Chủ nghĩa đồng nhất

Chủ nghĩa đồng nhất, còn được gọi là Học thuyết đồng nhất hay Nguyên tắc đồng nhất,[1] là giả thuyết chỉ ra rằng những luật lệ và quy trình giống nhau đang diễn ra dưới sự quan sát khoa học hiện tại luôn diễn ra trong vũ trụ trong quá khứ và áp dụng được mọi nơi trong vũ trụ.[2][3] Nó không những đề cập đến sự bất biến trong nền tảng khoa học của thuyết siêu hình học, như là sự kiên định của quan hệ nhân quả rộng khắp không-thời gian,[4] mà còn thường xuyên được dùng để miêu tả sự bất biến của không- thời gian của các định luật khoa học tự nhiên.[5] Thông qua những tiền đề không thể minh chứng mà không thể được xác minh bằng cách sử dụng các phương pháp khoa học,[6] một số nhận định rằng chủ nghĩa đồng nhất nên là Nguyên tắc căn bản trong những nghiên cứu khoa học.[7] Những nhà khoa học khác bất đồng và nhận định rằng tự nhiên không hoàn toàn đồng nhất,mặc dù nó trưng bày thường xuyên và xác thực.[8][9]

Hutton's Unconformity tại Jedburgh. Trên:Tranh minh họa của John Clerk of Eldin năm 1787. Dưới: Ảnh 2003

Trong địa chất học, chủ nghĩa đồng nhất luôn bao gồm ý tưởng của chủ nghĩa dần dầnđó là "hiện tại là chìa khóa của quá khứ" và các sự kiện địa chất đó diễn ra cùng tần suất với những sự kiện tương tự đã luôn xảy ra, mặc dù rất nhiều nhà địa chất học hiện đại không còn dựa vào sự chắc chắn của chủ nghĩa dần dần.[10] Được đặt ra bởi William Whewell, chủ nghĩa đồng nhất ban đầu được đề xuất là trái ngược với chủ nghĩa thảm họa [11] bởi các nhà tự nhiên học nước Anh vào cuối thế kỷ 18, bắt đầu với công trình của nhà địa chất học James Hutton trong rất nhiều cuốn sách của ông ấy bao gồm cuốn học thuyết trái đất.[12] Công trình của Hutton đã được cải tiến bởi nhà khoa học John Playfair và được phổ biến bởi nhà địa chất học Charles Lyell trong cuốn Principles of Geology năm 1830.[13] Ngày nay, lịch sử trái đất được nhận định là quy trình diễn ra chậm và đều đã được nhấn mạnh bởi các sự kiện thảm họa tự nhiên thỉnh thoảng xảy ra.

Lịnh sửSửa đổi

Thế kỷ 18Sửa đổi

 
Vách đá ở phía đông Siccar Point tại Berwickshire, để lộ ra những lớp cát kết màu đỏ nằm ngang phía trên những hòn đá greywake nằm nghiêng theo chiều dọc.

Những quan niệm đầu tiên đã có một chút ảnh hưởng vào những giải thích liên quan đến địa chất ờ Châu Âu và thế kỷ 18 về sự hình thành của trái đất. Abraham Gottlob Werner (1749–1817) đề xuất học thuyết sao hải vương, học thuyết cho rằng địa tầng đại diện cho những lắng cặn từ các biển thu hẹp đã kết tủa thành những loại đá nguyên thủy như là đá hoa cương. Vào năm 1785 James Hutton đã đưa ra một sự chống đối, điều đã tạo nên sự duy trì của vòng tròn vô tận dựa trên lịch sử tự nhiên và không dựa vào sự giải thích trong kinh thánh.[14][15].

Những phần rắn của phần đất xuất hiện hiện tại thường là những sản phẩm được tạo tác từ biển và từ những vật liệu khác tương tự với những thứ được tìm thấy ở trên những bãi biển. Chính vì thế ta tìm kiếm lý do để kết luận rằng:

Thứ nhất, vùng đất liền mà ta tọa lạc không đơn giản và nguyên thủy, nhưng nó là thành một thành phần và được hình thành từ hoạt động của điều thứ 2.
Thứ hai, trước khi vùng đất hiện tại được hình thành, tại ngay đó đã tồn tại một thế giới được tạo ra từ đất liền và biển, tại đó là những đợt sóng và những dòng chảy,với những hoạt động của đáy biển mà đang hiện diện tại đó. Và cuối cùng.
Trong khi các vùng đất hiên tại đã đang hình thành tại đáy của đại dương,vùng đất trước dó đã duy trì được các loài cây cối và động vật; ít nhất vùng biển sau đó đã được cư trú bởi những loài động vật, những hành vi đó giống với những gì diễn ra hiện tại.

Chính vì thế ta được dẫn tới kết luận rằng phần rộng lớn hơn của đất liền chúng ta, trừ khi toàn bộ đã được tạo ra từ những hoạt động tự nhiên lên trái đất; nhưng điều đó để tạo ra cho vùng đất này một cơ thể vĩnh cửu, tồn tại hoạt động của nước, hai thứ cần thiết là:

Thứ nhất, sự hợp nhất của khối lượng hình thành từ tập hợp những vật liệu lỏng lẻo hoặc rời rạc;
Thứ hai, sự trồi lên của những khối hợp nhất đó từ đáy biển, nơi mà chúng được thu thập, đến những trạm nơi mà ngáy nay chúng vẫn còn nằm phía trên mực nước của đại dương.[16]

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Scott, G. H. (1963). “Uniformitarianism, the uniformity of nature, and paleoecology”. New Zealand Journal of Geology and Geophysics (bằng tiếng Anh) 6 (4): 510–527. ISSN 0028-8306. doi:10.1080/00288306.1963.10420063.  Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)
  2. ^ Gordon, 2013: 79
  3. ^ Gould 1965, tr. 223–228, "The assumption of spatial and temporal invariance of natural laws is by no means unique to geology since it amounts to a warrant for inductive inference which, as Bacon showed nearly four hundred years ago, is the basic mode of reasoning in empirical science. Without assuming this spatial and temporal invariance, we have no basis for extrapolating from the known to the unknown and, therefore, no way of reaching general conclusions from a finite number of observations."
  4. ^ Gordon, 2013: 82; "The uniformitarian principle assumes that the behavior of nature is regular and indicative of an objective causal structure in which presently operative causes may be projected into the past to explain the historical development of the physical world and projected into the future for the purposes of prediction and control. In short, it involves the process of inferring past causes from presently observable effects under the assumption that the fundamental causal regularities of the world have not changed over time."
  5. ^ Strahler, A.N. 1987. Science and Earth History- The Evolution/Creation Controversy, Prometheus Books, Amherst, New York, USA. p. 194: "Under the updated statement of a useful principle of uniformitarianism it boils down essentially to affirmation of the validity of universal scientific laws through time and space, coupled with a rejection of supernatural causes." p. 62: "In cosmology, the study of the structure and evolution of the universe, it is assumed that the laws of physics are similar throughout the entire universe."
  6. ^ Rosenberg, Alex. Philosophy of science: A contemporary introduction, 4th ed. Routledge, 2019, 173
  7. ^ Simpson 1963, tr. 24–48, "Uniformity is an unprovable postulate justified, or indeed required, on two grounds. First, nothing in our incomplete but extensive knowledge of history disagrees with it. Second, only with this postulate is a rational interpretation of history possible, and we are justified in seeking—as scientists we must seek—such a rational interpretation."
  8. ^ Buffon, G. L. L. (1778). Histoire naturelle, générale et particulière, contenant les epoques de la nature. Paris: L'Imprimerie Royale. tr. 3–4. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2019. 
  9. ^ Ulanowicz, R. E.; Wilfried F. Wolff (1992). “Nature is Not Uniform”. Mathematical Biosciences 112 (1): 185. PMID 1421773. doi:10.1016/0025-5564(92)90093-C. 
  10. ^ FARIA, Felipe. Actualismo,Catastrofismo y Uniformitarismo. In: Pérez, María Luisa Bacarlett & Caponi, Gustavo. Pensar la vida: Filosofía, naturaleza y evolución. Toluca: Universidad Autónoma del Estado de México, p. 55-80, 2015.[1]
  11. ^ Pidwirny & Scott 1999, "the idea that Earth was shaped by a series of sudden, short-lived, violent events."
  12. ^ James, Hutton (1785). Theory of the Earth. CreateSpace Independent Publishing. 
  13. ^ “Uniformitarianism: World of Earth Science”. 
  14. ^ Bowler 2003, tr. 57–62
  15. ^ Hutton, J. (1785). “Abstract, The System of the Earth, Its Duration and Stability”. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2008. As it is not in human record, but in natural history, that we are to look for the means of ascertaining what has already been, it is here proposed to examine the appearances of the earth, in order to be informed of operations which have been transacted in time past. It is thus that, from principles of natural philosophy, we may arrive at some knowledge of order and system in the economy of this globe, and may form a rational opinion with regard to the course of nature, or to events which are in time to happen. 
  16. ^ Concerning the System of the Earth Lưu trữ 2008-09-07 tại Wayback Machine abstract, as read by James Hutton at a meeting of the Royal Society of Edinburgh on ngày 4 tháng 7 năm 1785, printed and circulated privately.