Julian Ochorowicz

Julian Leopold Ochorowicz (['juljan lɛˈɔpɔld ɔxɔˈrɔvit͡ʂ]; bên ngoài Ba Lan còn được gọi là Julien Ochorowitz; Radzymin, 23 tháng 2 năm 1850 - 1 tháng 5 năm 1917, Warsaw) là một nhà triết học, nhà tâm lý học, nhà phát minh người Ba Lan (tiền thân của đài phát thanhtruyền hình [1]), nhà thơ, nhà công luận và là người dẫn đầu của Chủ nghĩa Thực chứng tại Ba Lan.

Julian Ochorowicz

Cuộc đờiSửa đổi

Julian Ochorowicz là con trai của Julian và Jadwiga, nhũ danh Sumińska.

Ochorowicz đã học khoa học tự nhiên tại Đại học Warsaw, tốt nghiệp năm 1871. Sau đó, ông đã học tại Đại học Leipzig dưới thời Wilhelm Wundt; năm 1874, ông nhận bằng tiến sĩ tại đó với luận án Về các điều kiện của ý thức.

Trở về Warsaw, vào năm 1874-75, ông là tổng biên tập của tạp chí nổi tiếng Niwa (The Field) bằng tiếng Ba Lan. Từ năm 1881 ông là phó giáo sư (docent) thuộc ngành tâm lý họctriết học tự nhiên tại trường Đại học Lwów.

Năm 1882, ông được gửi đến Paris, Pháp. Ông đã sống ở đó vài năm. Sau đó, từ năm 1907, ông trở thành đồng giám đốc của Institut General Psychologique.

Sau khi trở lại Warsaw, từ năm 1900, Ochorowicz là chủ tịch của Kasa Literacka (Quỹ Văn học). Ông đã xuất bản các bài báo giáo dục của mình trong Encyklopedia Wychowawcza (Bách khoa toàn thư về giáo dục).

Ochorowicz là người đi tiên phong trong nghiên cứu thực nghiệm trong tâm lý học và đã tiến hành các nghiên cứu về thuyết huyền bí, thuyết tâm linh, thôi miênthần giao cách cảm. Các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông bao gồm Wstęp i pogląd ogólny na filozofię pozytywną (Giới thiệu và Tổng quan về Triết học Tích cực, 1872) và Jak należy badać duszę? (Chúng ta nên nghiên cứu linh hồn như thế nào ?, 1869).

Ochorowicz với tư cách là nhà thơ đã đăng bài trên Przegląd Tygodniowy (Tạp chí Hàng tuần) dưới bút danh Julian Mohort. Ông đã viết bài thơ, " Naprzód " ("Tiến lên," 1873), được coi là tuyên ngôn của những người theo chủ nghĩa thực chứng Ba Lan.

 
Bolesław Prus

Ochorowicz, một nhà triết học được đào tạo với bằng tiến sĩ từ Đại học Leipzig, đã trở thành nhà lãnh đạo của phong trào Chủ nghĩa Thực chứng ở Ba Lan. Năm 1872, ông viết: "Chúng tôi sẽ gọi một người theo chủ nghĩa Thực chứng, bất kỳ ai dựa trên những khẳng định dựa trên bằng chứng có thể kiểm chứng được; người không bộc lộ một cách rõ ràng về những điều mà anh ta đáng nghi ngờ, và không nói gì cả về những điều mà anh ta không thể tiếp cận được." [2]

Năm 1877, ông đã xây dựng lý thuyết cho một máy thu hình đơn sắc, được cấu tạo như một màn hình bao gồm các bóng đèn có thể chuyển đổi hình ảnh truyền qua thành các nhóm điểm sáng.

Năm 1885, trong một vài dịp, ông đã cho ra mắt chiếc điện thoại cải tiến của riêng mình. Tại Paris, ông đã kết nối tòa nhà của Bộ Bưu chính và Điện báo với Nhà hát Opera Paris, cách đó 4 km. Tại Hội chợ Thế giới Antwerp, ông đã thiết lập một kết nối với Brussels, cách xa đó 45 km. Ông cũng đã kết nối St.Petersburg, Nga, với Bologoye, khoảng cách là 320 km.

Ông đã thử nghiệm với micro và với một bộ máy để truyền âm thanh và ánh sáng với khoảng cách xa, và vì vậy được coi là tiền thân của radio và truyền hình.

Ochorowicz đã tiến hành các thí nghiệm tại một phòng thí nghiệm tâm lý mà ông thành lập tại Wisła.

PrusSửa đổi

 
Eusapia Palladino, Warsaw, 1893
 
Nhà tâm lý học Ochorowicz theo dõi chặt chẽ khi Stanisława Tomczyk, nhà vận động học người Ba Lan, trong trạng thái hôn mê, làm chiếc kéo bay lên. Wisla, Ba Lan, 1909.[3][4]
 
Đài tưởng niệm Ochorowicz tại Wisła, nơi ông đã xây dựng thành một khu nghỉ dưỡng sức khỏe và điểm du lịch

Julian Ochorowicz là cựu học sinh trường trung học Lublin và là bạn học tại Đại học Warsaw của Bolesław Prus, người đã miêu tả ông trong cuốn tiểu thuyết năm 1889, The Doll, với tư cách là nhà khoa học "Julian Ochocki". Ochorowicz, sau khi trở về Warsaw từ Paris, vào năm 1893, đã giảng một số bài giảng công khai về kiến thức Ai Cập cổ đại. Những điều này rõ ràng đã giúp tạo cảm hứng cho Prus viết (1894–95) cuốn tiểu thuyết lịch sử duy nhất của ông, Pharaoh. Ochorowicz đã cung cấp cho Prus những cuốn sách về Ai Cập học mà ông đã mang về từ Paris.[5]

Cũng trong năm 1893, Ochorowicz đã giới thiệu Prus với nhà Tâm linh người Ý, Eusapia Palladino, người mà ông đã đưa đến Warsaw từ hành trình giao tiếp linh hồn của bà ở St.Petersburg, Nga.[6] Prus đã tham dự một số buổi lễ do Palladino tiến hành và lồng ghép một số cảnh hấp dẫn của nhà tâm linh nổi tiếng vào cuốn tiểu thuyết Pharaoh năm 1895 của ông.[7]

Ochorowicz tổ chức Palladino ở Warsaw từ tháng 11 năm 1893 đến tháng 1 năm 1894. Về các hiện tượng được chứng minh trong các buổi lễ của Palladino, ông kết luận chống lại giả thuyết linh hồn và đưa ra một giả thuyết cho rằng những hiện tượng này được gây ra bởi một "hành động linh động" và được thực hiện với cái giá phải trả là năng lượng của chính giao tiếp linh hồn và của những người tham gia khác trong séances. Ochorowicz, cùng với Frederic William Henry Myers, Charles Richet và Oliver Lodge, đã điều tra Palladino vào mùa hè năm 1894 tại nhà Richet trên đường Île du Grand Ribaud ở Địa Trung Hải. Myers và Richet cho rằng đồ đạc di chuyển trong thời gian diễn ra lễ hội và một số hiện tượng là kết quả của một vật thể siêu nhiên.[8] Tuy nhiên, Richard Hodgson tuyên bố có sự kiểm soát không đầy đủ trong quá trình séances và rằng các biện pháp phòng ngừa được mô tả không loại trừ thủ đoạn quỷ quyệt. Hodgson đã viết rằng tất cả các hiện tượng "được mô tả có thể được giải thích dựa trên giả định rằng Eusapia có thể có một tay hoặc chân không làm gì." Lodge, Myers và Richet không đồng ý, nhưng Hodgson sau đó đã được chứng minh là đúng trong các cuộc khảo sát ở Cambridge vì Palladino được nhận xét là đã sử dụng các thủ thuật chính xác theo cách mà ông đã mô tả.

Sau khi vợ của Ochorowicz bỏ ông đi, ông quyết định thực hiện một số thay đổi trong cuộc sống của mình: ông mua một mảnh đất ở Wisła là vùng núi của Ba Lan, xây cho mình một biệt thự cũng như bốn ngôi nhà bổ sung cho khách du lịch và tiếp tục sống dựa vào tiền cho thuê.

Khoảng vào ngày 20 tháng 6 năm 1900, Prus và gia đình ông đã đến thăm. Vào tháng 7, Prus đã đi đến khu vực gần Kraków, nơi cho đến đầu tháng 9, ông đã trải qua các cuộc điều trị sau khi một bác sĩ nhãn khoa, một nhà thần kinh học và một bác sĩ điều trị tuyến giáp của ông đã đưa ra những kết luận y học về sức khoẻ của ông.

Vào giai đoạn năm 1908–1909, tại Wisła, Ochorowicz đã nghiên cứu giao tiếp linh hồn của Stanisława Tomczyk.

Vào nửa sau của thế kỷ 19, Thuyết Tâm linh không phải là một chủ đề nghiên cứu không bình thường đối với các nhà tâm lý học nổi tiếng. Một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ có quan điểm ủng hộ thuyết Tâm linh là William James.

Thư mụcSửa đổi

  • Jak należy badać duszę? Czyli o metodzie badań Psychoicznych (Chúng ta nên nghiên cứu linh hồn như thế nào? Về Phương pháp Nghiên cứu Tâm lý học), năm 1869.
  • Miłość, zbrodnia, wiara ihicalność. Kilka studiów z psychologii kryminalnej (Tình yêu, Tội phạm, Niềm tin và Đạo đức: Một số Nghiên cứu về Tâm lý Tội phạm), năm 1870.
  • Wstęp i pogląd ogólny na filozofię pozytywną (Giới thiệu và Tổng quan về Triết học Tích cực), năm 1872.
  • Z dziennika Psychoa (Từ Tạp chí Nhà tâm lý học), năm 1876.
  • O twórczości poetyckiej ze stanowiska psychologii (Về sáng tạo thơ ca từ quan điểm của tâm lý học), năm 1877.
  • De la suggest mentale, deuxieme édition (ấn bản thứ hai), Paris, Doin, năm 1889.
  • Psychologia, sư phạm, etyka. Przyczynki do usiłowań naszego odrodzenia narodowego (Tâm lý học, Sư phạm, Đạo đức: Những đóng góp cho sự Tái sinh Quốc gia của Chúng ta), năm 1917.

Bản dịch:

Xem thêmSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ "Ochorowicz, Julian Leopold," Polski słownik biograficzny.
  2. ^ Tatarkiewicz, Historia filozofii, vol. 3, p. 177.
  3. ^ “Stanisława Tomczyk photo description at Diomedia”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2013. 
  4. ^ “The Sketch. A journal of art and actuality” 70. Ngày 8 tháng 6 năm 1910. tr. 277. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2013. 
  5. ^ Jan Wantuła, "Prus i Ochorowicz w Wiśle" ("Prus and Ochorowicz in Wisła"), in Stanisław Fita, ed., Wspomnienia o Bolesławie Prusie, p. 215.
  6. ^ Krystyna Tokarzówna and Stanisław Fita, Bolesław Prus, pp. 440, 443, 445-53.
  7. ^ Christopher Kasparek, "Prus' Pharaoh: Primer on Power", pp. 332-33.
  8. ^ Walter Mann. (1919). The Follies and Frauds of Spiritualism. Rationalist Association. London: Watts & Co. pp. 115-130

Tham khảoSửa đổi

  • "Ochorowicz, Julian Leopold," Polski słownik biograficzny, tập. 23, tr.   499–505.
  • T. Cienciała, " Julian Ochorowicz (1850-1917)," Kalendarz Cieszyński 2002, Cieszyn, 2001, pp.   222–24.
  • "Ochorowicz Julian," Encyklopedia Polski, Kraków, Wydawnictwo Ryszard Kluszczyński, 1996, tr.   453.
  • Krystyna Tokarzówna và Stanisław Fita, Bolesław Prus, 1847-1912: Kalendarz życia i twórczości (Bolesław Prus: Calendar of Life and Works), được biên tập bởi Zygmunt Szweykowski, Warsaw, Państwowy Instytut Wydawniczy, 1969, pp.   445–53 et passim.
  • Stanisław Fita, ed., Wspomnienia o Bolesławie Prusie (Hồi tưởng về Bolesław Prus), Warsaw, Państwowy Instytut Wydawniczy, 1962.
  • Christopher Kasparek, "Prus ' Pharaoh: Primer on Power ", The Polish Review, 1995, no. 3, pp.   331–34.
  • Monika Piątkowska, Prus: Śledztwo biograficzne (Prus: A Biographical Survey), Kraków, Wydawnictwo Znak, 2017, ISBN 978-83-240-4543-3.
  • Władysław Tatarkiewicz, Historia filozofii (Lịch sử triết học), 3 tập, Warsaw, Państwowe Wydawnictwo Naukowe, 1978.

Liên kết ngoàiSửa đổi