Họ Nhím chuột

Họ Nhím chuột (Erinaceidae) là một họ thuộc Bộ Eulipotyphla, bao gồm nhím gainguyệt thử. Cho đến gần đây, chúng mới được chỉ định vào Bộ Erinaceomorpha, được đổi từ Bộ Chuột chù (Soricomorpha) thành Bộ Eulipotyphla. Họ này được G. Fischer miêu tả năm 1814.[1]

Họ Nhím chuột[1]
Thời điểm hóa thạch: Eocene–Gần đây
Igel.JPG
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Eulipotyphla
Họ (familia)Erinaceidae
(G. Fischer, 1814)[1]
Các phân họ và chi

Họ Nhím chuột gồm loài nhím gai nổi tiếng (phân họ Erinaceinae) của lục địa Á-ÂuChâu Phi và các loài nguyệt thử (phân họ Galericinae) của Đông Nam Á. Họ này đã từng được coi là một phần của Bộ Ăn Côn trùng (Insectivora), nhưng bộ này hiện được coi là không còn tồn tại.

Nét đặc trưngSửa đổi

Nhím chuột thường có hình dạng giống như chuột chù, với mõm dài và đuôi ngắn. Tuy nhiên, chúng lớn hơn nhiều so với chuột chù, dài từ 10 đến 15 cm và nặng từ 40 đến 60 g; trong trường hợp chuột voi đồi, dài từ 26 lên đến 45 cm và nặng từ 1 đến 1,4 kg. Tất cả trừ một loài có năm ngón chân ở mỗi bàn chân, trong một số trường hợp có móng vuốt khỏe để đào bới, và chúng có mắt và tai lớn. Nhím gai sở hữu bộ lông biến đổi thành gai nhọn để tạo thành một lớp bảo vệ trên phần thân trên và sườn, trong khi nguyệt thử chỉ có bộ lông bình thường. Hầu hết các loài có tuyến mùi ở hậu môn, nhưng chúng phát triển tốt hơn nhiều ở các loài nguyệt thử, có thể có mùi rất nồng.[2]

Nhím chuột là loài ăn tạp, với phần lớn chế độ ăn uống của chúng bao gồm côn trùng, giun đất và các động vật không xương sống nhỏ khác. Chúng cũng ăn hạt và trái cây, và đôi khi trứng của chim, cùng với bất kỳ xác thối nào chúng kiếm được. Răng của chúng rất sắc và phù hợp với việc bắt những con mồi không xương sống. Công thức hàm răng cho nhím chuột là:  

Nhím gai là loài sống về đêm, nhưng nguyệt thử thì ít khi như vậy, và có thể hoạt động vào ban ngày. Nhiều loài sống trong các hang đơn giản, trong khi những loài khác xây tổ tạm thời trên bề mặt đất từ lá và cỏ, hoặc trú ẩn trong các khúc gỗ rỗng hay những nơi ẩn nấp tương tự. Nhím chuột là loài động vật sống đơn độc ngoài mùa sinh sản, con cha không có vai trò gì trong việc nuôi hay chăm sóc con non.[2]

Nhím chuột cái sinh con sau một khoảng thời gian mang thai từ sáu đến bảy tuần. Con non sinh ra mù và trần trụi, nhưng chúng bắt đầu mọc gai trong vòng 36 tiếng sau khi sinh.

Tiến hóaSửa đổi

Nhím chuột là một nhóm động vật nhau thai tương đối nguyên thủy, đã thay đổi rất ít kể từ khi chúng bắt nguồn từ thế Eocen. Cái tên gọi "nhím khổng lồ" (thực ra là nguyệt thử)Deinogalerix, từ thế Miocen của đảo Gargano (một phần của nước Ý ngày nay), có kích thước bằng một con thỏ lớn, và có thể đã ăn thịt động vật có xưng sống hoặc xác sống, thay vì côn trùng.[3]

Phân loạiSửa đổi

Hình ảnhSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â Hutterer, Rainer (16 tháng 11 năm 2005). Wilson D. E. và Reeder D. M. (chủ biên), biên tập. Mammal Species of the World . Ấn bản Đại học Johns Hopkins. tr. 212–219. ISBN 0-801-88221-4.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “msw3” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  2. ^ a ă “The Encyclopedia of Mammals”. 
  3. ^ “Mammal Evolution: an illustrated guide”. 

Tham khảoSửa đổi