm 2021.
  99. ^ a b “Rabies post-exposure prophylaxis initiation and adherence among patients in Vietnam, 2014–2016”. ScienceDirect. 37: A54–A63. 3 tháng 10 năm 2019. doi:10.1016/j.vaccine.2019.01.030. PMID 30723063.
  100. ^ “Estimating the economic impact of canine rabies to Viet Nam 2005–2014”. PLoS Negl Trop Dis. 11 tháng 10 năm 2018. doi:10.1371/journal.pntd.0006866. PMC 6199002. PMID 30307947.
  101. ^ a b c d e f “Geographical and temporal patterns of rabies post exposure prophylaxis (PEP) incidence in humans in the Mekong River Delta and Southeast Central Coast regions in Vietnam from 2005 to 2015”. PLOS ONE. 10 tháng 4 năm 2018. doi:10.1371/journal.pone.0194943. PMC 5892892. PMID 29634746.
  102. ^ “Molecular Epidemiology of Rabies in Vietnam”. Microbiology and Immunology. 14 tháng 11 năm 2013. doi:10.1111/j.1348-0421.2007.tb03979.x. PMID 17895600.
  103. ^ Adamson PB (1977). “The spread of rabies into Europe and the probable origin of this disease in antiquity”. Journal of the Royal Asiatic Society of Great Britain & Ireland. Royal Asiatic Society of Great Britain and Ireland. 109 (2): 140–4. doi:10.1017/S0035869X00133829. JSTOR 25210880. PMID 11632333.
  104. ^ Dunlop RH, Williams DJ (1996). Veterinary Medicine: An Illustrated History. Mosby. ISBN 978-0-8016-3209-9.
  105. ^ Barrett AD, Stanberry LR (2009). Vaccines for Biodefense and Emerging and Neglected Diseases (bằng tiếng Anh). Academic Press. tr. 612. ISBN 9780080919027. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2016.
  106. ^ The Natural History of Rabies Lưu trữ 2 tháng 3 2016 tại Wayback Machine
  107. ^ Rotivel Y. “Introduction”. Federation of American Scientists. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2009.
  108. ^ Than K (27 tháng 10 năm 2010). "Zombie Virus" Possible via Rabies-Flu Hybrid?”. National Geographic. National Geographic. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2015.

Tài liệu tham khảoSửa đổi

  • K. de Balogh (2013), "Ngăn ngừa và phòng chống bệnh dại cấp toàn cầu", Tài liệu hội thảo Chia sẻ kinh nghiệm về phòng chống bệnh dại giữa các nước trong khu vực ASEAN, Hà Nội, ngày 13-14 tháng 5 năm 2013.
  • Bộ Y tế (2014), Quyết định số 1622/QĐ-BYT phê duyệt "Hướng dẫn giám sát, phòng chống bệnh dại trên người".
  • Bộ Y tế (2012), "Bệnh dại ở người", Dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm phổ biến, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 424-433.
  • Nguyễn Trung Cấp (2013), "Chẩn đoán và điều trị bệnh dại", Tài liệu hội nghị Xây dựng mạng lưới phòng xét nghiệm giám sát bệnh dại tại Việt Nam, Hà Nội, ngày 15-16 tháng 7 năm 2013.
  • Chính phủ (2017), Quyết định số 193/QĐ-TTg phê duyệt "Chương trình Quốc gia khống chế và tiến tới loại trừ bệnh dại giai đoạn 2017-2021".
  • Nguyễn Trần Hiển và cộng sự (2012), “Đặc điểm dịch tễ học bệnh dại trên người tại Việt Nam, 2009-2011", Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXII, số 8(135), tr 17-28.
  • Hanlon, C. A., & Childs, J. E. (2013). Chapter 3 - Epidemiology. In A. C. Jackson (Ed.), Rabies (Third Edition) (pp. 61–121). Boston: Academic Press.
  • Singh, R., et al. (2017). Rabies - epidemiology, pathogenesis, public health concerns and advances in diagnosis and control: a comprehensive review. Vet Q, 37(1), 212-251. doi:10.1080/01652176.2017.1343516

Liên kết ngoàiSửa đổi