Nguyễn Hữu Độ (quan nhà Nguyễn)

Quan nhà Nguyễn

Nguyễn Hữu Độ (阮有度, 18331888) tự Hi Bùi (希裴), hiệu Tông Khê (宋溪), là một đại thần đời vua Đồng Khánh, từng giữ chức Kinh lược Bắc Kỳ, Tổng đốc Ninh. Ông là cha của Hoàng hậu Đồng Khánh đế Nguyễn Hữu Thị Nhàn và Huyền phi Thành Thái đế Nguyễn Hữu Thị Nga

Ngài Nguyễn Hữu Độ (1833-1888), Kinh lược sứ Bắc Kỳ đầu tiên (hình chụp năm 1888)
Ngài Nguyễn Hữu Độ (1833-1888), Kinh lược sứ Bắc Kỳ đầu tiên (hình chụp năm 1888)

Tiểu sửSửa đổi

Nguyễn Hữu Độ sinh năm Quý Tỵ (1833) quê ở làng Gia Miêu, tổng Thượng Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay là làng Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa). Thửa nhỏ đã biết nói năm từ "Càn Nguyên Hanh Lợi Trinh" (乾元亨利貞), nhưng đến sau 7 tháng tuyệt nhiên không nói và bị những đứa trẻ khác chế nhạo. Sau đó một lần bị ngã vào nồi canh, may nhờ có danh y chữa trị. Sau đó, lại bị rơi xuống biển, dòng nước chảy xiết, ông may mắn được một vòi cát cản lại và lại thoát chết. Người ta tin rằng Nguyễn Hữu Độ gặp đại nạn mà không chết ắt có may mắn sau này.

Nguyễn Hữu Độ mong muốn tham dự khoa cử nhưng liên tiếp gặp thất bại. Sau đó ông nhập Thái học để học tập chăm chỉ. Năm Tự Đức thứ 20 (1866) ông trúng Cử nhân. Ban đầu ông nhậm chức Giáo thụ phủ Kinh Môn, sau làm Tri huyện Nghiêu Phong. Thời kỳ này hải tặc làm loạn, Nguyễn Hữu Độ nhậm chức huấn luyện tráng đinh chuẩn bị thuyền truy kích tại Xuân Áng, Hà NguyênNhạc Viên, đã chiến đấu và đánh bại hải tặc ở những nơi này. Năm Tự Đức thứ 26 (1873), ông quản việc thương vụ tỉnh Quảng An. Vào thời điểm đó, năm 1873, thực dân Pháp và phong trào kháng chiến Việt Nam giao chiến với nhau ở Bắc Kỳ, nhiều thành trì không được phòng thủ. Nguyễn Hữu Độ và Tuần phủ Hồ Trọng Đĩnh thảo luận về việc tu sửa thành trì. Vài tháng sau, Nguyễn Văn Tường và Thống sát Pháp quốc gặp nhau giảng hòa, tại Hải Môn đã gặp Nguyễn Hữu Độ bổ nhiệm làm quyền Bố chính sứ Hải Dương. Năm Tự Đức thứ 27 (1874), làm giám đốc sở công Hải Phòng, quyền Tiễu phủ sứ.

Nguyễn Hữu Độ là người học thức uyên bác. Năm 1880-1883 ông giữ chức Kinh lược Bắc Kì khi quân Pháp chiếm Hà Nội. Sau này, ông là người giữ một vai trò quyết định cho việc Đồng Khánh lên ngôi (vì con gái ông là chính phi của vua Đồng Khánh) nên được phong làm cố mạng lương thần gia hàm Thái sư, cần chánh điện đại học sĩ kiêm Cơ mật đại thần.

Cộng tác với PhápSửa đổi

Dư luận đương thời cho rằng Nguyễn Hữu Độ là người có liên hệ mật thiết với Pháp, nhất là với Palasme de Champeaux, nên lời nói ông được Pháp nghe hơn cả và chính ông và Đồng Khánh cố ý thảm sát Phụ chánh đại thần Phan Đình Bình sau khi ông làm Phụ chánh cho vua Đồng Khánh.

Nguyễn Hữu Độ cũng được cho là phải chịu trách nhiệm trong việc phá hủy chùa Báo Thiên và nhượng lại mảnh đất đó cho thực dân Pháp xây Nhà thờ Lớn Hà Nội. Trong một lá thư viết trước khi chết gửi toàn quyền và khâm sứ Pháp, Nguyễn Hữu Độ đã ca tụng thực dân Pháp: "Chính phủ Pháp vĩ đại đã không lìa bỏ chúng tôi... và tôi đã được ân trạch giao tiếp với những viên chức cao cấp để giải quyết các vấn đề quốc gia. Nếu nước tôi có được như ngày nay đó là nhờ lòng nhân đức của chính phủ Pháp... Than ôi, tôi không thể nào bày tỏ tất cả lòng tri ân nồng nhiệt và chân thành của tôi đối với chính phủ Pháp"

Lúc sinh thời (1883), Nguyễn Hữu Độ đã lập sinh từ thờ sống mình tại khu vực mà sau đó hình thành nên phố Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến).

Nguyễn Hữu Độ mất tại Hà Nội ngày 18 tháng 12 năm 1888, thọ 75 tuổi. Di hài đưa về chônHuế.

Phê phánSửa đổi

Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã viết bài thơ "Quá quận công Nguyễn Hữu Độ Sinh Từ hữu cảm" (Cảm nghĩ lúc qua Sinh Từ quận công Nguyễn Hữu Độ) bằng chữ Hán như sau:

Lâu đài thử địa hà nguy nguy,
Đệ nhất quận công chi sinh từ.
Công tại tứ thì tập quan đới,
Đắc dự giả hỉ bất dự bi.
Công khứ quan đới bất phục tập,
Hương hoả tịch tịch hoà ly ly.
Đãn kiến đệ nhị vô danh công,
Triêu tịch huề trượng lai vu tư.
Trần gian hưng phế đẳng nhàn sự,
Bất tri cửu tuyền thuỳ dữ quy.

Dịch thơ:

Đền miếu thờ ai lộng lẫy thay!
Thờ ông "thứ nhất quận công" đây.
Ông còn, mũ áo hàng năm họp,
Không được dự buồn, được dự may.
Ông mất, mũ áo không họp nữa,
Lửa hương lạnh ngắt, lúa mọc đầy.
Có ông "thứ nhì không tên" đến
Sớm hôm chống gậy vào chốn này.
Trên đời suy thịnh thường như vậy,
Biết nay chín suối ông theo ai?

Tác phẩmSửa đổi

- Đại Nam thực lục Chính biên.

- Tống Khê tấu nghị tập

Chú thíchSửa đổi