Mở trình đơn chính

Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát

Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát còn được gọi là Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (tiếng Anh: Universal Periodic Review), viết tắt là UPR, là một cơ chế của Hội đồng Nhân quyền (HRC) Liên Hợp Quốc (UN) xuất hiện từ quá trình cải cách năm 2005 của Liên Hợp Quốc.[1] Thường được gọi là UN-UPR, cơ chế này được thành lập theo nghị quyết Đại hội đồng 60/251 ngày 3 tháng 4 năm 2006. UPR định kỳ kiểm tra hoạt động nhân quyền của tất cả 193 quốc gia thành viên LHQ. Cơ chế này nhằm bổ sung, không trùng lặp với hoạt động của các cơ chế nhân quyền khác, bao gồm cả các cơ quan điều ước nhân quyền của Liên Hợp Quốc. Đây là cơ chế nhân quyền quốc tế đầu tiên giải quyết vấn đề nhân quyền ở tất cả các quốc gia và tất cả các quyền con người. Nhóm làm việc về UPR, bao gồm 47 quốc gia thành viên của HRC và do Chủ tịch HRC chủ trì, tiến hành việc rà soát một quốc gia.

Nguyên tắc và mục tiêuSửa đổi

"Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát" có tiềm lực để quảng bá và bảo vệ nhân quyền tại những góc cạnh tối tăm nhất trên thế giới."

Ban Ki-moon, Tổng thư ký LHQ [2]

Nghị quyết 5/1 ngày 18 tháng 6 năm 2007 và quyết định 6/102 ngày 27 tháng 9 năm 2007 của Hội đồng Nhân quyền xác định các chức năng của UPR trong chu kỳ đầu tiên từ 2008 - 2012. Trong chu kỳ thứ hai và sau đó, một vài sửa đổi được đưa ra theo Nghị quyết 16/21 ngày 12 tháng 4 năm 2011 và quyết định 17/119 ngày 19 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng Nhân quyền, sau khi HRC xem xét (để biết thêm chi tiết, xem quy trình đánh giá của HRC bên dưới). Nghị quyết 5/1 của HRC quy định rằng UPR phải: [3]

  • Thúc đẩy tính phổ quát, phụ thuộc lẫn nhau, không thể chia cắt và liên quan đến nhau của tất cả các quyền con người
  • Là một cơ chế hợp tác dựa trên thông tin khách quan và đáng tin cậy và đối thoại tương tác
  • Đảm bảo mức độ phổ quát (áp dụng với tất cả các quốc gia) và đối xử bình đẳng với tất cả các quốc gia
  • Là một quá trình liên chính phủ, được các thành viên LHQ dẫn dắt, và hướng đến hành động
  • Có sự tham gia đầy đủ của quốc gia được rà soát
  • Bổ sung và không trùng lặp các cơ chế nhân quyền khác, do đó thể hiện một giá trị mới
  • Được tiến hành một cách khách quan, minh bạch, có tính xây dựng, không mang tính chọn lọc, không đối đầu và không chính trị hóa.
  • Không quá nặng nề với Nhà nước liên quan hoặc chương trình nghị sự của HRC
  • Không được quá dài; nó phải thực tế và không tốn một lượng thời gian không tương xứng hoặc nguồn nhân lực và tài chính
  • Không làm giảm năng lực của HRC để đối phó với các tình huống nhân quyền cấp bách
  • Tích hợp đầy đủ quan điểm về giới
  • Tính đến mức độ phát triển và đặc thù của các quốc gia
  • Đảm bảo sự tham gia của tất cả các bên liên quan, bao gồm các tổ chức phi chính phủ (NGO) và các cơ quan nhân quyền quốc gia (NHRI).

Mục tiêu của UN-UPR là: [4]

  • Cải thiện tình hình nhân quyền trên thực tế
  • Hướng đến việc thực hiện các nghĩa vụ và cam kết nhân quyền của Nhà nước và đánh giá các phát triển tích cực cũng như thách thức mà Nhà nước phải đối mặt
  • Nâng cao năng lực của Nhà nước và hỗ trợ kỹ thuật, có tham vấn và với sự đồng ý của Nhà nước liên quan
  • Việc chia sẻ thực tiễn tốt nhất giữa các quốc gia và các bên liên quan khác
  • Hỗ trợ hợp tác trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người
  • Khuyến khích hợp tác và tham gia đầy đủ với HRC, các cơ quan nhân quyền khác và Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ (OHCHR).

Nghị quyết 16/21 của HRC quy định thêm rằng các chu kỳ thứ hai và tiếp theo nên tập trung vào việc thực hiện các khuyến nghị được chấp nhận và những diễn biến của tình hình nhân quyền tại quốc gia được rà soát.

Thủ tụcSửa đổi

Chu kỳ UPRSửa đổi

Chu kỳ UPR đầu tiên được thực hiện trong vòng 4 năm, chu kỳ thứ hai được kéo dài thành 4,5 năm và chu kỳ thứ ba thực hiện trong vòng 5 năm. Cứ mỗi năm Nhóm làm việc UPR của HRC rà soát được 42 quốc gia trong 3 kỳ họp, mỗi kỳ rà soát được 14 quốc gia. HRC xác định thứ tự rà soát cho chu kỳ UPR đầu tiên (2008-2012) vào ngày 21 tháng 9 năm 2007 thông qua việc rút thăm [5] và thứ tự tương tự sẽ được duy trì trong các chu kỳ thứ hai và tiếp theo. Thứ tự rà soát đầu tiên tuân theo nghị quyết 5/1 yêu cầu [6] rằng tất cả 47 quốc gia thành viên của HRC phải được rà soát trong nhiệm kỳ thành viên, bên cạnh một số tiêu chí khác.

Cơ sở của việc rà soátSửa đổi

Cơ sở của việc rà soát một quốc gia trong UPR là: (a) Hiến chương Liên hợp quốc ; (b) Tuyên ngôn nhân quyền phổ quát ; (c) Các điều ước nhân quyền mà một quốc gia là thành viên; và (d) các lời hứa và cam kết tự nguyện của Nhà nước, bao gồm cả những cam kết được đưa ra khi ứng cử vào HRC. Việc rà soát một quốc gia cũng có tính đến luật nhân đạo quốc tế phù hợp.[7]

Tài liệu làm cơ sở cho việc rà soátSửa đổi

Việc rà soát một quốc gia trong UPR được tiến hành dựa trên ba tài liệu: [3]

  • Một báo cáo quốc gia dài 20 trang được Nhà nước được rà soát chuẩn bị
  • Một bản tổng hợp mười trang thông tin của Liên Hợp Quốc (bao gồm báo cáo của các Thủ tục đặc biệt, báo cáo của cơ quan điều ước nhân quyền và các tài liệu liên quan khác của Liên Hợp Quốc) do OHCHR chuẩn bị
  • Một bản tóm tắt mười trang thông tin nhận được từ các bên liên quan (bao gồm NHRI, NGO và các chủ thể xã hội dân sự khác) cũng do OHCHR chuẩn bị

Trong quyết định 6/102, HRC đã hướng dẫn cho việc chuẩn bị thông tin trong UPR. Quyết định này chỉ dẫn cụ thể rằng, các quốc gia, khi chuẩn bị báo cáo quốc gia, nên đề cập / cung cấp:

  • Mô tả về phương pháp luận và quy trình tham vấn rộng để chuẩn bị thông tin cung cấp cho UPR
  • Bối cảnh của đất nước được rà soát và khuôn khổ (đặc biệt là khuôn khổ luật pháp và thể chế) để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người: hiến pháp, luật pháp, các biện pháp chính sách, cơ chế tài phán, cơ sở hạ tầng nhân quyền bao gồm NHRI và phạm vi nghĩa vụ quốc tế được xác định trong cơ sở đánh giá theo nghị quyết 5/1
  • Thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trong thực tế: thực hiện nghĩa vụ nhân quyền quốc tế được xác định trong "cơ sở đánh giá" theo nghị quyết 5/1, luật pháp quốc gia và các cam kết tự nguyện, hoạt động của NHRI, nhận thức cộng đồng về quyền con người, hợp tác với các cơ chế nhân quyền
  • Xác định thành tích, thực hành tốt, thách thức và hạn chế
  • Các ưu tiên, sáng kiến và cam kết chính của quốc gia mà Nhà nước liên quan dự định thực hiện để vượt qua những thách thức và hạn chế đó và cải thiện tình hình nhân quyền của mình
  • Kỳ vọng của Nhà nước liên quan về xây dựng năng lực và yêu cầu, nếu có, về hỗ trợ kỹ thuật; và
  • Trong các chu kỳ UPR thứ hai và tiếp theo, báo cáo quốc gia cũng nên có phần trình bày của Nhà nước về những việc đã thực hiện tiếp theo các đánh giá trước đó.

Toàn bộ các tài liệu về một rà soát của một quốc gia được đăng tải trên cổng thông tin về UPR của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ.[8] Các tài liệu này bao gồm báo cáo của nhà nước, thông tin từ các cơ quan LHQ và bản tóm tắt thông tin từ các bên liên quan, kèm theo báo cáo cụ thể của từng bên liên quan, dự thảo và báo cáo chính thức của Nhóm công tác về UPR, Kết quả UPR (bao gồm quan điểm và trả lời của nước được rà soát), Nghị quyết của Hội đồng Nhân quyền thông qua Kết quả UPR; ngoài ra còn có bản lưu Webcast của phiên đối thoại tương tác tại nhóm làm việc và phiên toàn thể của Hội đồng Nhân quyền thảo luận và thông qua kết quả UPR.

Nhóm làm việc về UPRSửa đổi

Nhóm làm việc về UPR gồm 47 quốc gia thành viên của HRC, do Chủ tịch HRC chủ trì và tiến hành rà soát các quốc gia. Nhóm công tác đã tổ chức rà soát lần đầu tiên vào năm 2008. Mỗi phiên rà soát diễn ra trong ba giờ rưỡi, 70 phút dành cho Nhà nước được kiểm điểm thảo luận về khuôn khổ nhân quyền trong nước, các biện pháp đã thực hiện để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở trong nước, các vấn đề nhân quyền liên quan và các bước đã thực hiện để giải quyết và khắc phục vi phạm. Đây cũng là cơ hội để Nhà nước trình bày lời hứa và cam kết nhân quyền tự nguyện. Sau phần trình bày của Nhà nước, phần đối thoại tương tác diễn ra trong vòng 140 phút tiếp theo. Trong phần này các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc đặt câu hỏi cho Nhà nước và đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện tình hình và hoạt động nhân quyền của mình. Điều đáng chú ý là tất cả 193 quốc gia thành viên LHQ (cả thành viên HRC và không) đều có thể tham gia đối thoại.

Rất nhiều vấn đề đã được đề cập đến trong quá trình kiểm điểm định kỳ phổ quát. Có khả năng tất cả các vấn đề nhân quyền có thể được đề cập trong cơ chế này. Trong khi việc đếm số lượng khuyến nghị thực tế rất phức tạp do thực tế là các khuyến nghị được nhóm lại với nhau trong báo cáo của Nhóm công tác, một tổ chức phi chính phủ là UPR - Info đã đếm được 21.356 khuyến nghị và 599 cam kết tự nguyện trong chu kỳ UPR đầu tiên. [9]

Vai trò của Troika và việc soạn thảo báo cáo của Nhóm công tácSửa đổi

Mỗi phiên rà soát được hỗ trợ bởi một nhóm gồm ba quốc gia, được gọi là troika, đóng vai trò là báo cáo viên. Các troika có trách nhiệm nhận các câu hỏi do các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc gửi trước đến quốc gia đang được rà soát. Vai trò thứ hai của troika là chuẩn bị một tài liệu báo cáo kết quả rà soát, bao gồm một bản tóm tắt trình tự rà soát, các khuyến nghị được đề xuất từ các quốc gia, kết luận và các cam kết tự nguyện do Nhà nước được rà soát đưa ra. Tài liệu kết quả được chuẩn bị với sự hỗ trợ của Ban thư ký UPR và các khuyến nghị trong kết quả rà soát được phân cụm theo chủ đề. Những việc này được tiến hành với sự tham gia và chấp thuận đầy đủ của Nhà nước được rà soát và các Quốc gia đưa ra khuyến nghị.[10]

Thông qua kết quảSửa đổi

Ba mươi phút được dành cho việc thông qua tài liệu kết quả ở giai đoạn sau trong cùng phiên họp của Nhóm công tác, trong đó Nhà nước được rà soát có cơ hội sơ bộ để cho biết liệu có ủng hộ các khuyến nghị được đề xuất bởi các quốc gia cũng như các kết luận phản ánh trong tài liệu kết quả. Sau khi được thông qua, tài liệu kết quả được chuyển đến HRC để thảo luận và thông qua trong phiên toàn thể. Vào giai đoạn từ khi kết thúc việc rà soát tại Nhóm công tác và Phiên toàn thể tiếp theo của Hội đồng Nhân quyền, Quốc gia được rà soát được trong đợi sẽ xác nhận những khuyến nghị UPR được chấp nhận hay là không.

Phiên họp toàn thể của HRCSửa đổi

UPR là một mục thường trực trong chương trình nghị sự của HRC (mục 6). Mỗi kỳ họp của HRC đều phân bổ thời gian cho việc xem xét và thông qua các tài liệu kết quả được chuyển lên từ Nhóm công tác UPR. Mỗi tài liệu được dành một giờ để xem xét và thông qua, trong đó Nhà nước được rà soát có cơ hội trình bày câu trả lời cho các câu hỏi hoặc vấn đề chưa được giải quyết đầy đủ trong cuộc đối thoại tương tác tại Nhóm Công tác.[11] Thành viên HRC và các quốc gia quan sát viên cũng có cơ hội bày tỏ quan điểm của họ về kết quả rà soát trước khi HRC có hành động.[12] Các cơ quan nhân quyền quốc gia hạng 'A' và các tổ chức phi chính phủ có tư cách tham vấn với Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hợp Quốc (ECOSOC) có cơ hội đưa ra 'nhận xét chung' trước khi thông qua báo cáo kết quả.[13] Đây là cơ hội duy nhất để xã hội dân sự phát biểu trong UPR.

Tiếp nối kết quả UPRSửa đổi

Mặc dù kết quả của việc rà soát, với tư cách là một cơ chế hợp tác, nên được thực hiện chủ yếu bởi Nhà nước liên quan, các quốc gia được khuyến khích tiến hành tham vấn rộng rãi với tất cả các bên liên quan về vấn đề này.

Các quốc gia được khuyến khích cung cấp cho Hội đồng, trên cơ sở tự nguyện, mộ̣t bản cập nhật giữa kỳ về việc tiếp nối các khuyến nghị được chấp nhận. Kể từ ngày 20 tháng 2 năm 2013, 28 quốc gia cho đến nay đã cung cấp cho HRC một báo cáo thực hiện.[14]

Theo Nghị quyết 16/21, các bên liên quan được khuyến khích đưa thông tin về việc theo dõi đánh giá thực hiện các khuyến nghị trước đó trong các báo cáo đóng góp của họ. Bản tóm tắt thông tin của các bên liên quan cung cấp cũng dành một phần riêng cho đóng góp của Cơ quan nhân quyền quốc gia của Nhà nước được rà soát nếu cơ quan này được công nhận là tuân thủ đầy đủ các Nguyên tắc Paris.

Quỹ Tự nguyện Hỗ trợ Tài chính và Kỹ thuật, được Hội đồng thành lập trong Nghị quyết 6/17 cung cấp nguồn hỗ trợ tài chính và kỹ thuật để giúp các quốc gia thực hiện các khuyến nghị phát sinh từ đánh giá của họ.

Các quốc gia có thể yêu cầu đại diện của Liên Hợp Quốc ở cấp quốc gia hoặc khu vực hỗ trợ họ trong việc thực hiện các kết quả rà sóat. Hỗ trợ tài chính và kỹ thuật để thực hiện các kết quả rà soát cần hỗ trợ các nhu cầu và ưu tiên quốc gia, như được phản ánh trong các kế hoạch quốc gia thực hiện kết quả rà soát.[10]

Từ năm 2011 đến năm 2014, UPR Info (Thông tin UPR), một tổ chức phi chính phủ, đã thực hiện 165 đánh giá hai năm sau khi rà soát diễn ra để xem các khuyến nghị (kết quả UPR chính) được thực hiện như thế nào, [15] và tác dụng thực sự của UPR trên thực tế. Năm 2012, tổ chức này đã công bố nghiên cứu đầu tiên về đánh giá các triển khai này của 66 quốc gia. Ấn phẩm tiếp theo vào năm 2014, có tiêu đề Beyond Promising, đã đánh giá 165 quốc gia và chia sẻ các thực hành tốt nhất quan sát được từ các quốc gia, các cơ quan nhân quyền quốc gia và NGO. Ấn phẩm thứ ba, được phát hành vào năm 2016 và được đặt tên là Hiệu ứng cánh bướm, nhằm mục đích truyền bá các thực hành tốt nhất trong UPR và truyền cảm hứng cho tất cả các bên quan tâm.

Nhà nước không hợp tác với UPRSửa đổi

Sau khi dùng hết mọi nỗ lực để khuyến khích một quốc gia hợp tác với cơ chế UPR, HRC sẽ giải quyết một cách phù hợp các trường hợp không hợp tác với cơ chế này.[16]

Trường hợp bất hợp tác dai dẳng đầu tiên được thảo luận là UPR của Israel. Israel đã không được rà soát như dự kiến vào ngày 29 tháng 1 năm 2013. [17] Do đó, HRC đã thảo luận vào tháng 3 [18] và tháng 6 [19] 2013 về vấn đề "không hợp tác dai dẳng". Cuối cùng, Israel đã nối lại hợp tác với HRC và được rà soát vào ngày 29 tháng 10 năm 2013, [20] nhưng HRC đã bỏ lỡ cơ hội để xác định "không hợp tác dai dẳng" là gì. [21]

Cơ hội đóng góp cho UPR của các bên liên quanSửa đổi

Các quy tắc điều chỉnh sự tham gia của cơ quan nhân quyền quốc gia và NGO tại HRC, và do đó trong cơ chế UPR, được quy định bởi nghị quyết 5/1, trong đó nêu rõ rằng sự tham gia của các bên này sẽ dựa trên 'các hoạt động đã có tại Ủy ban Nhân quyền [trước đây], trong khi đảm bảo sự đóng góp hiệu quả nhất của các thực thể này '.[22]

Trong khi UPR là một quá trình liên chính phủ, có một số cơ hội đóng góp cho các bên liên quan phi chính phủ. Những cơ hội này bao gồm:

  • Tham gia vào các cuộc tham vấn quốc gia để chuẩn bị báo cáo quốc gia của Nhà nước. Các quốc gia được khuyến khích thực hiện các quy trình tham vấn quốc gia rộng rãi để chuẩn bị các báo cáo quốc gia của họ
  • Gửi thông tin cho phiên rà soát. Báo cáo này có thể được đưa vào bản tóm tắt thông tin do các bên liên quan do OHCHR chuẩn bị như đã nêu ở trên
  • Tham dự phiên rà soát tại Nhóm công tác về UPR. Các bên liên quan có thể tham dự các phiên họp của Nhóm công tác, nhưng không được tham gia vào cuộc đối thoại tương tác giữa các quốc gia.
  • Tham dự phiên họp của HRC mà tại đó báo cáo kết quả rà soát của một quốc gia được thông qua. Các Cơ quan Nhân quyền Quốc gia được xếp hạng A và các tổ chức NGO có tư cách tham vấn với ECOSOC có thể đưa ra 'bình luận chung' trước khi thông qua báo cáo kết quả
  • Gửi báo cáo bằng văn bản theo chương trình nghị sự HRC mục 6 (UPR). Các cơ quan nhân quyền quốc gia và các tổ chức phi chính phủ được ECOSOC công nhận có thể gửi báo cáo bằng văn bản
  • Khi thích hợp, theo dõi việc thực hiện các khuyến nghị UPR

Đánh giá về UPR của HRCSửa đổi

Trong nghị quyết 60/251, Đại hội đồng yêu cầu HRC phải xem xét và báo cáo về công việc và chức năng của mình sau năm năm đầu tiên.[23] Vào tháng 10 năm 2009, HRC đã thành lập nhóm làm việc mở liên chính phủ về đánh giá công việc và chức năng của HRC (gồm 47 quốc gia thành viên của HRC) để dẫn dắt quá trình đánh giá này.[24] Do Chủ tịch HRC lúc đó (Đại sứ Sihasak Phuangketkeow của Thái Lan) chủ trì, Nhóm công tác đã họp hai phiên họp quan trọng. Phiên làm việc nhóm đầu tiên diễn ra vào ngày 25 tháng 10 năm 2010; phiên thứ hai được tổ chức vào ngày 7, 17-18 và 23 tháng 24 năm 2011.

Vào ngày 25 tháng 3 năm 2011, HRC đã thông qua nghị quyết 16/21 đánh giá kết quả công việc và chức năng của HRC, sau đó là quyết định 17/119 ngày 19 tháng 7 năm 2011 của HRC với những thay đổi sau đây đối với UPR: [25]

  • Độ dài của các chu kỳ tiếp theo: Các chu kỳ thứ hai và tiếp theo sẽ kéo dài 4,5 năm với 14 kỳ trong mỗi chu kỳ
  • Số lượng quốc gia mỗi kỳ: 14 Bang sẽ được xem xét mỗi kỳ họp, trong tổng số 42 quốc gia mỗi năm
  • Thời gian đánh giá: Mỗi phiên rà soát sẽ kéo dài 3,5 giờ. Quốc gia được rà soát được dành cho 70 phút và các quốc gia khác 140 phút
  • Thứ tự đánh giá: Thứ tự đánh giá sẽ hoàn toàn giống nhau. Vì chỉ có 14 quốc gia được xem xét mỗi kỳ, hai quốc gia cuối cùng của kỳ 1 sẽ được chuyển sang đầu phiên 2, bốn quốc gia cuối của kỳ 2 sẽ được chuyển sang đầu kỳ 3, v.v.
  • Trọng tâm của các chu kỳ tiếp theo: Các chu kỳ thứ hai và tiếp theo nên tập trung vào, ngoài các vấn đề khác, việc thực hiện các khuyến nghị được chấp nhận và diễn biến tình hình nhân quyền ở quốc gia được rà soát.
  • Danh sách người phát biểu: Đối với mỗi phiên rà soát, các quốc gia sẽ được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Anh và người phát biểu đầu tiên sẽ được xác định bằng cách rút thăm. Các quốc gia sẽ có thể hoán đổi vị trí và tất cả các quốc gia sẽ được phát biểu. Nếu cần, thời gian cho mỗi người phát biểu sẽ giảm xuống còn hai phút mỗi lần hoặc 140 phút sẽ được chia cho số lượng người phát biểu.
  • Hướng dẫn chung: Quyết định hướng dẫn chung A/HRC/DEC/6/102 cho việc soạn thảo ba báo cáo làm cơ sở của đánh giá đã được sửa đổi một chút để nhấn mạnh yêu cầu với quốc gia được rà soát báo cáo về việc thực hiện các khuyến nghị trước đó.
  • Phân cụm các khuyến nghị: Các khuyến nghị có trong tài liệu kết quả UPR được phân cụm theo chủ đề, với sự tham gia và chấp thuận đầy đủ của Nhà nước được rà soát và các Quốc gia đưa ra các khuyến nghị
  • Phản hồi về các khuyến nghị: Các quốc gia nên trao đổi rõ ràng với Hội đồng, dưới dạng văn bản tốt nhất là gửi trước phiên toàn thể của Hội đồng, về quan điểm với các khuyến nghị đã nhận được
  • Báo cáo giữa kỳ: Các quốc gia được khuyến khích cung cấp cho Hội đồng, trên cơ sở tự nguyện, bản cập nhật giữa kỳ về việc theo dõi các khuyến nghị được chấp nhận
  • Vai trò của các cơ quan nhân quyền quốc gia: Cơ quan nhân quyền quốc gia (NHRI) có trạng thái A sẽ có phần dành riêng trong bản tóm tắt thông tin của các bên liên quan và sẽ được trực tiếp phát biểu sau quốc gia được rà soát trong phiên họp toàn thể của HRC
  • Vai trò của NGO: Các quốc gia được khuyến khích tiến hành tham vấn rộng rãi với tất cả các bên liên quan về việc tiếp nối và thực thi khuyến nghị. Các bên liên quan khác được khuyến khích đưa thông tin về việc theo dõi đánh giá các khuyến nghị được đưa ra trước đó.

Việt Nam và UPRSửa đổi

Tính đến năm 2019, Việt Nam đã tham gia đủ 3 chu kỳ UPR vào các năm 2009, 2014 và 2019. Việt Nam là một trong các quốc gia nhận được nhiều sự quan tâm nhất trong UPR, với số các quốc gia tham gia phần đối thoại tương tác rất lớn (76 quốc gia tham gia lần thứ nhất, 106 quốc gia tham gia lần thứ hai, và 121 quốc gia tham gia lần thứ ba).

Toàn bộ các văn bản liên quan đến UPR của Việt Nam trong 3 chu kỳ, bao gồm báo cáo của ba bên (Nhà nước, LHQ, và các bên liên quan), báo cáo của Nhóm Công tác về UPR, Kết quả UPR và Nghị quyết của Hội đồng Nhân quyền thông qua kết quả UPR của Việt Nam, cùng với bản lưu các webcast phiên đối thoại tương tác và phiên toàn thể thảo luận và thông qua kết quả tại Hội đồng Nhân quyền được đăng công khai trên trang về Việt Nam tại trang web của OHCHR.[26]

UPR là một cơ chế nhân quyền quốc tế được nhà nước Việt Nam coi trọng, có lẽ vì đây là một hình thức đối thoại với nhiều quốc gia nhất tại LHQ. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Lê Thị Thu Hằng tuyên bố:

"Việt Nam đặc biệt coi trọng và nghiêm túc thực hiện UPR – một cơ chế thành công của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc dựa trên các nguyên tắc bình đẳng, đối thoại và hợp tác; coi đây vừa là nghĩa vụ của quốc gia thành viên Liên hợp quốc, đồng thời là cơ hội giới thiệu với cộng đồng quốc tế về những chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc nỗ lực thúc đẩy và bảo vệ quyền con người" [27]

UPR lần thứ nhất của Việt Nam, 5/2009Sửa đổi

Nhà nước Việt Nam đã tham gia UPR lần thứ nhất vào tháng 5/2009. Trong lần UPR này, báo cáo của Chính phủ Việt Nam đã được chuẩn bị với sự tham gia của một số Bộ, trong đó Bộ Ngoại giao là cơ quan đầu mối soạn thảo. Báo cáo cũng đã có sự tham vấn với một số tổ chức chính trị xã hội trong nước. Về Báo cáo của các bên liên quan, 12 tổ chức đã trình báo cáo lên Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc trước phiên UPR. Trong số này không có báo cáo nào từ các tổ chức xã hội dân sự trong nước.

Trong quá trình đối thoại tại UPR lần thứ nhất, 76 phái đoàn của các nước thành viên Liên Hợp Quốc đã tham gia đối thoại với phái đoàn Việt Nam. Trong số 146 khuyến nghị các nước dành cho Việt Nam, Nhà nước Việt Nam chấp nhận 94 khuyến nghị, khước từ 46 khuyến nghị, không có quan điểm rõ ràng với 05 khuyến nghị và để ngỏ 01 khuyến nghị.

Có thể tham khảo chi tiết các khuyến nghị năm 2009 bằng các ngôn ngữ LHQ tại trang web của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ,[26] hoặc bằng tiếng Việt tại đây.

UPR lần thứ hai của Việt Nam, 2/2014Sửa đổi

Lần UPR thứ hai của Việt Nam diễn ra vào tháng 2 năm 2014. Việc đóng góp thông tin cho kỳ UPR thứ hai diễn ra rộng rãi hơn so với kỳ thứ nhất. Báo cáo quốc gia đã được chính phủ tham vấn mở với các tổ chức chính trị xã hội và một số tổ chức phi chính phủ và mạng lưới. Về báo cáo của các bên liên quan, OHCHR công bố 59 báo cáo được coi là hợp lệ, trong đó 12 báo cáo chung. Trong số này có 17 báo cáo riêng và một báo cáo chung được gửi từ các tổ chức và mạng lưới đóng tại Việt Nam.

Tại phiên UPR lần thứ hai, phái đoàn Việt Nam do ông Hà Kim Ngọc, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao dẫn đầu, gồm 22 đại diện từ 11 cơ quan chính phủ. Trong phiên họp thứ 18 ngày 07 tháng 2 năm 2014, Nhóm công tác về UPR đã thông qua báo cáo về Việt Nam. Vào tháng 6/2014, kết quả UPR kỳ thứ hai của Việt Nam đã được thông qua tại kỳ họp thứ 26 của Hội đồng Nhân quyền.[28]

106 quốc gia đã tham gia đối thoại với Việt Nam trong kỳ UPR thứ hai và đưa ra 227 khuyến nghị. Trong số khuyến nghị này, Việt Nam chấp thuận 182 khuyến nghị. Một thực hành được phát triển trong kỳ UPR thứ hai là các quốc gia sẽ lựa chọn ủng hộ và chấp thuận hoặc “ghi nhận” chứ không “khước từ” trực diện các khuyến nghị. Với Việt Nam, các khuyến nghị vẫn được chia thành hai nhóm, được chấp thuận và không được chấp thuận.

Có thể tham khảo chi tiết các khuyến nghị năm 2014 bằng các ngôn ngữ LHQ tại trang web của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ,[26] hoặc bằng tiếng Việt tại đây.

UPR lần thứ ba của Việt NamSửa đổi

Phiên UPR thứ ba của Việt Nam diễn ra vào tháng 1/2019, với 121 quốc gia tham gia gửi trước 77 câu hỏi và đưa ra 291 khuyến nghị. Đã có 77 báo cáo của các bên liên quan được gửi tới cho Phiên kiểm điểm này, gồm 57 báo cáo đơn và 20 báo cáo chung, trong đó có 25/57 báo cáo đơn và 8/20 báo cáo chung đến từ các tổ chức và liên minh trong nước.

Trong phiên đối thoại tương tác của Nhóm Công tác về UPR với Việt Nam ngày 22/1 tại Hội đồng Nhân quyền, đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung dẫn đầu với sự tham gia của 11 bộ, ngành liên quan đã đối thoại 122 nước thành viên Liên hợp quốc về việc thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam.

Tại phiên toàn thể của Hội đồng Nhân quyền vào tháng 7/2019, Việt Nam đã tuyên bố chấp nhận 241 khuyến nghị, trong đó chấp nhận hoàn toàn 220 khuyến nghị và chấp nhận một phần 21 khuyến nghị.

Có thể tham khảo chi tiết các khuyến nghị năm 2019 bằng các ngôn ngữ LHQ tại trang web của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ,[26] hoặc bằng tiếng Việt tại đây.

Nội dung chính của các khuyến nghị UPR của Việt Nam.Sửa đổi

Các vấn đề Việt Nam nhận được nhiều khuyến nghị nhất bao gồm:

- Tăng cường hợp tác với các cơ chế nhân quyền của LHQ (bao gồm tham gia các Công ước Nhân quyền mà Việt Nam chưa phải là thành viên (tiêu biểu là Công ước về bảo vệ tất cả mọi người khỏi mất tích cưỡng bức, Công ước về bảo vệ Quyền của lao động di trú và thành viên gia đình họ, các Công ước ILO mà Việt Nam chưa tham gia (số 105, 98, và 87), các nghị định thư tùy chọn kèm theo các công ước nhân quyền - trong đó đặc biệt là các nghị định thư quy định về cơ chế khiếu nại cá nhân), và tăng cường hợp tác với các Thủ tục đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền;

- Thu hẹp, tiến tới bãi bỏ hình phạt tử hình (bãi bỏ hình phạt tử hình, đình chỉ việc thi hành án tử hình, thu hẹp phạm vi áp dụng án tử hình, công bố thông tin về việc áp dụng hình phạt tử hình ở Việt Nam);

- Giảm nghèo, xóa bất bình đẳng, thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững (MDGs, sau này là SDGs), phát triển nông thôn, tăng cường tiếp cận dịch vụ công.

- Tăng cường tiếp cận thông tin, tự do thông tin và tự do biểu đạt (bao gồm chấp nhận báo chí tư nhân, mở rộng tự do biểu đạt, bảo vệ tự do internet).

- Bảo vệ và hỗ trợ các nhóm yếu thế: phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số

- Tôn trọng và bảo vệ tự do tôn giáo và tín ngưỡng

- Thực thi Giáo dục nhân quyền, phổ biến rộng rãi thông tin về các chuẩn mực nhân quyền quốc tế và khuyến nghị của các cơ chế nhân quyền quốc tế dành cho Việt Nam, bao gồm các khuyến nghị trong UPR.

- Thiết lập các thiết chế quốc gia về bảo vệ và giám sát nhân quyền, bao gồm Cơ quan Nhân quyền Quốc gia, Cơ quan giám sát quyền trẻ em độc lập.

Tài liệu tham khảoSửa đổi

  1. ^ ‘In larger freedom: towards development, security and human rights for all’, Report of the Secretary-General (A/59/2005), 21 March 2005; World Summit Outcome, General Assembly resolution 60/1, 24 October 2005.
  2. ^ “Universal Periodic Review”. The Guardian. Truy cập 24 tháng 4, 2013. 
  3. ^ a ă Annex to resolution 5/1, para. 3.
  4. ^ Annex to resolution 5/1, para. 4.
  5. ^ ‘Basic facts about the UPR’, OHCHR.
  6. ^ Annex to resolution 5/1, paras. 8-11.
  7. ^ Annex to resolution 5/1, paras. 1-2.
  8. ^ OHCHR. “Trang tài liệu về UPR”. Bản gốc lưu trữ |url lưu trữ= cần |ngày lưu trữ= (trợ giúp). Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2019.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  9. ^ “UPR Info's Database on UPR recommendations”. UPR Info (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2019. 
  10. ^ a ă "Review of the work and functioning of the Human Rights Council" at 4.
  11. ^ Annex to resolution 5/1, para. 29.
  12. ^ Annex to resolution 5/1, para. 30.
  13. ^ Annex to resolution 5/1, para. 31.
  14. ^ "UPR Implementation"
  15. ^ The Follow-up Programme on UPR recommendations
  16. ^ Annex to resolution 5/1, para. 38.
  17. ^ “Israel absent from its own UPR”. UPR Info (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2019. 
  18. ^ “The Human Rights Council discusses cases of non-cooperation”. UPR Info (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2019. 
  19. ^ “HRC President presents report on dialogue with Israel”. UPR Info (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2019. 
  20. ^ “Universality preserved: Israel expected to be reviewed on Tuesday 29 October 2013”. UPR Info (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2019. 
  21. ^ “Non-cooperation with the UPR: Paving the way”. UPR Info (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2019. 
  22. ^ Annex to resolution 5/1, at rule 7. Resolution 5/1 also stipulates that NGO participation is to be informed by Economic and Social Council resolution 1996/31 of 25 July 1996, and NHRI participation by CHR resolution 2005/74 of 20 April 2005.
  23. ^ General Assembly resolution 60/251 at operative para. 16.
  24. ^ HRC resolution 12/1 of 12 October 2009, ‘Open-ended intergovernmental working group on the review of the work and functioning of the Human Rights Council’.
  25. ^ "New UPR Modalities for the Second Cycle"
  26. ^ a ă â b OHCHR. “Trang thông tin về UPR của Việt Nam”. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2019.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  27. ^ Báo Quốc tế (24/01/2019). “Việt Nam đặc biệt coi trọng và nghiêm túc thực hiện UPR”. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2019.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  28. ^ Quyết định 26/113, kỳ họp thứ 26 của Hội đồng Nhân quyền. Tài liệu của LHQ mã A/HRC/DEC/26/113 (ngày 07/08/2014).

Liên kết ngoàiSửa đổi