Gấu mặt ngắn Andes

Gấu mặt ngắn Andes (Tremarctos ornatus), còn được gọi là gấu mặt ngắn, gấu Andes, gấu bốn mắt, gấu mặt ngắn, hoặc gấu núi và ở địa phương là jukumari (AymaraQuechua[2]), ukumari (Quechua) hay ukuku, là loài gấu mặt ngắn cuối cùng còn sống (phân họ Tremarctinae). Họ hàng gần nhất của nó là loài Tremarctos floridanus của Florida đã tuyệt chủng,[3] và các loàigấu mặt ngắn khổng lồ của giữa đến cuối thế Pleistocen (ArctodusArctotherium).[4][5] Gấu mặt ngắn là loài gấu duy nhất còn sinh tồn có nguồn gốc từ Nam Mỹ và là thành viên duy nhất còn sống sót của phân họ Tremarctinae. Loài này được IUCN phân loại là loài sắp nguy cấpmất môi trường sống.

Gấu mặt ngắn Andes
Thời điểm hóa thạch: Cuối thế Pleistocen – Gần đây
Spectacled Bear 059.jpg
Con cái tại sở thú Cincinnati
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Carnivora
Họ (familia)Ursidae
Chi (genus)Tremarctos
Gervais, 1855
Loài (species)T. ornatus
Danh pháp hai phần
Tremarctos ornatus
(Cuvier, 1825)
Phạm vi phân bố gấu mặt ngắn
Phạm vi phân bố gấu mặt ngắn
Danh pháp đồng nghĩa
Ursus ornatus Cuvier, 1825

Mô tảSửa đổi

 
Tại vườn thú Cincinnati

Gấu mặt ngắn là loài gấu duy nhất có nguồn gốc từ Nam Mỹ và là loài ăn thịt lớn nhất trên đất liền của lục địa này, mặc dù chỉ có 5% khẩu phần ăn của chúng là thịt. Động vật có vú ăn thịt bắt buộc lớn nhất Nam Mỹ là báo đốm (Panthera onca). Trong số các loài động vật bản địa còn tồn tại ở Nam Mỹ, chỉ có lợn vòi Baird (Tapirus bairdii), lợn vòi Nam Mỹ (T. terrestris) và lợn vòi núi (T. pinchaque) là nặng hơn loài này.[6]

Gấu mặt ngắn là một loài gấu cỡ trung bình. Nhìn chung, bộ lông của nó có màu hơi đen, mặc dù những con gấu có thể thay đổi từ màu đen tuyền sang màu nâu sẫm và thậm chí là màu đỏ. Loài này thường có các mảng màu be hoặc màu gừng đặc biệt trên mặt và phần trên ngực, mặc dù không phải tất cả các loài gấu mặt ngắn đều có hoa văn "kính đeo mắt". Mẫu và mức độ của các mảng nhạt hơi khác nhau trên mỗi con gấu và có thể dễ dàng phân biệt các con gấu bằng cách này.[7] Con đực lớn hơn một phần ba so với con cái về kích thước và đôi khi gấp đôi trọng lượng của chúng.[8] Con đực có thể nặng từ 100 đến 200 kg, và con cái có thể nặng từ 35 đến 82 kg.[9] Chiều dài đầu và thân có thể từ 120 đến 200 cm, mặc dù con đực trưởng thành không đo được dưới 150 cm.[10][11] Trung bình con đực nặng khoảng 115 kg và con cái trung bình khoảng 65 kg, do đó nó là đối thủ của gấu Bắc Cực về loài gấu hiện đại dị hình về giới tính nhất.[12][13] Một con đực bị coi là béo phì nặng 222,5 kg.[14] Đuôi chỉ dài 7 cm và chiều cao đến vai từ 60 đến 90 cm. So với các loài gấu còn sống khác, loài này có khuôn mặt tròn trịa hơn với mõm tương đối ngắn và rộng. Ở một số loài đã tuyệt chủng thuộc phân họ Tremarctinae, cấu trúc khuôn mặt này được cho là sự thích nghi với chế độ ăn chủ yếu là thịt, bất chấp sở thích ăn thực vật của loài gấu mặt ngắn hiện đại.[15][16][17]

Khứu giác của gấu mặt ngắn cực kỳ nhạy bén. Chúng có thể nhận biết từ mặt đất khi cây có quả chín. Mặt khác, thính giác của chúng ở mức trung bình và thị lực của chúng ngắn.[18]

Phân bố và sinh cảnhSửa đổi

Bất chấp một số vụ tràn vào đông Panama,[19] Những con gấu mặt ngắn chủ yếu bị giới hạn ở một số khu vực nhất định của miền bắc và miền tây Nam Mỹ. Chúng có thể phân bố ở miền tây Venezuela,[20] Colombia, Ecuador, Peru, tây Bolivia và tây bắc Argentina. Phân bố địa lý kéo dài của nó chỉ rộng 200–650 km nhưng với chiều dài hơn 4600 km.[21]

Loài này được tìm thấy gần như hoàn toàn ở dãy núi Andes. Trước khi các quần thể gấu mặt ngắn trở nên phân mảnh trong 500 năm qua, loài này đã nổi tiếng là dễ thích nghi, vì chúng được tìm thấy ở nhiều môi trường sống và độ cao khác nhau trong phạm vi của nó, bao gồm rừng sương mù, đồng cỏ cao, rừng khô và cây bụi sa mạc. Một quần thể gấu mặt ngắn duy nhất ở biên giới PeruEcuador sinh sống trong nhiều loại môi trường sống như các loài gấu nâu trên thế giới (Ursus arctos) đang sinh sống hiện nay.[22] Môi trường sống tốt nhất cho loài gấu mặt ngắn là những khu rừng trên núi ẩm ướt đến rất ẩm ướt. Những khu rừng mây này thường chiếm dải độ cao 500 đến 1.000 m trong khoảng từ 1.000 đến 2.700 m tùy thuộc vào vĩ độ. Nói chung, những khu rừng này càng ẩm ướt thì càng có nhiều loài thức ăn có thể hỗ trợ gấu.[22][23] Đôi khi, chúng có thể đạt độ cao thấp tới 250 m, nhưng thường không được tìm thấy dưới 1.900 m ở chân đồi. Chúng thậm chí có thể sống đạt tới dãy núi tuyết ở độ cao hơn 5.000 m.[24][22][25] Vì vậy, ai cũng biết rằng gấu sử dụng tất cả các loại môi trường sống này trong các hoạt động di chuyển trong khu vực; tuy nhiên, mô hình theo mùa của những chuyển động này vẫn chưa được biết.[21]

Ngày nay, khu vực phân bố của Tremarctos ornatus bị ảnh hưởng bởi sự hiện diện của con người, chủ yếu là do sự phá hủy và suy thoái môi trường sống, săn bắn và chia cắt quần thể. Sự phân mảnh này chủ yếu được tìm thấy ở Venezuela, ColombiaEcuador và nó đại diện cho một số vấn đề đối với quần thể này bởi vì, trước tiên, tính bền bỉ của chúng bị ảnh hưởng nếu chúng là những quần thể nhỏ, biệt lập, ngay cả khi không phải đối mặt với việc mất môi trường sống hoặc bị săn bắn. Thứ hai, sự biến đổi của cảnh quan thể hiện sự mất đi sự sẵn có của loại môi trường sống mà gấu mặt ngắn cần. Thứ ba, sự phân mảnh khiến gấu bị săn bắt và giết hại do khả năng tiếp cận của nó.[21]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Velez-Liendo, X.; García-Rangel, S. (2017). Tremarctos ornatus (errata version published in 2018)”. IUCN Red List of Threatened Species 2017: e.T22066A123792952. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2020. 
  2. ^ Sichra, Inge (2003). La vitalidad del quechua: lengua y sociedad en dos provincias de Cochabamba (bằng tiếng Tây Ban Nha). Plural editores. tr. 121. ISBN 9789990575149. 
  3. ^ Krause, J.; Unger, T.; Noçon, A.; Malaspinas, A.; Kolokotronis, S.; Stiller, M.; Soibelzon, L.; Spriggs, H.; Dear, P. H.; Briggs, A. W.; Bray, S. C. E.; O'Brien, S. J.; Rabeder, G.; Matheus, P.; Cooper, A.; Slatkin, M.; Pääbo, S.; Hofreiter, M. (2008). “Mitochondrial genomes reveal an explosive radiation of extinct and extant bears near the Miocene-Pliocene boundary”. BMC Evolutionary Biology 8 (220): 220. PMC 2518930. PMID 18662376. doi:10.1186/1471-2148-8-220. 
  4. ^ Spectacled Bear. Grizzly Bear.org. Retrieved on 2011-09-26.
  5. ^ Spectacled Bears. Bear Planet. Retrieved on 2011-09-26.
  6. ^ Nowak, R.M. (1991). Walker’s Mammals of the World.'. The Johns Hopkins University Press, Baltimore and London, ISBN 0801857899.
  7. ^ Roth H.H. (1964). “Ein beitrag zur Kenntnis von Tremarctos ornatus (Cuvier)”. D. Zoolog. Garten 29: 107–129. 
  8. ^ Brown, Gary (1996). Great Bear Almanac. tr. 340. ISBN 1-55821-474-7. 
  9. ^ Spectacled, or Andean, Bear – National Zoo| FONZ Lưu trữ 2008-05-09 tại Wayback Machine. Nationalzoo.si.edu. Retrieved on 2011-09-26.
  10. ^ Macdonald, D. (2001). The New Encyclopedia of Mammals. Oxford University Press, Oxford, UK.
  11. ^ Servheen, C., Herrero, S. and Peyton, B. (1999). Bears: Status Survey and Conservation Action Plan. IUCN/SSC Bear and Polar Bear Specialist Groups, IUCN, Gland, Switzerland and Cambridge, UK.
  12. ^ Soibelzon, L. H., & Tarantini, V. B. (2009). Estimación de la masa corporal de las especies de osos fósiles y actuales (Ursidae, Tremarctinae) de América del Sur. Revista del Museo Argentino de Ciencias Naturales, 11(2), 243-254.
  13. ^ Bruijnzeel, L. A., Scatena, F. N., & Hamilton, L. S. (Eds.). (2011). Tropical montane cloud forests: science for conservation and management. Cambridge University Press.
  14. ^ Lisi, K. J., Barnes, T. L., & Edwards, M. S. (2013). Bear weight management: a diet reduction plan for an obese spectacled bear (Tremarctos ornatus). Journal of Zoo and Aquarium Research, 1(2), 81.
  15. ^ Spectacled bear videos, photos and facts – Tremarctos ornatus Lưu trữ 2011-02-19 tại Wayback Machine. ARKive. Retrieved on 2011-09-26.
  16. ^ Spectacled Bear. Brazilianfauna.com. Retrieved on 2011-09-26.
  17. ^ Burton, Maurice; Burton, Robert (1970). The international wildlife encyclopedia. Marshall Cavendish. tr. 2470–. ISBN 978-0-7614-7266-7. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2011. 
  18. ^ Castellanos, A., Altamirano, M., Tapia, G. (2005). Ecología y comportamiento de osos andinos reintroducidos en la Reserva Biológica Maquipucuna, Ecuador: implicaciones en la conservación. Politécnica, 26 (1) Biología 6: pp-pp, 2005. https://www.researchgate.net/profile/Armando_Castellanos/publication/237011243_Ecologia_y_Comportamiento_de_Osos_Andinos_Reintroducidos_en_la_Reserva_Biologica_Maquipucuna_Ecuador_Implicaciones_en_Conservacion/links/0c96051ae54b8ef3f0000000/Ecologia-y-Comportamiento-de-Osos-Andinos-Reintroducidos-en-la-Reserva-Biologica-Maquipucuna-Ecuador-Implicaciones-en-Conservacion.pdf
  19. ^ Bunnell, Fred (1984). Macdonald, D., biên tập. The Encyclopedia of Mammals. New York: Facts on File. tr. 96. ISBN 0-87196-871-1. 
  20. ^ “Spectacled bear, Andean bear, ucumari”. BBC – Science & Nature – Wildfacts. BBC. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  21. ^ a ă â Kattan, Gustavo; Hernández, Olga Lucía; Goldstein, Isaac; Rojas, Vladimir; Murillo, Oscar; Gómez, Carolina; Restrepo, Héctor; Cuesta, Francisco (2004). “Range fragmentation in the spectacled bear Tremarctos ornatus in the northern Andes”. Oryx (bằng tiếng Anh) 38 (2): 155–163. ISSN 0030-6053. doi:10.1017/S0030605304000298.  Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)
  22. ^ a ă â Servheen, C., Herrero, S. and Peyton, B. (1999). Bears: Status Survey and Conservation Action Plan. IUCN/SSC Bear and Polar Bear Specialist Groups, IUCN, Gland, Switzerland and Cambridge, UK.
  23. ^ Peyton, B. (1987). “Habitat components of the spectacled bear”. Ursus 7 (International Conf. Bear Res. and Manage): 127–133. 
  24. ^ Nowak, R.M. (1991). Walker’s Mammals of the World.'. The Johns Hopkins University Press, Baltimore and London, ISBN 0801857899.
  25. ^ Brown, A.D. and Rumiz, D.I. (1989). "Habitat and distribution of the spectacled bear (Tremarctos ornatus) in the southern limit of its range", pp. 93–103. in: M. Rosenthal (ed.) Proc. First Int. Symp. Spectacled Bear. Lincoln Park Zoological Gardens, Chicago Park District Press, Chicago, Illinois, U.S.A.

Tham khảoSửa đổi