Dải băng Greenland (tiếng Đan Mạch: Grønlands indlandsis, Greenlandic: Sermersuaq) là một dải băng rộng bao gồm 1.710.000 km vuông (660.000 dặm vuông), khoảng 80% bề mặt của đảo Greenland.

LoạiDải băng
Tọa độ76°42′B 41°12′T / 76,7°B 41,2°T / 76.7; -41.2Tọa độ: 76°42′B 41°12′T / 76,7°B 41,2°T / 76.7; -41.2
Diện tích1.710.000 km2 (660.000 sq mi)
Dài2.400 km (1.500 mi)
Dày2.000–3.000 m (6.600–9.800 ft)

Đây là khối băng lớn thứ hai trên thế giới, sau dải băng Nam Cực. Tấm băng dài gần 2.400 km (1.500 mi) theo hướng bắc-nam, và chiều rộng lớn nhất của nó là 1.100 km (680 dặm) ở vĩ độ 77 ° N, gần biên giới phía Bắc của nó. Độ cao trung bình của băng là 2.135 mét (7.005 ft).[1] Chiều dày nói chung là hơn 2 km (1,2 dặm) và trên 3 km (1,9 dặm) ở điểm dày nhất. Đây không phải là dải băng duy nhất của các sông băng tách biệt ở Greenland và các tảng băng nhỏ bao phủ khoảng 76.000 đến 100.000 km2 xung quanh vùng ngoại vi. Nếu toàn bộ 2.850.000 khối lập thể (684.000 cuil) băng tan, nó sẽ dẫn đến mực nước biển dâng toàn cầu tăng lên 7,2 m (24 ft)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ].[2] Khối băng Greenland đôi khi được gọi dưới cái tên "ice inland", hoặc tương đương với tiếng Đan Mạch, indlandsis. Nó cũng đôi khi được gọi là một chỏm băng.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Encyclopædia Britannica. 1999 Multimedia edition.
  2. ^ Climate Change 2001: The Scientific Basis. Contribution of Working Group I to the Third Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC) [Houghton, J.T.,Y. Ding, D.J. Griggs, M. Noguer, P.J. van der Linden, X. Dai, K. Maskell, and C.A. Johnson (eds.)]. Cambridge University Press, Cambridge, United Kingdom and New York, NY, USA, 881pp. [1],[2], and [3].