Mở trình đơn chính

Cerussit (hay chì cacbonat hoặc quặng chì trắng) là một loại khoáng vật cacbonat chì (PbCO3), và là một loại quặng chì quan trọng. Tên Latin của nó là cerussa nghĩa là chì trắng. Cerussa đã được đề cập lần đầu bởi Conrad Gessner năm 1565,\ và vào năm 1832 FS Beudant áp dụng tên đó cho khoáng này trong khi tên hiện nay là cerussit lại do W. Haidinger (1845) đặt. Tên khoáng này được sớm là chì spar và quặng chì trắng.

Cerussit
Cerusite Les Frages.jpg
Cerussit, Les Frages Mine – Pháp
Thông tin chung
Thể loạiKhoáng vật cacbonat
Công thức hóa họcChì cacbonat: PbCO3
Phân loại Strunz05.AB.15
Hệ tinh thểtháp đôi trực thoi (2/m 2/m 2/m)
Nhận dạng
Màukhông màu, trắng, xám,lam hoặc lục
Dạng thường tinh thểMassive granular, reticulate, tabular to equant crystals
Song tinhđơn giản hoặc tiếp xúc
Cát khaitốt theo [110] và [021]
Vết vỡBrittle conchoidal
Độ cứng Mohs3 đến 3,5
ÁnhAdamantin, thủy tinh, nhựa
Màu vết vạchtrắng
Tính trong mờtrong suốt đến mờ
Tỷ trọng riêng6.53–6.57
Thuộc tính quanghai trục (-)
Chiết suấtnα = 1.803, nβ = 2.074, nγ = 2.076
Khúc xạ képδ = 0.273
Các đặc điểm kháccó thể có màu vàng dưới tia LW UV
Tham chiếu[1][2]

Cerussit kết tinh trong hệ thoi và là đồng hình với aragonit. Giống như aragonit, nó thường là song tinh, các hợp thể mày có dạng giả lục giác. Ba tinh thể thường liên kết với nhau trên hai mặt của lăng trụ tạo ra nhóm sáu hình sao với các tinh thể riêng biệt liên kết với nhau dưới một góc gần 60°. Khoáng này hay được tìm thấy với bề mặt rất sáng và mịn. Khoáng cũng tồn tại ở dạng khối hạt nhỏ và đôi khi ở dạng thớ. Cerussit thường không màu hoặc màu trắng, đôi khi màu xám hoặc màu xanh lục trong và thay đổi từ trong suốt đến trong mờ. Nó rất dễ vỡ và hay có một sốvết nứt vỏ sò. Nó có độ cứng theo thang Mohs là 3-3,75 và trọng lượng riêng là 6,5. Một loại khác chứa 7% kẽm cacbonat thay cho cacbonat chì được gọi là Iglesiasite từ Iglesias ở Sardinia, nơi nó được tìm thấy.

Có thể dễ nhận ra khoáng này bởi liên kết đặc trưng của nó, kết hợp với ánh Adamantine và tỷ trọng cao. Nó bị hòa tan và sủi bọt trong dung dịch axit nitric loãng. Khi nung khoáng sẽ dễ dính lại và tạo ra chì.

Các mẫu vật đã được thu thập từ mỏ Friedrichssegen ở Lahnstein ở Rhineland-PalatinateJohanngeorgenstadt ở Saxony , Stříbro ở Cộng hòa SécPhoenixville ở Pennsylvania , Broken Hill ở New South Wales , và một số địa phương khác. Thậm chí tinh thể hình kim có độ dài đáng kể đã được tìm thấy cách đây khá lâu về trước trong mỏ Pentire Glaze gần St MINVER ở Cornwall . Cerussit được tìm thấy với số lượng lớn và có hàm lượng chì lên đến 77,5%.

Chì (II) cacbonat là thực tế không tan trong các dung dịch trung tính (độ tan [Pb 2+ ] [CO 3 2- ] ≈ 1.5 × 10 −13 ở 25 °C), nhưng sẽ hòa tan trong axit loãng.

Hình ảnhSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Cerussite. Handbook of Mineralogy. (PDF). Truy cập 2011-10-10.
  2. ^ Cerussite. Mindat. Truy cập 2011-10-10.
  3. ^ “Iconic: Light of the Desert”. Ngày 26 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2012.