Kim Hyun-joong (sinh ngày 6 tháng 6 năm 1986) là nam diễn viên, ca sĩ và nhạc sĩ người Hàn Quốc,[2] cựu thành viên của nhóm nhạc nam SS501. Anh từng tham gia vai chính trong các bộ phim truyền hình Hàn QuốcVườn sao băngPlayful Kiss.[3]

Kim Hyun-joong
181023 '시간이 멈추는 그때' 제작발표회 김현중.png
Kim Hyun-joong năm 2018
Sinh김현중
6 tháng 6, 1986 (34 tuổi)
Seoul, Hàn Quốc Hàn Quốc
Học vịTrung học Kỹ thuật Hanyang
Đại học Kyonggi
Đại học Chungwoon
Nghề nghiệp
  • Actor
  • Dancer
  • Model
  • Singer
  • Songwriter
Đại lýHenecia Incorporated
Năm hoạt động2005–nay
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ
Năm hoạt động2005–nay
Hãng đĩa
Hợp tác với
Websitewww.hyun-joong.com
Chữ ký
Hyunjoong Signature.png
Tên khai sinh
Hangul
김현중
Hanja
金賢重
Romaja quốc ngữGim Hyeon-jung
McCune–ReischauerKim Hyŏn-chung
Hán-ViệtKim Hiền Trọng

Sau khi ra mắt cùng nhóm SS501 vào năm 2005, Kim Hyun-joong phát hành album cá nhân đầu tiên của mình bằng tiếng Hàn Quốc là Break Down vào năm 2011, và album solo tiếng Nhật đầu tiên với tên Unlimited năm 2012. Nhờ thành công về mặt thương mại, anh được coi là một trong những ngôi sao Hallyu lớn nhất của Hàn Quốc đầu những năm 2010.[4]

Tiểu sửSửa đổi

Kim Hyun-joong sinh ngày 6 tháng 6 năm 1986 tại Seoul.[2] Anh tự nhận mình là một đứa trẻ ham học[5] nhưng đã bỏ dở chương trình trung học để theo đuổi sự nghiệp âm nhạc. Sau đó, anh đã vượt qua kỳ thi trung học và đăng ký vào Đại học Kyonggi. Sau khi tạm dừng học đại học để tập trung vào công việc, Kim Hyun-joong ghi danh vào Đại học Chungwoon vào năm 2011 để học quản lý sản xuất sân khấu.[6]

Sự nghiệpSửa đổi

2005–2008: Khởi đầuSửa đổi

Kim Hyun-joong ra mắt lần đầu với tư cách thành viên nhóm nhạc nam SS501 vào ngày 23 tháng 6 năm 2005, với album EP đầu tiên của nhóm mang tên Warning, được phát hành bởi DSP Media.[7][8] Album EP thứ hai là Snow Prince được phát hành vào cuối năm 2005, năm tháng sau khi ra mắt.[9] Nhóm nhanh chóng nổi tiếng, giành được nhiều giải thưởng nghệ sĩ mới trong năm 2005 và 2006. Năm sau, năm 2007, SS501 ra mắt tại Nhật Bản với đĩa đơn "Kokoro," đã đạt vị trí thứ năm trên Bảng xếp hạng Oricon.[10]

 
Kim Hyun-joong trong đêm nhạc tại Hong Kong cùng nhóm SS501 năm 2009

Tháng 1 năm 2008, nhóm đã nhận được giải Tân binh tại lễ trao giải Japan Gold Disc Award, khiến họ trở thành một trong số ít các nghệ sĩ Hàn Quốc giành được giải thưởng này.[11]

Năm 2008, Kim Hyun-joong tham gia làm thành viên của chương trình truyền hình thực tế We Got Married, trong đó anh được ghép cặp với nữ ca sĩ Hwangbo. Được mệnh danh là "Cặp đôi rau diếp", cặp đôi này được nhiều khán giả yêu thích và giành giải Cặp đôi đẹp nhất tại Lễ trao giải truyền hình MBC năm 2008. Cả hai rời chương trình vào cuối năm 2008 để tập trung vào các dự án khác.[12]

2008–2010Sửa đổi

Năm 2008, Kim Hyun-joong được chọn vào dàn diễn viên chính trong phim truyền hình Hàn Quốc Vườn sao băng.[13] Bộ phim cực kỳ nổi tiếng tại Hàn Quốc và các nước châu Á khác,[14][15] và Kim Hyun-joong được trao giải Nam diễn viên được yêu thích nhất tại tại Giải thưởng phim truyền hình quốc tế Seoul năm 2009[16] và Giải thưởng Nam diễn viên được yêu thích nhất dành cho hạng mục phim truyền hình tại Lễ trao giải Baeksang năm 2009.[17]

Kim Hyun-joong và dàn diễn viên của Vườn sao băng cũng làm khởi tại xu hướng cho nam giới Hàn Quốc bắt chước phong cách "chàng trai đẹp như hoa" của họ.[18] Tony Moly, một thương hiệu mỹ phẩm Hàn Quốc mà Kim Hyun-joong làm đại diện thương hiệu từ năm 2006 đã chứng kiến ​​doanh số tăng 30% trong năm 2009, thương hiệu cho rằng nhờ vào sức hút của bộ phim.[19] Hợp đồng với Tony Moly kết thúc năm 2010,[20] và Kim Hyun-joong trở thành người phát ngôn cho một thương hiệu mỹ phẩm khác, The Face Shop, vào cuối năm đó.[21]

Tiếp nối thành công của phim truyền hình Vườn sao băng Kim Hyun-joong vào vai chính trong phim truyền hình Playful Kiss năm 2010, phiên bản chuyển thể từ truyện tranh shōjo manga Itazura na Kiss của Nhật Bản.[22] Bộ phim không thành công về tỷ suất khán giả trên truyền hình Hàn Quốc, nhưng là phim ăn khách trên truyền hình nước ngoài và trên các nền tảng phát trực tuyến, giúp củng cố sự nổi tiếng của Kim như một ngôi sao Hallyu.[23][24]

Vào cuối năm 2010, Kim Hyun-joong được chọn để đại diện cho Hàn Quốc tại buổi khai mạc Đại hội thể thao châu Á 2010 tại Quảng Châu, nơi anh biểu diễn bài hát "Sunshine Again" với các ca sĩ từ các quốc gia nói tiếng Trung Quốc.[25]

Kiện cáoSửa đổi

Bồi thường do hành hungSửa đổi

Tháng 8 năm 2014, bạn gái của Kim Hyun-joong, chỉ được nhắc đến danh tính qua phần họ là cô Choi, khởi kiện chống lại Kim, cho rằng anh liên tục hành hung cô, gây ra vết bầm tím và gãy xương sườn.[26][27][28] Kim Hyun-joong phủ nhận cáo buộc, nói rằng anh chỉ làm Choi bị thương một lần và đó là một tai nạn xảy ra khi anh đang luyện tập võ thuật.[29] Choi đã bỏ một số cáo buộc chống lại Kim vào tháng 9 sau khi anh xin lỗi cô.[28]

Tuy nhiên, sau đó Kim Hyun-joong đã phải bồi thường 5 triệu KRW vì làm Choi bị thương, theo các công tố viên trong vụ án cho biết: "Trong khi Kim tuyên bố rằng anh ta không có ý định làm tổn thương cô ấy, thì thương tích do bạo hành là rõ ràng."[29] Điều này sau đó đã bị hủy bỏ vào năm 2016 khi quân đội và tòa án dân sự của Hàn Quốc đã tha bổng cho Kim về những cáo buộc này do bằng chứng đưa ra ánh sáng, tin nhắn giữa Choi, mẹ và bạn bè của cô, giám đốc của hãng tin Dispatch và các tuyên bố được đưa ra bởi các bệnh viện được cô Choi.[30][31]

Nhận trách nhiệm làm chaSửa đổi

Tháng 2 năm 2015, một tờ báo đưa tin rằng Kim Hyun-joong và Choi đã tái hợp, và cô Choi đã có thai. Kim Hyun-joong tuyên bố thông qua một thông cáo báo chí rằng anh đã không gặp Choi kể từ khi cô nói với anh rằng cô có thai vào tháng 1, và không thể xác nhận nếu anh ta là cha.[32]

Vào tháng 5, cô Choi đã đệ đơn kiện Kim Hyun-joong đòi bồi thường 1.48 triệu USD vì tổn thất tinh thần do mối quan hệ giữa hai người, và tuyên bố rằng sự lạm dụng của Kim đã khiến cô bị sảy thai trước đó vào năm 2014.[33][34] Kim Hyun-joong sau đó đã nộp đơn kháng cáo yêu cầu bồi thường 100 triệu KRW chống lại Choi vì tội phỉ báng, với phán quyết của tòa án rằng có bằng chứng gián tiếp rằng cô không có thai vào năm 2014.[35] Đơn kiện của cô Choi đã bị bác bỏ, và cô đã kháng cáo quyết định này.[36]

Vào tháng 12 năm 2015, một xét nghiệm quan hệ huyết thống tiết lộ rằng Kim là cha của một em bé mà Choi đã sinh vào tháng 9 năm đó.[34][37]

Hình sự hóaSửa đổi

Các công tố viên đã nộp đơn tố giác tội phạm đối với cô Choi là bạn gái cũ của Kim Hyun-joong vì tội lừa đảo và phỉ báng vào tháng 1 năm 2017.[38] Vào tháng 2 năm 2018, cô Choi đã bị phạt 5 triệu KRW vì tội lừa đảo.[39]

Say rượu lái xeSửa đổi

Tháng 3 năm 2017, Kim Hyun-joong bị buộc tội lái xe khi say rượu sau khi cảnh sát tìm thấy anh gục trước vô lăng trong xe ô tô khi đến đèn tín hiệu giao thông ở Seoul. Bằng lái xe của Kim đã bị tịch thu và cuối cùng chịu phạt 2 triệu KRW.[40][41]

Quảng cáoSửa đổi

Dưới đây là danh sách không đầy đủ về các quảng cáo của Kim Hyun-joong trong quá khứ và hiện tại:

Giải thưởngSửa đổi

Kim Hyun-joong đã nhận được giải cho album phát hàng gồm một giải thưởng Daesang từ Lễ trao giải Tower Records' K-Pop Lovers!Giải, nhiều những giải thưởng liên tiếp từ Yahoo! Buzz và giải Nghệ sĩ nam hát đơn xuất sắc nhất trong Lễ trao giải Âm nhạc châu Á Mnet lần thứ 13 năm 2011.

Danh sách phimSửa đổi

Phim điện ảnhSửa đổi

Năm Tựa đề Tựa đề gốc Vai
2006 Pi's Story 파이 스토리 Lồng tiếng (phiên bản Hàn Quốc)

Phim truyền hìnhSửa đổi

Năm Tựa đề Tựa đề gốc Vai Kênh Thể loại
2005 Nonstop 5 논스톱 5 Guest Ep.208 MBC Sitcom
Can Love Be Refilled? 사랑도 리필이 되나요 William KBS2 Sitcom
2007 Hotelier ホテリアー Khách mời tập 7 (với SS501) TV Asahi Phim truyền hình
2008 Spotlight 스포트라이트 Khách mời (với SS501) MBC Drama
2009 Vườn sao băng 꽃보다 남자 Yoon Ji-hoo KBS2 Phim truyền hình
2010 Playful Kiss 장난스런 키스 Baek Seung-jo MBC Phim truyền hình
2011 Dream High 드림하이 Khách mời tập 1 KBS2 Phim truyền hình
2013 City Conquest 1 도시정벌 Baek Miru KBS Phim truyền hình
2014 Inspiring Generation 감격시대 Shin Jung-tae KBS2 Phim truyền hình

1Bộ phim đã bị huỷ bỏ nhưng dù vậy vẫn có một tập đặc biệt đã được lên sóng.

Chương trình thực tếSửa đổi

Năm Tựa đề Tựa đề gốc Tập Kênh
2005-7 X-Man / New X-Man X맨 / New X맨
  • X-Man]]: #39, 41-44, 46, 52, 61
  • New X-Man: #3, 4, 12
SBS
2006/2011 Golden Fishery 황금어장 Tập ngày 2006-12-06 / 2011-06-08 MBC
2008 We Got Married 우리 결혼했어요 Tập 9-38 trong mùa thứ 1 (với Hwangbo) MBC
2009 Haptic Mission 7 tập (với F4 và Son Dam Bi) quảng bá Samsung Anycall
Family Outing 패밀리가 떴다 Tập 64-65 SBS
2009-11 Happy Together 3 해피투게더 Tập 93, 94, 125, 202 KBS
2011 Running Man 런닝맨 Tập 46-47 SBS
Strong Heart 강심장 Tập 10-11, 81-83, 101-102. SBS
Secret 비밀 Tập 6-10 KBS
Night After Night 밤이면 밤마다 Tập 31 SBS
2012 Happy Camp 快乐大本营 Khách mời ngày 17 tháng 11 Đài Hồ Nam
K-Pop Star conquering the World Phim tài liệu MBC
2013 Barefooted Friends 맨발의 친구들 Người chơi cố định từ tập 1-29 SBS
Happy Together 3 해피투게더 Khách mời (Tập đặc biệt) KBS
Cool Kiz On The Block 우리동네 예능과 체육의 능력자 Tập 21-22 KBS2

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Kim Hyun-joong Re-signs With Key East Entertainment”. KBS World. 24 tháng 10 năm 2012. 
  2. ^ a ă 김현중 [Kim Hyun-joong]. Mnet (bằng tiếng Hàn). Truy cập 9 tháng 1 năm 2018. 
  3. ^ “[10LINE] Kim Hyun-joong”. 10Asia. 11 tháng 1 năm 2011. 
  4. ^ Lee, Nancy (16 tháng 1 năm 2012). “Who is the Most Successful Hallyu Star?”. Mnet. Bản gốc lưu trữ 21 tháng 4 năm 2017. Truy cập 9 tháng 1 năm 2018. 
  5. ^ Choe, Yeong-a (9 tháng 6 năm 2011). '어린시절 꿈 과학자‥무조건 올백 성적' 모범생 학창시절. Newsen (bằng tiếng Hàn). Truy cập 4 tháng 4 năm 2013. 
  6. ^ “Kim Hyun Joong của SS501 đi học trở lại”. Channel NewsAsia. 27 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ 28 tháng 5 năm 2011. Truy cập 4 tháng 4 năm 2018. 
  7. ^ “1st SS501”. Mnet (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  8. ^ Garratt, Rob (21 tháng 3 năm 2016). “K-pop band SS301 is grateful for supportive fans”. The National. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  9. ^ “2nd SS501”. Mnet (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  10. ^ Garcia, Cathy Rose A. (7 tháng 8 năm 2007). “Skull, TVXQ Hitting Overseas Charts”. The Korea Times. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  11. ^ 더블에스501, 일본 골든디스크상 신인상 수상. Daily Sports (bằng tiếng Hàn). 4 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  12. ^ Lee, Hyeon-u (30 tháng 12 năm 2008). “황보-김현중 MBC연예대상 베스트 커플상 수상”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Truy cập 4 tháng 4 năm 2018. 
  13. ^ Han, Sang-hee (10 tháng 2 năm 2009). “Boys Over Flowers Continues to Bloom in Korea”. The Korea Times. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  14. ^ Yoo, Bo-lam (3 tháng 3 năm 2010). 'Boys Over Flowers' explodes in popularity”. The Korea Herald. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  15. ^ Kang, Hye-ran; Lee, Young-hee (9 tháng 6 năm 2009). “The next 'Korean wave' washes ashore”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  16. ^ “Seoul Int'l Drama Awards End With Promise”. The Korea Times. 13 tháng 9 năm 2009. 
  17. ^ “The cast of hit KBS drama 'Boys Over Flowers' strut the...”. The Korea Times. Hãng thông tấn Yonhap. 1 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  18. ^ Tai, Crystal (24 tháng 6 năm 2017). “The cutting edge of beauty: male plastic surgery in South Korea”. South China Morning Post. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  19. ^ Jang, Seo-yun (2 tháng 2 năm 2009). 토니모리, '꽃남 김현중' 인기에 싱글벙글. Daily Cosmetics (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  20. ^ Kim, Ye-rang (17 tháng 8 năm 2010). 브아걸, 김현중 뒤이어 글로벌 화장품 모델 발탁…'뷰티 아이콘' 입증. The Korea Economic Daily (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  21. ^ “Kim Hyun-joong to endorse THEFACESHOP”. 10Asia. 2 tháng 9 năm 2010. 
  22. ^ Oh, Jean (29 tháng 8 năm 2010). “Kim Hyun-joong eager to prove worth as actor”. The Korea Herald. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  23. ^ Yu, Roger (21 tháng 3 năm 2013). “American audiences: I want my international TV”. USA Today. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  24. ^ “Kim Hyun-joong appeals to Asia”. HanCinema (Nate). 9 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  25. ^ “Kim Hyun-joong to Sing at Opening of Asian Games”. The Chosun Ilbo. 4 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  26. ^ “Kim Hyun-joong to Be Questioned Over Battery Accusation”. The Chosun Ilbo. 27 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2018. 
  27. ^ Lim, Jeong Yeo (21 tháng 7 năm 2016). “Kim Hyun-joong to receive first verdict in August”. The Jakarta Post. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2018. 
  28. ^ a ă “Kim Hyun-joong's ordeal continues”. The K-Pop Herald. 2 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2018. 
  29. ^ a ă Ock, Hyun-ju (20 tháng 1 năm 2015). “Kim Hyun-joong slapped with fine for assault”. The K-Pop Herald. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2018. 
  30. ^ Yugee (23 tháng 9 năm 2016). “Prosecution Issues Updates on Kim Hyun Joong vs. Former Girlfriend Legal Battle”. Korea Portal. Truy cập 17 tháng 9 năm 2019. 
  31. ^ “한류스타 김현중 '무고' '명예훼손'등도 무혐의”. 뉴스타운 (bằng tiếng Hàn). 22 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2020. 
  32. ^ “Kim Hyun Joong phủ nhận tin đồn hôn nhân, không chắc chắn về việc bạn gái có thai”. The K-Pop Herald. The Korea Herald. 25 tháng 2 năm 2015. Truy cập 16 tháng 4 năm 2018. 
  33. ^ “Kim Hyun-joong reportedly being sued by ex-girlfriend for $1.48 million”. The Korea Times US. 4 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2018. 
  34. ^ a ă “Xét nghiệm quan hệ cha con cho thấy ngôi sao Hàn Quốc Kim Hyun Joong là bố của em bé ba tháng tuổi”. The Straits Times. 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập 16 tháng 4 năm 2018. 
  35. ^ “Singer-actor Kim Hyun-joong wins compensation suit against ex-girlfriend”. Yonhap News Agency. 10 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2018. 
  36. ^ Hong, You-kyoung (30 tháng 11 năm 2017). “Amid trails, Kim Hyun-joong releases an EP”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2018. 
  37. ^ “Kim Hyun Joong xác nhận là cha của đứa bé”. Korea JoongAng Daily. 22 tháng 12 năm 2015. 
  38. ^ “Ex-Girlfriend Charged in Bitter Feud with Kim Hyun-joong”. The Chosun Ilbo. 19 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2018. 
  39. ^ 김현중 前여자친구, 1심서 벌금 500만원 선고. MK Sports (bằng tiếng Hàn). 8 tháng 2 năm 2018. Truy cập 16 tháng 4 năm 2018. 
  40. ^ “Actor Kim Hyun-joong Caught Drunk Driving”. The Chosun Ilbo. 31 tháng 3 năm 2017. Truy cập 16 tháng 04 năm 2018. 
  41. ^ “Singer-actor Kim Hyun-joong indicted for alleged drunk driving”. Hãng thông tấn Yonhap. 25 tháng 04 năm 2011. Truy cập 16 tháng 04 năm 2018. 
  42. ^ Kim, Mi-ju (ngày 20 tháng 5 năm 2012). “Wave rolls into cosmetics market”. Joongang Daily. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2012. 

Liên kết ngoàiSửa đổi