Mở trình đơn chính

Megan Anna Rapinoe (/rəˈpn/ (); sinh ngày 5 tháng 7 năm 1985) là một cầu thủ bóng đá người Mỹ chơi cho câu lạc bộ Reign FC và làm đội trưởng đội này trong National Women's Soccer League, cô chơi ở vị trí tiền vệTiền vệ cánh. Là thành viên của đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Hoa Kỳ, cô đã giúp đội tuyển nữ Hoa Kỳ giành chiến thắng World Cup FIFA World Cup 2019, World Cup FIFA Women 2015 và cúp vàng tại Thế vận hội Luân Đôn 2012, và kết thúc giải Á quân tại FIFA World Cup World Cup 2011. Kể từ năm 2018, cô đồng đội trưởng đội tuyển quốc gia của mình cùng với Carli LloydAlex Morgan.[2]

Megan Rapinoe
Megan Rapinoe (May 2019) (cropped).jpg
Rapinoe năm 2019
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Megan Anna Rapinoe
Ngày sinh 5 tháng 7, 1985 (34 tuổi)[1]
Nơi sinh Redding, California, Hoa Kỳ
Vị trí Tiền vệ, Tiền vệ cánh
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Reign FC
Số áo 15
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2002–2005 Elk Grove Pride
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2009–2010 Chicago Red Stars 38 (3)
2011 Philadelphia Independence 4 (1)
2011 magicJack 10 (3)
2011 Sydney FC 2 (1)
2012 Seattle Sounders Women 2 (0)
2013–2014 Olympique Lyonnais 28 (8)
2013– Seattle Reign/Reign FC 75 (37)
Đội tuyển quốc gia
2003–2005 {{subst:nftwu|20|Hoa Kỳ}} 21 (9)
2006– Hoa Kỳ 158 (50)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 8 July 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 17:42, July 7, 2019 (UTC)

Rapinoe nổi tiếng trên thế giới với phong cách chơi kỹ xảo[3][4][5] và qua mặt chính xác của cô trước Abby Wambach ở phút thứ 122 của trận tứ kết FIFA World Cup 2011 với Brazil, dẫn đến một bàn thắng cân bằng tỉ số và chiến thắng cuối cùng cho người Mỹ sau loạt sút luân lưu. Bàn thắng vào phút cuối đã lập kỷ lục về bàn thắng mới nhất từng được ghi trong một trận đấu và được trao giải thưởng ESPY 2011 của ESPN cho Chơi hay nhất trong năm. Trong Thế vận hội Luân Đôn 2012, cô đã ghi được ba bàn thắng và ghi bốn bàn thắng giúp đội tuyển cao dẫn dắt Hoa Kỳ giành huy chương vàng. Cô là cầu thủ nam/nữ đầu tiên ghi được bàn thắng trực tiếp từ một góc tại Thế vận hội. Rapinoe là người ủng hộ cho nhiều tổ chức LGBT, bao gồm Gay, Lesbian & Straight Education Network (GLSEN)Athlete Ally. Năm 2013, cô được trao giải thưởng của ban giám đốc bởi Trung tâm đồng tính nam và đồng tính nữ Los Angeles. Cô được tài trợ bởi Nike, SamsungDJO Global, và đã xuất hiện trong nhiều tác phẩm quảng cáo cho công ty quần áo Wild Phường, cũng như cho Nike. Trước đây cô từng chơi cho Chicago Red Stars, Philadelphia Độc lậpmagicJack trong Bóng đá nữ chuyên nghiệp (WPS) cũng như Olympique Lyonnais ở Pháp Phân khu 1 Féminine.

Thời trẻSửa đổi

Rapinoe lớn lên ở Redding, California, cùng với cha mẹ, Jim và Denise, và năm anh chị em của cô, bao gồm cả anh em sinh đôi, Rachael Rapinoe. Cô thần tượng anh trai Brian, và bắt đầu đá bóng từ năm ba tuổi khi anh bắt đầu chơi.[6] Khi cô mười tuổi và anh mười lăm tuổi, anh bị giam giữ ở tuổi vị thành niên, và sau đó vào và ra khỏi nhiều nhà tù khác nhau, bao gồm siêu tù Nhà tù bang Pelican Bay. Brian đã nỗ lực hết sức để tránh ma túy sau khi nhìn thấy thành công của em gái mình trong bóng đá quốc tế.[7] Đối với cả Rachael và Megan, bóng đá là một phương tiện để thoát khỏi tình trạng lạm dụng ma túy đang lan rộng ở vùng nông thôn California.[6]

Thời trung họcSửa đổi

Rapinoe dành phần lớn tuổi trẻ của mình để chơi với các đội do cha cô huấn luyện cho đến khi học trung học.[8] Instead of playing soccer at Foothill High School, Rapinoe played for the Elk Grove Pride club team, located south of Sacramento.[9][10] Cô thi đấu khi là sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai; thi đấu bóng rổ với tư cách là sinh viên năm nhất, năm hai và năm cuối; và đã ở trên danh dự mỗi học kỳ của trường trung học.[10] đã được Parade Hiệp hội Huấn luyện viên Bóng đá Quốc gia Hoa Kỳ (NSCAA) Toàn Mỹ như một junior và senior. Cô được chọn vào Đội bóng đá nữ trường trung học toàn Mỹ của McDonald năm 2004.[11] Rapinoe đã chơi cho đội Chương trình Phát triển Olympic (ODP) dưới 14 tuổi ở Bắc California vào năm 1999 cũng như đội ODP khu vực vào năm 2002.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Megan Rapinoe”. United States Olympic & Paralympic Committee. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2018. 
  2. ^ Kassouf, Jeff (3 tháng 10 năm 2018). “USWNT notebook: Scheduling, captains and other updates from World Cup qualifying camp”. The Equalizer. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2018. 
  3. ^ Kassouf, Jeff (28 tháng 6 năm 2013). “With Rapinoe, Solo, Seattle Reign FC finally putting the pieces together”. NBC Sports. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014. 
  4. ^ Saffer, Paul (16 tháng 8 năm 2013). “Hamm explains United States system”. UEFA. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014. 
  5. ^ Voisin, Ailene (9 tháng 7 năm 2012). “Redding native Megan Rapinoe's soccer fortunes keep rising; Olympics ahead”. The Sacramento Bee. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014. 
  6. ^ a ă Oxenham, Gwendolyn. “Pinoe's Biggest Fan”. United States Soccer Federation. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2019. 
  7. ^ Oxenham, Gwendolyn. “Megan Rapinoe's greatest heartbreak – and hope”. ESPN. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019. 
  8. ^ Carlisle, Jeff (24 tháng 7 năm 2012). “Megan Rapinoe's long road back”. ESPN. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2013. 
  9. ^ Armour, Nancy (2 tháng 7 năm 2011). “Redding native Megan Rapinoe scores in U.S. win over Colombia in Women's World Cup”. Redding Record Searchlight. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2013. 
  10. ^ a ă “Player Bio: Megan Rapinoe”. United States Soccer Federation. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  11. ^ “McDonalds All-American Soccer Teams”. Rivals.com. 11 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2019. 

Liên kết ngoàiSửa đổi