Mở trình đơn chính

Hạt alpha hay tia alpha là một dạng của phóng xạ. Đó là hạt bị ion hóa cao và khó có khả năng đâm xuyên. Hạt alpha gồm hai proton và hai neutron liên kết với nhau thành một hạt giống hệt hạt nhân nguyên tử hellium. do đó, hạt alpha có thể được viết là He2+ hoặc là chỉ ra một ion helium có điện tích +2 (thiếu hai electron của nó). Nếu ion thu được electron từ môi trường của nó, hạt alpha trở thành nguyên tử helium bình thường là (trung hòa). Các hạt alpha, giống như hạt nhân helium, có độ xoáy ròng bằng không. Do cơ chế sản xuất của chúng trong phân rã phóng xạ alpha tiêu chuẩn, các hạt alpha thường có động năng khoảng 5 MeV và vận tốc trong khoảng 5% tốc độ ánh sáng. Chúng là một dạng bức xạ hạt có tính ion hóa cao và (là kết quả từ phân rã alpha phóng xạ) có độ sâu thâm nhập thấp. Trong không khí, tia α chuyển động với vận tốc khoảng 107 m/s. Đi được chừng vài cm trong không khí và chừng vài μm trong vật rắn, không xuyên qua được tấm bìa dày 1 mm.

Hạt alpha
Alpha Decay.svg
Cấu trúc2 proton, 2 neutron
Loại hạtBoson
Lý thuyếtErnest Rutherford
Khối lượng6.644 656 20(33)×10−27 kg

4.001 506 179 127(62) u

3.727 379 109(93) GeV/c2[1]
Điện tích2e
Spin0[2]

Hạt alpha xuất hiện trong phân rã của hạt nhân phóng xạ như là uranium hoặc radium trong một quá trình gọi là phân rã alpha (tiếng Anh: alpha decay). Đôi khi sự phân rã làm hạt nhân ở trạng thái kích thích khởi động phân rã gamma để giải thoát năng lượng.

Tia anpha lệch về phía cực âm của tụ điện, mang điện tích dương (gấp 2 lần điện tích của proton), có khối lượng bằng nguyên tử heli.

Phương trình phóng

   Dạng rút gọn

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Bản mẫu:CODATA2006
  2. ^ Krane, Kenneth S. (1988). Introductory Nuclear Physics, pp.246–269. John Wiley & Sons, Inc. ISBN 0-471-80553-X.

Liên kết ngoàiSửa đổi

  Phương tiện liên quan tới Alpha particles tại Wikimedia Commons