UEFA Women's Champions League

UEFA Women's Champions League, trước đây gọi là UEFA Women's Cup (2001–2009), là một giải đấu bóng đá nữ quốc tế. Giải bao gồm các câu lạc bộ hàng đầu từ các quốc gia trực thuộc cơ quan quản lý châu Âu UEFA.

UEFA Women's Champions League
UEFA Women's Champions League logo (2021).svg
Thành lập2001; 22 năm trước (2001)
Khu vựcChâu Âu (UEFA)
Số đội16 (vòng bảng)
72 (tổng cộng)
Đội vô địch
hiện tại
Pháp Lyon (lần thứ 8)
Câu lạc bộ
thành công nhất
Pháp Lyon (8 lần)
Truyền hìnhDAZN (ngoại trừ MENA)
beIN Sports (chỉ MENA)
Trang webTrang web chính thức
UEFA Women's Champions League 2022-23

Giải đấu lần đầu được diễn ra vào mùa giải 2001–02 dưới tên gọi UEFA Women's Cup và được đổi tên thành Champions League cho mùa giải 2009–10. Những thay đổi rõ rệt nhất vào năm 2009 là việc bổ sung các đội á quân từ 8 quốc gia đứng đầu, tổ chức chung kết một lượt so với chung kết hai lượt vào các năm trước và cho đến năm 2018 là diễn ra trận chung kết ở cùng thành phố như trận chung kết UEFA Champions League của nam. Từ mùa giải 2021–22, vòng đấu chính bao gồm một vòng đấu bảng lần đầu tiên trong kỷ nguyên Women's Champions League.

Lyon là câu lạc bộ thành công nhất trong lịch sử giải đấu, giành chức vô địch 8 lần, bao gồm năm chức vô địch liên tiếp từ 2016 đến 2020.

Thể thứcSửa đổi

UEFA Women's CupSửa đổi

Ban đầu sẽ có một vòng sơ loại để giảm số đội xuống còn 32. Mùa giải đầu tiên chỉ có hai đội thi đấu lượt đi lượt về, các mùa giải sau là giải đấu nhỏ gồm bốn đội thi đấu vòng tròn một lượt để chọn đội đầu bảng vào vòng chung kết. Tại vòng chung kết các đội được chia làm tám bảng bốn đội. Mỗi bảng đấu được tổ chức tại một địa điểm cố định và thi đấu trong vòng năm ngày. Các đội đầu bảng lọt vào tứ kết. Các vòng đấu loại trực tiếp thi đấu lượt đi và về (ngoại trừ trận chung kết năm 2012 khi chỉ tổ chức một lượt duy nhất).

Trong mùa giải 2004-05 vòng bảng gồm bốn bảng với hai đội đầu bảng của mỗi bảng vào tứ kết.

Champions LeagueSửa đổi

Vào ngày 11/12/2008, UEFA công bố giải đấu sẽ được tổ chức lại và đổi tên là UEFA Women's Champions League.[1] Giải đấu mới được tạo ra để các đội á quân quốc gia châu Âu được tham dự,[2] trong khi trận chung kết sẽ được thi đấu một lần duy nhất.

Trước đó ngày 31 tháng 3 năm 2008 UEFA xác nhận rằng 8 quốc gia hàng đầu dựa trên Hệ số UEFA từ mùa 2003–04 tới 2007–08 sẽ được trao hai suất dự giải[2], bao gồm:

Đội đương kim vô địch có quyền được dự giải năm sau nếu họ không giành quyền tham dự thông qua giải quốc nội, và sẽ bắt đầu tại vòng 32 đội. Giải đấu mở rộng đối với 54 nước thành viên của UEFA, tuy nhiên, không phải liên đoàn nào cũng có một giải bóng đá nữ quốc gia, ví dụ như Andorra, Liechtenstein, San MarinoGibraltar là các nước chưa từng tham dự. Do sự tham dự không đồng đều, số đội dự vòng sơ loại và vòng 32 đội mỗi năm một khác.

Nhà tài trợSửa đổi

Cho đến mùa giải 2015–18, UEFA Women's Champions League từng có cùng nhà tài trợ với UEFA Champions League. Tuy nhiên, bắt đầu từ mùa giải 2018–21, các giải đấu bóng đá nữ – bao gồm cả Champions League – có các nhà tài trợ riêng.

Những nhà tài trợ chính thức

Các trận chung kếtSửa đổi

Chung kết UEFA Women's CupSửa đổi

Mùa giải Đội vô địch Tổng tỷ số Đội hạng nhì Kết quả các lượt trận
2001-02   1. FFC Frankfurt 2 - 0   Umeå IK Một trận hòa tại Waldstadion, Frankfurt, Đức
2002-03   Umeå IK 7 - 1   Fortuna Hjørring 4 - 1 Gammliavallen, Umeå, Thụy Điển
3 - 0 Sân vận động Hjørring, Hjørring, Đan Mạch
2003-04   Umeå IK 8 - 0   1. FFC Frankfurt 3 - 0 Sân vận động Råsunda, Solna, Thụy Điển
5 - 0 Frankfurter Volksbank Stadion, Frankfurt, Đức
2004-05   1. FFC Turbine Potsdam 5 - 1   Djurgården/Älvsjö 2 - 0 Stockholms Olympiastadion, Stockholm, Thụy Điển
3 - 1 Karl-Liebknecht-Stadion, Potsdam, Đức
2005-06   1. FFC Frankfurt 7 - 2   1. FFC Turbine Potsdam 4 - 0 Karl-Liebknecht-Stadion, Potsdam, Đức
3 - 2 Frankfurter Volksbank Stadion, Frankfurt, Đức
2006-07   Arsenal 1 - 0   Umeå IK 1 - 0 Gammliavallen, Umeå, Thụy Điển
0 - 0 Meadow Park, Borehamwood, Anh Quốc
2007-08   1. FFC Frankfurt 4 - 3   Umeå IK 1 - 1 Gammliavallen, Umeå, Thụy Điển
3 - 2 Commerzbank-Arena,[11] Frankfurt, Đức
2008-09   FCR 2001 Duisburg 7 - 1   Zvezda 2005 Perm 6 - 0 Sân vận động Trung tâm, Kazan, Nga
1 - 1 MSV Arena, Duisburg, Đức

Chung kết UEFA Women's Champions LeagueSửa đổi

Mùa giải Đội vô địch Tỷ số Đội hạng nhì Sân vận động
2009-10   1. FFC Turbine Potsdam 0 - 0* (7 - 6)**   Olympique Lyon Coliseum Alfonso Pérez, Getafe
2010-11   Olympique Lyon 2 - 0   1. FFC Turbine Potsdam Craven Cottage, Luân Đôn
2011-12   Olympique Lyon 2 - 0   1. FFC Frankfurt Olympiastadion, München
2012-13   VfL Wolfsburg 1 - 0   Olympique Lyon Stamford Bridge, Luân Đôn
2013-14   VfL Wolfsburg 4 - 3   Tyresö FF Estádio do Restelo, Lisbon
2014-15   1. FFC Frankfurt 2 - 1   Paris Saint-Germain Friedrich-Ludwig-Jahn-Sportpark, Berlin
2015-16   Olympique Lyon 1 - 1* (4 - 3)**   VfL Wolfsburg Sân vận động Mapei, Reggio Emilia
2016-17   Olympique Lyon 0 - 0* (7 - 6)**   Paris Saint-Germain Sân vận động Thành phố Cardiff, Cardiff
2017-18   Olympique Lyon 4 – 1*   VfL Wolfsburg Sân vận động Dynamo Valeriy Lobanovskyi, Kiev
2018-19   Olympique Lyon 4 - 1   Barcelona Groupama Aréna, Budapest
2019-20   Olympique Lyon 3 - 1   VfL Wolfsburg Anoeta, Gipuzkoa
2020-21   Barcelona 4 - 0   Chelsea Gamla Ullevi, Gothenburg
2021-22   Barcelona 1 - 3   Lyon Sân Juventus , Turin



(*sau khi đá Hiệp phụ; **đá luân lưu 11 m)

Thống kêSửa đổi

Xếp hạng các quốc gia có số lần vô địch nhiều nhấtSửa đổi

Quốc gia Vô địch Hạng nhì Vào bán kết Vô địch Hạng nhì Vào bán kết
  Đức 9 7 9
  Pháp 8 4 8
  Thụy Điển 2 5 4
  Anh 1 1 10
  Tây Ban Nha 1 2 2
  Đan Mạch 0 1 3
  Nga 0 1 0
  Na Uy 0 0 2
  Phần Lan 0 0 1
  Ý 0 0 1

Kể từ khi thay đổi thể thức vào năm 2009, không có đội nào từ quốc gia ngoài hai đội hàng đầu giành được danh hiệu, ngoại trừ Barcelona vào năm 2021. Các đội duy nhất từ ​​các quốc gia ngoài hai đội hàng đầu giành được vị trí á quân trong thời gian đó là Tyresö vào năm 2014, Barcelona vào năm 2019 và Chelsea vào năm 2021.

Ngoài ra, không có đội nào từ một quốc gia nằm ngoài top bốn lọt vào bán kết cho đến khi Brøndby vào năm 2015. Kể từ đó, Barcelona đã lọt vào bán kết vào các năm 2017, 2019, 2020 và 2021 (và họ tiếp tục giành danh hiệu vào năm 2021).

Xếp hạng theo câu lạc bộSửa đổi

Câu lạc bộ Vô địch Hạng nhì Năm Vô địch Năm hạng Nhì
  Lyon 8 2 2011, 2012, 2016, 2017, 2018, 2019, 2020, 2022 2010, 2013
  Frankfurt 4 2 2002, 2006, 2008, 2015 2004, 2012
  Umeå 2 3 2003, 2004 2002, 2007, 2008
  VfL Wolfsburg 2 3 2013, 2014 2016, 2018, 2020
  Turbine Potsdam 2 2 2005, 2010 2006, 2011
  Barcelona 1 2 2021 2019, 2022
  Arsenal 1 0 2007
  Duisburg 1 0 2009
  Paris Saint-Germain 0 2 2015, 2017
  Fortuna Hjørring 0 1 2003
  Djurgården/Älvsjö 0 1 2005
  Zvezda Perm 0 1 2009
  Tyresö 0 1 2014
  Chelsea 0 1 2021

Vua phá lướiSửa đổi

Giải vua phá lưới được trao cho cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong toàn bộ giải đấu, do đó nó bao gồm cả các vòng loại. Margrét Lára Vidarsdóttir của Iceland đã 3 lần đoạt giải. Ada Hegerberg giữ kỷ lục ghi nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải.

Mùa Tên cầu thủ (Câu lạc bộ) Số bàn
2001-02   Gabriela Enache (FC Codru Anenii Noi) 12
2002-03   Hanna Ljungberg (Umeå IK) 10
2003-04   Maria Gstöttner (SV Neulengbach) 11
2004-05   Conny Pohlers (1. FFC Turbine Potsdam) 14
2005-06   Margrét Lára Viðarsdóttir (Valur Reykjavík) 11
2006-07   Julie Fleeting (Arsenal LFC) 9
2007-08   Vira Dyatel (Zhilstroy-1 Karkhiv)
  Patrizia Panico (ASD CF Bardolino Verona)
  Margrét Lára Viðarsdóttir (Valur Reykjavík)
9
2008-09   Margrét Lára Viðarsdóttir (Valur Reykjavík) 14
2009-10   Vanessa Bürki (FC Bayern München) 11
2010-11   Inka Grings (FCR 2001 Duisburg) 13
2011-12   Camille Abily (Olympique Lyonnais)
  Eugénie Le Sommer (Olympique Lyonnais)
9
2012-13   Laura Rus (Apollon Limassol) 11
2013-14   Milena Nikolić (ŽFK Spartak) 11
2014-15   Célia Šašić (Frankfurt) 14
2015-16   Ada Hegerberg (Olympique Lyonnais) 13
2016-17   Zsanett Jakabfi (Wolfsburg)
  Vivianne Miedema (FC Bayern München)
8
2017-18   Ada Hegerberg (Olympique Lyonnais) 15
2018-19   Pernille Harder (Wolfsburg) 8
2019-20   Vivianne Miedema (Arsenal)
  Emueje Ogbiagbevha (FC Minsk)
  Berglind Björg Þorvaldsdóttir (Breiðablik)
10
2020-21   Jennifer Hermoso (FC Barcelona )
  Fran Kirby (Chelsea)
6
2021-22   Alexia Putellas (FC Barcelona ) 11

Cầu thủ ghi bàn hàng đầu mọi thời đạiSửa đổi

Tính đến 21 tháng 2022[12] cầu thủ Bold vẫn còn thi đấu.
Hạng Vua phá lưới Bàn thắng Câu lạc bộ
1   Ada Hegerberg 59 Stabæk, 1. FFC Turbine Potsdam, Olympique Lyon
2   Anja Mittag 51 1. FFC Turbine Potsdam, FC Rosengård, Paris Saint-Germain, Wolfsburg, FC Rosengård
3   Conny Pohlers 48 1. FFC Turbine Potsdam, 1. FFC Frankfurt, Wolfsburg
4   Eugénie Le Sommer 47 Olympique Lyon
5   Marta 46 Umeå IK, Tyresö FF, FC Rosengård
6   Camille Abily 43 Montpellier, Olympique Lyon
7   Lotta Schelin 42 Olympique Lyon, FC Rosengård
7   Kim Little 42 Hibernian, Arsenal
8   Nina Burger 40 SV Neulengbach
10   Hanna Ljungberg 39 Umeå IK

Tiền thưởngSửa đổi

Tiền thưởng được trao lần đầu năm 2010 cho hai đội lọt vào chung kết. Năm 2011 tiền thưởng được trao cho cả các đội thua bán kết và tứ kết.[13] Cơ cấu tiền thưởng hiện nay là:

  • €250.000 cho đội vô địch
  • €200.000 cho đội á quân
  • €50.000 cho đội thua bán kết
  • €25.000 cho đội thua tứ kết

Các đội cũng nhận 20.000 euro cho mỗi vòng thi đấu. Tuy nhiên các con số trên bị coi là quá ít, không đủ bù vào phí đi lại.[14]

Hình ảnhSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Women's Champions League launches in 2009”. ngày 11 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2009.
  2. ^ a b “Women's Champions League details confirmed” (PDF). Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2009.
  3. ^ “Visa signs ground-breaking seven-year women's football deal with UEFA”. UEFA.com. Union of European Football Associations. 6 tháng 12 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2021.
  4. ^ “adidas Kick Off Partnership with WUCL Ahead of the 2021/22 Champions League Group Stages”. VERSUS (bằng tiếng Anh). 13 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2021.
  5. ^ UEFA.com (23 tháng 2 năm 2020). “Hublot becomes official partner of UEFA Women's EURO 2021 | Inside UEFA”. UEFA.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2020.
  6. ^ UEFA.com (26 tháng 8 năm 2020). “PepsiCo signs 5-year deal to sponsor UEFA Women's football | Inside UEFA”. UEFA.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2020.
  7. ^ UEFA.com (22 tháng 3 năm 2021). “Just Eat Takeaway.com to sponsor UEFA Champions League & UEFA Women's EURO in wide-ranging partnership | Inside UEFA”. UEFA.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2021.
  8. ^ UEFA.com (20 tháng 5 năm 2021). “Euronics Group becomes official sponsor of UEFA Women's Football | Inside UEFA”. UEFA.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2021.
  9. ^ UEFA.com (14 tháng 7 năm 2021). “Grifols becomes official partner of UEFA Women's Football | Inside UEFA”. UEFA.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2021.
  10. ^ UEFA.com (26 tháng 8 năm 2021). “Heineken becomes official partner of UEFA Women's Football | Inside UEFA”. UEFA.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2021.
  11. ^ uefa.com - UEFA Women's Cup
  12. ^ “Hegerberg reigns as all-time top scorer”. UEFA.com. Union of European Football Associations. 16 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2017. Truy cập 27 tháng 2021. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |access-date= (trợ giúp)
  13. ^ “UEFA Women's Champions League factsheet” (PDF). UEFA. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2013.
  14. ^ “British teams competing in Women's Champions League receive 'farcical' funding from Uefa”. telegraph.co.uk. ngày 6 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2013.

Xem thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi