Mở trình đơn chính

Brianne Sidonie Desaulniers (sinh ngày 1 tháng 10 năm 1989), được biết đến nhiều hơn với nghệ danh Brie Larson, là nữ diễn viên và ca sĩ người Mỹ. Brie Larson được giáo dục tại nhà ở Sacramento, bang California trước khi đi học diễn xuất tại nhà hát American Conservatory Theater.

Brie Larson
Captain Marvel trailer at the National Air and Space Museum 4 (cropped).jpg
Brie Larson năm 2018
SinhBrianne Sidonie Desaulniers
1 tháng 10, 1989 (29 tuổi)
Sacramento, California, Hoa Kỳ
Nghề nghiệp
  • Diễn viên
  • ca sĩ
Năm hoạt động1998–nay
Đối tácAlex Greenwald (2013–2019)
Sự nghiệp âm nhạc
Captain Marvel trailer at the National Air and Space Museum 4 (cropped).jpg
Thể loại
Hãng đĩa

Cô bắt đầu sự nghiệp với tư cách diễn viên nhí trong các chương trình hài kịch trên The Tonight Show with Jay Leno. Cô bắt đầu tham gia các vai phụ trong Sleepover13 Going on 30 đều trong năm 2004. Năm 2010 Larson góp mặt trong các bộ phim GreenbergScott Pilgrim vs. the World. Trên sóng truyền hình Larson vào vai Kate Gregson trong series hài của Diablo Cody mang tên United States of Tara từ 2009 tới 2011. Cô tiếp tục các vai trò diễn viên phụ trong Rampart (2011), 21 Jump Street (2012), Don Jon (2013) và The Spectacular Now (2013) trước khi đột phá với vai chính trong Short Term 12 (2013).

Vào năm 2015, cô là đồng vai chính trong Trainwreck và là nhân vật chính trong Room, bộ phim mang về cho Larson nhiều giải thưởng trong đó có Giải Oscar, Giải BAFTAGiải Quả cầu vàng.

Mục lục

Những năm đầu đờiSửa đổi

Brie Larson sinh ra tại Sacramento, California, con gái của Sylvain và Heather Desaulniers.[1] Cha mẹ cô là những người nắn khớp xương và mở một chỗ hành nghề chung.[2] Cha mẹ cô ly hôn khi cô còn nhỏ nên sau đó chuyển tới Los Angeles cùng mẹ và em gái. Cô học diễn xuất tại American Conservatory TheaterSan Francisco.[3][4][5] Trước đó cô từng được dạy học tại nhà.[6]

Ông bà nội của cô là người Canada gốc Pháp ở Manitoba. Bà nội của cô, Gabrielle Desaulniers, mất vào tháng 12 năm 2015.[7] Một trong các cụ bà bên nội đời thư tư của cô được mô tả là một phụ nữ người Métis sinh ra ở Đảo Mackinac nói trôi chảy tiếng Pháp, tiếng Anh, CreeMichif (một ngôn ngữ hỗn hợp giữa Cree và tiếng Pháp Métis).[8][9] Ngôn ngữ đầu tiên mà Larson biết là tiếng Pháp.[10]

Brie nói với tạp chí Glamour rằng cô lấy "Larson" làm nghệ danh bắt nguồn từ họ thời con gái của cụ bà người Thụy Điển của cô bởi họ của cô quá khó phát âm.[11] Cô nói trên The Tonight Show Starring Jimmy Fallon rằng nghệ danh của cô được đặt theo Kirsten Larson, một búp bê của hãng American Girl mà cô được tặng khi nhỏ.[12][13][14]

Sự nghiệpSửa đổi

Diễn viênSửa đổi

Larson lần đầu xuất hiện trong các vở hài trên The Tonight Show with Jay Leno.[15] Ngay sau đó, cô thử vai thành công với phim truyền hinh Schimmel, bộ phim không bao giờ được phát sóng do diễn viên chính Robert Schimmel bị chẩn đoán ung thư ngay trước khi bộ phim kịp bấm máy.[16] Larson sau đó thử giọng cho một show mới của The WB có tên là In Your Dreams, vào vai Emily, con gái út của nhân vật do Bob Saget đóng. Show được chọn chiếu từ 2001–02, và được đổi tên là Raising Dad. Show bị hủy sau 27 tập lên sóng. Larson cũng được tuyển vào bộ phim thử nghiệm cho Hope & Faith của ABC, nhưng cô và một số diễn viên khác không được chọn sau phim thử nghiệm không được chiếu.

 
Larson được công bố vai Captain Marvel tại San Diego Comic Con International 2016.

Vào năm 2003, cô vào vai chính cùng với nữ diễn viên Beverley Mitchell trong bộ phim Right on Track của Disney Channel. Vào tháng 7 năm 2004, cô tham gia cùng một loạt diễn viên trẻ trong phim Sleepover.[17] Cô cũng có một vai nhỏ trong 13 Going on 30.[18] Larson xuất hiện trong phim Hoot vào năm 2006, bên cạnh các nam diễn viên Logan LermanCody Linley. Cô cũng lồng tiếng cho nhân vật chim cánh cụt con trong Farce of the Penguins. Cô thể hiện vai Angie trong bộ phim truyền hình hài Remember the Daze vào năm 2007 và phim ngắn The Babysitter năm, đều được viết và đạo diễn bởi David H. Steinberg. Cô xuất hiện trong một tập của Ghost Whisperer vào tháng 1 năm 2008. Cô cũng vào vai Kate trong Tanner Hall năm 2008 do Francesca GregoriniTatiana von Fürstenberg đạo diễn. Larson thủ vai Kate Gregson trong series truyền hình trên kênh Showtime mang tên United States of Tara. Show ra mắt vào 18 tháng 1 năm 2009 và kết thúc vào 23 tháng 5 năm 2011.

Năm 2012, Larson thể hiện vai Molly trong bộ phim chuyển thể từ show truyền hình thập niên 1980 21 Jump Street, bên cạnh Jonah HillChanning Tatum. Năm 2013, đóng vai khách mời Rachel trong một tập phim Community có tên "Herstory of Dance",[19] và một năm sau trong tập "Analysis of Cork-Based Networking". Cũng trong năm 2013 cô tham gia vai chính của phim Short Term 12.[20][21] Cô vài lần tham gia làm khách mời trong The Late Late Show with Craig Ferguson từ năm 2010 tới 2013.[22]

Vào năm 2015, Larson vào vai em gái của nhân vật do Amy Schumer thể hiện trong Trainwreck. Cô cũng là nhân vật chính trong Room, bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Emma Donoghue. Phim ra mắt Liên hoan phim quốc tế Toronto và có mặt tại các phòng chiếu từ 16 tháng 10 năm 2015. Diễn xuất của Larson trong bộ phim mang về cho cô nhiều giải thưởng lớn trong đó có Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất, Giải BAFTAGiải Quả cầu vàng.

Vào năm 2016, Larson được thông báo sẽ tái hợp cùng đạo diễn Destin Daniel Cretton (trong Short Term 12) trong phim The Glass Castle..[23] Vào tháng 6 cùng năm, The Hollywood Reporter đưa tin Larson nhiều khả năng sẽ đảm nhận vai Carol Danvers / Captain Marvel trong bộ phim Captain Marvel sắp ra mắt.[24] Marvel sau đó về vai diễn của cô tại San Diego Comic-Con International.[25]

Vào năm 2017, Larson đóng vai phóng viên ảnh trong phim Kong: Skull Island cùng với Samuel L. JacksonTom Hiddleston.[26][27] It proved to be her highest-grossing release.[28] Vào tháng 3 năm 2017, Larson được chọn làm nhân vật nữ chính và đảm nhận vai trò sản xuất trong Victoria Woodhull, một sản phẩm của Amazon Studios về nữ ứng cử viên tổng thống đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ.[29]

Ca sĩSửa đổi

 
Larson năm 2010

Larson cũng đồng thời là một ca sĩ và người viết ca khúc, cho ra mắt một album vào năm 2005 và biểu diễn ở nhiều nơi trên đất Mỹ. Một album thứ hai cũng đã được hoàn thành nhưng chưa bao giờ được phát hành. Cô cũng dự định ra một EP, nhưng hoàn toàn bặt vô âm tín với công chúng. Cô khẳng định sẽ không bao giờ từ bỏ sự nghiệp ca hát nhưng chưa rõ khi nào sẽ ra bài hát mới. Lần cuối xuất hiện trước công chúng của co với tư cách một nghệ sĩ âm nhạc là vào năm 2010, khi cô biểu diễn "Black Sheep" cùng ban nhạc Metric trong Scott Pilgrim vs. the World.[30]

Niềm đam mê trở thành ca sĩ của cô bắt đầu vào năm 2003 khi cô bắt đầu quảng bá âm nhạc của mình trên trang cá nhân và bày tỏ dự định ra album. Bài hát đầu tiên được đăng tải là "Go Goodbye".[31] Bài hát này cùng với "Invisible Girl" là các bài hát giúp Larson ký hợp đồng thu âm với Casablanca Records[32] một hãng thuộc Universal Records. Cũng năm 2003, cô đăng tải một ca khúc khác, "Not a Freak" cộng thêm một video âm nhạc được bán trực tuyến.[33] Đầu năm 2004, cô phải xóa toàn bộ các bài hát trên trang web của mình do các điều khoản hợp đồng với Casablanca cũng như bắt đầu thu các ca khúc cho album đầu tay.[34]

Finally Out of P.E., album duy nhất của cô được phát hành, ra mắt vào cuối năm 2005 và bán ra 3.500 bản tại Hoa Kỳ.[35] Trước khi phát hành, hãng thu âm cho ra một DVD gồm video âm nhạc cho đĩa đơn "She Said", video quá trình thực hiện video âm nhạc và phần thể hiện của cô trên AOL Sessions. Album chủ yếu hướng tới thính giả thiếu niên thông qua việc cô biểu diễn trong Teen People's Rock in Shop Tour, lưu diễn cùng Jesse McCartney và được phát trên các đài phát thanh như Radio Disney hay Radio KOL.

Vào năm 2006, cô thu âm "Coming Around", ca khúc nhạc phim Hoot, đồng sáng tác với Jacques Brautbar và Rami Perlman. Ngày 1 tháng 3 năm 2006, Larson biểu diễn acoustic một loạt ca khúc mới của mình tại Viper Room ở Los Angeles[36] gồm "Dear Universe", "Powershift", "Stilts and the Titanic", "Superstition", bản cover "Closer to Fine" của Indigo Girls và "Falling Into History", một bài hát trong album. Trong các bài hát trên chỉ có "Stilts and the Titanic" được tới với phòng thu. Bài hát được đăng trên Myspace của Larson vào hè 2006. Ngày 22 tháng 10 năm 2008 cô thông báo trên Myspace rằng đang thu một EP 5 bài cũng như góp giọng bè trong album của Caitlin Crosby.[37]

Lĩnh vực khácSửa đổi

Larson viết và đạo diễn hai phim ngắn có tên Weighting (2011) và The Arm (2012). Cô cũng góp mặt trong vở kịch Our Town tại lễ hội sân khấu Williamstown Theatre Festival.[38] Larson ra mắt trong vai trò đạo diễn với phim hài Unicorn Store.[39]

Đời tư cá nhânSửa đổi

Larson bắt đầu hẹn hò với thành viên Alex Greenwald của ban nhạc Phantom Planet từ năm 2013.[40][41] Vào tháng 5 năm 2016, người đại diện của Larson xác nhận cô và Greenwald đã đính hôn.[42]

Vào tháng 2 năm 2016, trong bài phỏng vấn cho tạp chí Elle, Larson tiết lộ cô đã không nói chuyện với cha của mình trong hơn 10 năm.[43]

Danh sách phim tham giaSửa đổi

Điện ảnhSửa đổi

Năm Tên phim Vai Chú ý
1999 Special Delivery Thiên thần nhỏ
2003 Right on Track Courtney Enders
2004 13 Going on 30 Six Chick
2004 Sleepover Elizabeth "Liz" Daniels
2005 Madison Cô gái đua xe
2006 Hoot Beatrice "The Bear" Leep
2007 Farce of the Penguins I Need a Z-Pack Penguin Lồng tiếng
2008 Remember the Daze Angie
2008 The Babysitter Allison Phim ngắn
2009 House Broken Susan "Suzy" Decker
2009 Just Peck Emily
2009 Tanner Hall Kate
2010 Greenberg Sara
2010 Scott Pilgrim vs. the World Envy Adams
2011 Treatment Franny
2011 Weighting[44] Phim ngắn; đồng đạo diễn, đồng tác giả
2011 Smorgasbord Ciara Phim ngắn
2011 Rampart Helen
2012 21 Jump Street Molly
2012 The Trouble with Bliss Stephanie Jouseski
2012 The Arm[44] Phim ngắn; đồng đạo diễn, đồng tác giả
2013 Bitter Orange Myrtle Phim ngắn
2013 Don Jon Monica Martello
2013 Short Term 12 Grace
2013 The Spectacular Now Cassidy
2014 The Gambler Amy Phillips
2015 Digging for Fire Max
2015 Trainwreck Kim
2015 Room Joy "Ma" Newsome
2016 Free Fire Justine
2017 Kong: Skull Island Weaver
2017 The Glass Castle Jeannette Walls
2017 Unicorn Store Kit
2017 Basmati Blues Linda
2019 Đại úy Marvel (phim) Carol Danvers/Captain Marvel
2019 Avengers: Endgame Carol Danvers/Captain Marvel

Truyền hìnhSửa đổi

Năm Tên phim Vai Chú ý
1998 The Tonight Show with Jay Leno Roadkill Easy Bake Oven / Girl Scout 2 tập
1998 To Have & to Hold Lily Quinn 2 tập
1999 Touched by an Angel Rachel Tập "Into the Fire"
1999 Popular Robin Robin Tập "Fall on Your Knees"
2000 Then Came You Young Allison Tập "Then Came Aidan's Ex"
2000 Schimmel Samantha Phim điện ảnh
2001–02 Raising Dad Emily Stewart 22 tập
2003 Right on Track Courtney Enders Phim điện ảnh
2003 Hope & Faith Sydney Shanowski Phim thử nghiệm không chiếu
2008 Ghost Whisperer Krista Eisenburg Tập "Slam"
2009 The Burg Hipster Girl Tập "Change"
2009–11 United States of Tara Katherine "Kate" Gregson 36 tập
2011 The League Ashley 2 tập
2012 NTSF:SD:SUV:: Katerin Tập "The Real Bicycle Thief"
2012 Entry Level Laura Phim điện ảnh
2013 Kroll Show Cô gái ở trường đại học 2 tập
2013–14 Community Rachel 3 tập
2015 Comedy Bang! Bang! Brie Larson Tập "Brie Larson Wears a Billowy Long-Sleeve Shirt and White Saddle Shoes"
2016 Saturday Night Live Brie Larson Tập "Brie Larson/Alicia Keys"

Danh sách đĩa nhạcSửa đổi

Giải thưởng và đề cửSửa đổi

Năm Giải thưởng Hạng mục Đề cử cho Kết quả
2002 Young Artist Awards Diễn xuất xuất sắc nhất trong một series truyền hình hài
– Nữ diễn viên chính trẻ xuất sắc nhất
Raising Dad Đề cử
2005 Young Artist Awards Diễn xuất xuất sắc nhất trong phim truyện – Dàn diễn viên trẻ Sleepover Đề cử
2007 Young Artist Awards Diễn xuất xuất sắc nhất trong phim truyện
– Nữ diễn viên chính trẻ xuất sắc nhất
Hoot Đề cử
2013 Hiệp hội phê bình phim Austin Nữ diễn viên xuất sắc nhất Short Term 12[46] Đoạt giải
Diễn viên đột phá Đoạt giải
Hiệp hội phê bình phim Chicago Nữ diễn viên xuất sắc nhất Short Term 12 Đề cử
Hội phê bình phim Denver Nữ diễn viên xuất sắc nhất Short Term 12 Đề cử
Giải Gotham Nữ diễn viên xuất sắc nhất Short Term 12 Đoạt giải
Hội phê bình phim Detroit Nữ diễn viên xuất sắc nhất Short Term 12 Đoạt giải
Diễn xuất đột phá Đoạt giải
Liên hoan phim quốc tế Hamptons Diễn viên đột phá[47] Short Term 12 Đoạt giải
Liên hoan phim Maui Giải ngôi sao đang lên Không có Đoạt giải
Liên hoan phim quốc tế Locarno Nữ diễn viên xuất sắc nhất[48] Short Term 12 Đoạt giải
Hội phê bình phim San Diego Nữ diễn viên xuất sắc nhất Short Term 12 Đề cử
2014 Film Independent Spirit Awards Nữ chính xuất sắc nhất Short Term 12 Đề cử
Hội phê bình phim trực tuyến Nữ diễn viên xuất sắc nhất Short Term 12 Đề cử
Liên hoan phim quốc tế Santa Barbara Giải Virtuoso Short Term 12 Đoạt giải
2015 Giải Gotham Nữ diễn viên xuất sắc nhất Room Đề cử
BAFTA Giải ngôi sao triển vọng Brie Larson Đề cử[49]
Diễn viên nữ chính xuất sắc nhất Room Đoạt giải
Giải Oscar Nữ diễn viên xuất sắc nhất Room Đoạt giải[50]
Critics' Choice Movie Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Room Đoạt giải[51]
Giải Quả cầu vàng Nữ diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất Room Đoạt giải[52]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Sylvain Desaulniers public record truy cập 19 tháng 1 năm 2016
  2. ^ “On the Rise: Brie Larson Discusses Her Breakout Role in 'Short Term 12'. Icon vs. Icon. Ngày 19 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  3. ^ Brie Larson
  4. ^ Lewis, Tim (ngày 20 tháng 10 năm 2013). “Brie Larson interview: 'I just wanted to do weird stuff'. The Observer. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  5. ^ Miller, Michael (ngày 14 tháng 10 năm 2015). “Brie Larson: How Her Childhood Helped Inspire Her 'Emotional Marathon' Performance in Room”. People. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2015. 
  6. ^ “Brie Larson - Biography from Biogs.com”. Biogs.com. Biogs.com. Truy cập 27 tháng 1 năm 2016. 
  7. ^ Gabi Desaulniers obituary
  8. ^ The Livingston Family History – Alive and Well
  9. ^ Genealogy of Madeleine St-Onge
  10. ^ Graham, Bill (ngày 5 tháng 9 năm 2013). “Brie Larson Talks 'Short Term 12', Her First Language and the Only Film of Hers She'll Rewatch”. The Film Stage. 
  11. ^ Profile. Glamour.com. Truy cập 19 tháng 10 năm 2015.
  12. ^ The Tonight Show Starring Jimmy Fallon, ngày 10 tháng 8 năm 2015
  13. ^ Hines, Ree (ngày 25 tháng 2 năm 2016). “Brie Larson's stage-name inspiration? Her favorite American Girl doll”. Today. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2016. 
  14. ^ Palmer, Martyn (ngày 22 tháng 1 năm 2016). “Is Brie Larson the next big thing?”. Radio Times. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2016. 
  15. ^ Stern, Marlow (ngày 25 tháng 8 năm 2013). “Brie Larson On 'Short Term 12,' One of the Year's Best Films”. The Daily Beast. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2013. 
  16. ^ Aquino, Tara; Barone, Matt; Scarano, Ross (ngày 16 tháng 7 năm 2013). “Brie Larson - The 25 Best Actresses in Their 20s”. Complex. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2013. 
  17. ^ Simon, Rachel (ngày 18 tháng 10 năm 2013). 'Short Term 12's Brie Larson Was Secretly In All Of Your Favourite Movies”. Bustle. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2013. 
  18. ^ Erbland, Kate (ngày 21 tháng 8 năm 2013). “Brie Larson Is a New Breed of Reluctant Hollywood It Girl”. Film School Rejects. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2013. 
  19. ^ Viruet, Pilot (ngày 4 tháng 4 năm 2013). “Community: "Herstory Of Dance". The A.V. Club. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  20. ^ Caceda, Eden (ngày 17 tháng 12 năm 2013). “Finding A Voice”. Filmink. 
  21. ^ Weisman, Jon (ngày 9 tháng 10 năm 2013). “10 Actors to Watch: Brie Larson Breaks Out With 'Short Term 12'. Variety. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  22. ^ “Former Child Actress Brie Larson at 'Late Late Show with Craig Ferguson”. 
  23. ^ “Naomi Watts in Talks to Join Brie Larson in Drama 'Glass Castle' (Exclusive)”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2016. 
  24. ^ "Brie Larson Circling 'Captain Marvel' Superhero Movie", The Hollywood Reporter, 1.6.2016.
  25. ^ Goldfarb, By Andrew. “Comic-Con 2016: Brie Larson Confirmed as Captain Marvel”. IGN. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2016. 
  26. ^ Barton, Steve. (6 tháng 8 năm 2015) Samuel L. Jackson and Tom Wilkinson to Beat Off Kong?. Dreadcentral.com. Truy cập 19.1.2016.
  27. ^ “Why Vietnam was the perfect location for Kong: Skull Island”. Channel NewsAsia. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2017. 
  28. ^ “Brie Larson”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2017. 
  29. ^ “Brie Larson To Play First Female White House Candidate Victoria Woodhull In Amazon Film”. Deadline Hollywood. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2017. 
  30. ^ Topel, Fred (ngày 8 tháng 8 năm 2010). “Brandon Routh on Scott Pilgrim”. CraveOnline. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  31. ^ Brie's Tunes. 8/8/2003. Bản gốc. Truy cập 9/11/2010.
  32. ^ Brie Larson > Profile. American Music Channel. Truy cập 9/11/2010.
  33. ^ Brie filmed her first music video for the single. 8 tháng 10 năm 2003. Lưu trữ từ bản gốc. Truy cập 9 tháng 11 năm 2010.
  34. ^ Official Website. 2 tháng 6 năm 2004. Lưu trữ từ bản gốc. Truy cập 9 tháng 11 năm 2010.
  35. ^ Friedman, Roger. "Mariah's Up, So Where's Tommy?". Fox News. 4/1/2006. Truy cập 9/11/2010.
  36. ^ “Daily News - Tommy2.net”. Tommy2.net. Truy cập 12 tháng 11 năm 2015. 
  37. ^ Brie Larson/Myspace
  38. ^ Our Town Williamstown Theatre Festival
  39. ^ Sharf, Zack (8 tháng 8 năm 2016). “Brie Larson Sets Directorial Debut With Indie Comedy ‘Unicorn Store’”. IndieWire. 
  40. ^ Petersen, Anne Helen (ngày 16 tháng 10 năm 2015). “Brie Larson is Ready”. BuzzFeed. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2015. 
  41. ^ Vineyard, Jennifer (ngày 3 tháng 12 năm 2013). “Jared Leto Accepts Matthew McConaughey's Gotham Award, and Other Highlights From the Show”. Vulture. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2015. 
  42. ^ Kimble, Lindsay (9 tháng 5 năm 2016). “Brie Larson Engaged to Alex Greenwald”. . People.com. Truy cập 9 tháng 5 năm 2016.
  43. ^ Weisner, Talia (ngày 9 tháng 2 năm 2016). “Brie Larson Hasn't Spoken to Her Father in 10 Years”. EOnline.com. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2016. 
  44. ^ a ă Brie Larson también dirige (tiếng Tây Ban Nha)
  45. ^ Brie Larson. AllMusic. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2012.
  46. ^ “‘Her’ Tops Austin Film Critics Association 2013 Awards”. AFCA. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2009. 
  47. ^ “Brie Larson In Talks To Join Mark Wahlberg In Rupert Wyatt's The Gambler Remake”. Cinemablend. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2015. 
  48. ^ “Brie Larson Takes Best Actress At Locarno Film Festival”. Deadline. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2015. 
  49. ^ Pond, Steve (ngày 14 tháng 2 năm 2016). The Revenant Wins Top Awards at BAFTA”. TheWrap. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2016. 
  50. ^ “Brie Larson: Actress in a Leading Role”. The Oscars. Ngày 29 tháng 1 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2016. 
  51. ^ Donnelly, Matt; Pond, Steve (ngày 16 tháng 1 năm 2016). Spotlight, Leonardo DiCaprio, Brie Larson Top Critics' Choice Award Winners”. TheWrap. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2016. 
  52. ^ Konerman, Jennifer (ngày 10 tháng 1 năm 2016). “Golden Globes: Brie Larson Wins Best Actress in a Motion Picture, Drama for 'Room'. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2016. 

Liên kết ngoàiSửa đổi