Mở trình đơn chính

Họ Đà điểu châu Úc

(đổi hướng từ Casuariiformes)

Họ Đà điểu châu Úc (danh pháp khoa học: Casuariidae) là một họ chim chạy hiện còn 4 loài sinh tồn, trong đó có 3 loài đà điểu đầu mào và 1 loài đà điểu châu Úc (chim emu) và khoảng 4-5 loài đã tuyệt chủng. Đà điểu Úc trước đây được phân loại trong họ riêng của chính nó, gọi là Dromaiidae, nhưng hiện nay được coi là có quan hệ họ hàng đủ gần với các loài đà điểu đầu mào để có thể coi là một phần của họ này. Khi bộ Đà điểu (Struthioniformes) được hiểu theo nghĩa rộng thì họ này thuộc về bộ đã đề cập, nhưng khi tiếp cận theo nghĩa hẹp thì họ thuộc về bộ của chính nó, tên khoa học gọi là Casuariiformes.

Họ Đà điểu châu Úc
Darica Cossowary 00975.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Aves
Bộ (ordo)Casuariiformes hay Struthioniformes s. l.
Họ (familia)Casuariidae
(Kaup, 1847)[1]
Tính đa dạng
2 chi, 8-9 loài
Tông

Tất cả bốn thành viên còn sinh tồn của họ là các loài chim không biết bay to lớn bản địa của khu vực Australia-New Guinea[2].

Hệ thống học và tiến hóaSửa đổi

 
Chim emu hay đà điểu Úc.

Chim emu tạo thành một phân họ riêng biệt, với đặc trưng là chân thích nghi cho việc chạy. Giống như mọi loài chim chạy khác, hiện tại tồn tại một vài thuyết cạnh tranh lẫn nhau liên quan tới sự tiến hóa và mối quan hệ giữa chúng. Khi đề cập tới họ này, điều đặc biệt quan tâm là giữa chim emu và đà điểu đầu mào thì nhóm nào là dạng cổ hơn: đà điểu đầu mào nói chung được giả định là duy trì nhiều đặc trưng có trước khi tồn tại tổ tiên chung gần nhất của nhóm hơn, nhưng điều này không nhất thiết phải đúng ở mọi điểm; các mẫu hóa thạch cũng mơ hồ và trạng thái hiện tại của bộ gen không cho phép có được phân tích so sánh đầy đủ. Ít nhất thì sự kết hợp của mọi cách tiếp cận này với lưu ý tới hoạt động kiến tạo mảng là cần thiết để giải quyết vấn đề này.

Số lượng các loài đà điểu đầu mào được miêu tả dựa trên các khác biệt nhỏ trong hình dạng mào và các biến đổi màu sắc là rất lớn. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, chỉ 3 loài được công nhận, và phần lớn các tác giả chỉ công nhận vài phân loài hoặc không công nhận bất kỳ phân loài nào.

Hồ sơ hóa thạch của chim dạng đà điểu châu Úc là đáng chú ý, nhưng không có nhiều. Liên quan tới các loài hóa thạch của các chi DromaiusCasuarius, xem các trang tương ứng về các chi này.

Một vài hóa thạch tại Australia ban đầu được coi là của chim emu thì hiện tại được công nhận là thuộc chi riêng biệt, gọi là Emuarius[3][4], với hộp sọ và xương đùi tương tự như của đà điểu đầu mào và cẳng chân cùng bàn chân như của chim emu. Ngoài ra, các hóa thạch đầu tiên của mihirung ban đầu cũng được cho là của chim emu khổng lồ[5], nhưng cuối cùng hóa ra là chúng hoàn toàn không liên quan gì với nhau.

Các loàiSửa đổi

Phân họ Casuariinae: Đà điểu đầu mào

Phân họ Dromaiinae - chim emu hay đà điểu Úc

Ghi chú và tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă Brands, Sheila (ngày 14 tháng 8 năm 2008). “Systema Naturae 2000 / Classification, Family Casuariidae”. Project: The Taxonomicon. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2009. 
  2. ^ a ă â b c d đ e Clements, James (2007). The Clements Checklist of the Birds of the World (ấn bản 6). Ithaca, NY: Nhà in Đại học Cornell. ISBN 9780801445019. 
  3. ^ Boles Walter E. (2001): A new emu (Dromaiinae) from the Late Oligocene Etadunna Formation. Emu 101: 317–321. tóm tắt HTML
  4. ^ Từ "Emu" + "Casuarius". Người miêu tả, ông W. E. Boles, nói chung nói tới chi này như là "emuwaries" hay "cassomus".
  5. ^ Tên bản xứ "mihirung" có nguồn gốc từ mihirung paringmal nghĩa là "chim emu khổng lồ" trong ngôn ngữ Chaap Wuurong
  • Folch A. (1992). Family Casuariidae (Cassowaries). tr. 90- 97 trong del Hoyo J., Elliott A. & Sargatal J. (chủ biên) Handbook of the Birds of the World, quyển 1, Ostrich to Ducks. Lynx Edicions, Barcelona. ISBN 84-ngày 81 tháng 9 năm 7334