Đế quốc Maurya

(đổi hướng từ Nhà Maurya)

Đế quốc Maurya hay đế quốc Khổng Tước là một thế lực hùng mạnh trên một diện tích rộng lớn vào thời Ấn Độ cổ đại, do vương triều Maurya cai trị từ năm 321 đến 185 TCN. Đế quốc Maurya bắt nguồn từ vùng Magadha tại đồng bằng hạ du sông Hằng (nay là Bihar, phía đông Uttar PradeshBengal) ở mặt phía đông của tiểu lục địa Ấn Độ, đế quốc có kinh đô đặt tại Pataliputra (nay là Patna).[15][16] Đế quốc được Chandragupta Maurya thành lập vào năm 322 TCN, ông đã lật đổ vương triều Nanda và nhanh chóng mở rộng thế lực của mình về phía tây đến vùng trung và tây Ấn Độ do tận dụng được lợi thế là các thế lực địa phương ở các vùng này đang xâu xé lẫn nhau sau khi các đội quân Hy LạpBa Tư của Alexandros Đại đế rút lui về phía tây. Năm 320 TCN, đế quốc đã hoàn toàn kiểm soát được vùng tây bắc bắc Ấn Độ, đánh bại và chinh phục các satrap do Alexandros để lại.[17]

Đế Quốc Khổng Tước
322 BCE – 184 BCE
Maximum Thời kỳ cực đại của Đế quốc Maurya, thể hiện qua vị trí của Ashoka's inscriptions, và từ các nhà sử gia: Vincent Arthur Smith;[2] R. C. Majumdar;[3] and historical geographer Joseph E. Schwartzberg.[4]
Maximum Thời kỳ cực đại của Đế quốc Maurya, thể hiện qua vị trí của Ashoka's inscriptions, và từ các nhà sử gia: Vincent Arthur Smith;[2] R. C. Majumdar;[3] and historical geographer Joseph E. Schwartzberg.[4]
Lãnh thổ của đế quốc Maurya được hình dung bởi các nhà sử học: historians Hermann Kulke and Dietmar Rothermund;[5] Burton Stein;[6] David Ludden;[7] and Romila Thapar;[8] anthropologists Monica L. Smith[9] and Stanley Tambiah;[8] archaeologist Robin Coningham;[8] and historical demographer Tim Dyson.[10]
Lãnh thổ của đế quốc Maurya được hình dung bởi các nhà sử học: historians Hermann Kulke and Dietmar Rothermund;[5] Burton Stein;[6] David Ludden;[7] and Romila Thapar;[8] anthropologists Monica L. Smith[9] and Stanley Tambiah;[8] archaeologist Robin Coningham;[8] and historical demographer Tim Dyson.[10]
Thủ đôPataliputra
(Present-day Patna, Bihar)
Ngôn ngữ thông dụngMagadhi Prakrit
Tôn giáo chính
Chính trị
Chính phủQuân chủ chuyên chế, được miêu tả trên Arthashastra
Rajamandala[11]
Emperor 
• 322–298 TCN
Chandragupta
• 298–272 TCN
Bindusara
• 268–232 TCN
Ashoka
• 232–224 TCN
Dasharatha
• 224–215 TCN
Samprati
• 215–202 TCN
Shalishuka
• 202–195 TCN
Devavarman
• 195–187 TCN
Shatadhanvan
• 187–180 TCN
Brihadratha
Lịch sử
Thời kỳThời kỳ đồ sắt
322 BCE 
• Assassination of Brihadratha by Pushyamitra Shunga
 184 BCE
Địa lý
Diện tích 
• Tổng cộng
5.000.000 km2 (hạng 1st In India)
1.930.511 mi2
• 261 TCN[12]
3.400.000 km2
(1.312.747 mi2)
• 250 TCN[13]
5.000.000 km2
(1.930.511 mi2)
Dân số 
• 261 TCN[14]
50 million
Kinh tế
Đơn vị tiền tệPanas
Mã ISO 3166[[ISO 3166-2:Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:ISO 3166/data/MA' not found.|Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:ISO 3166/data/MA' not found.]]
Tiền thân
Kế tục
Nanda Empire
Mahajanapada
Magadha
Patliputra
Taxila
Shunga Empire
Satavahana dynasty
Mahameghavahana dynasty
Indo-Scythians
Indo-Greek Kingdom
Vidarbha kingdom (Mauryan era)
Hiện nay là một phần củaIndia
Bangladesh
Pakistan
Nepal
Afghanistan

Với một diện tích 5.000.000 km², Maurya là một trong các đế quốc lớn nhất trên thế giới vào thời gian mà nó tồn tại, và là đế quốc lớn nhất từng tồn tại trên tiểu lục địa Ấn Độ. Vào lúc rộng nhất, đế quốc này mở rộng về phía bắc dọc theo ranh giới tự nhiên của dãy Himalaya, và mở rộng về phía đông đến vùng này là Assam. Ở phía tây, Maurya chinh phục chinh phục các vùng phía ngoài của Pakistan ngày nay, thôn tính Balochistan, các phần đông nam của Iran và nhiều phần của Afghanistan ngày nay, bao gồm cả các tỉnh Herat[17]Kandahar. Đế quốc mở rộng đến các vùng miền trung và miền nam dưới thời các hoàng đế Chandragupta và Bindusara, song không bao gồm một phần nhỏ vùng đất của các bộ lạc chưa được thám hiểm và các khu vực rừng gần Kalinga (nay là Orissa), cho đến khi chúng bị A Dục Vương (Ashoka) chinh phục. Đế quốc bắt đầu suy sụp từ 60 năm sau thời kỳ trị vì của A Dục Vương, và tan rã vào năm 185 TCN với sự hình thành của vương triều Sunga tại Magadha.

Dưới thời Chandragupta, đế quốc Maurya đã chinh phục vùng Ngoại-Ấn, đang nằm dưới quyền cai quản của người Macedonia. Chandragupta sau đó đã đánh bại cuộc xâm lược do Seleukos I lãnh đạo (một tướng người Hy Lạp trong quân đội của Alexandros Đại đế). Dười thời cai trị của Chandragupta vè những người kế vị, nội thương và ngoại thương, các hoạt động nông nghiệp và thương mại, tất cả đều phát triển mạnh và mở rộng ra khắp Ấn Độ nhờ việc tạo ra một hệ thống đơn nhất về tài chính, quản trị và an ninh.

Sau chiến tranh Kalinga, đế quốc Maurya đã trải qua nửa thế kỷ hòa bình và an ninh dưới sự cai trị của A Dục vương. Ấn Độ dười thới Maurya cũng bước vào một kỷ nguyên của hòa hợp xã hội, biến đổi tôn giáo, và sự mở rộng của khoa học và kiến thức. Đường hướng Kỳ Na giáo của Chandragupta Maurya đã làm gia tăng các đổi mới và cải cách xã hội cùng tôn giáo, trong khi đường hướng Phật giáo của A Dục vương đã tạo nên nền tảng của triều đại là xã hội và chính trị thái bình và khắp Ấn Độ không có bạo lực. A Dục vương cũng hỗ trợ cho việc truyền bá các tư tưởng của Phật giáo đến Sri Lanka, Đông Nam Á, Tây Áchâu Âu Địa Trung Hải.[17]

Dân số của đế quốc Maurya được ước tính là khoảng 50-60 triệu người mà nó đã khiến cho đế quốc này trở thành một trong những đế quốc đông dân nhất trong lịch sử.[18][19] Arthashastracác sắc lệnh của A Dục vương là những nguồn chính trong các sử liệu về thời kỳ Maurya.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Boyce, Mary; Grenet, F. (tháng 1 năm 1991). A History of Zoroastrianism, Zoroastrianism under Macedonian and Roman Rule (bằng tiếng Anh). BRILL. tr. 149. ISBN 978-90-04-29391-5.
  2. ^ Smith, Vincent Arthur (1920), The Oxford History of India: From the Earliest Times to the End of 1911, Clarendon Press, tr. 104–106
  3. ^ Majumdar, R. C.; Raychaudhuri, H. C.; Datta, Kalikinkar (1950), An Advanced History of India , Macmillan & Company, tr. 104
  4. ^ Schwartzberg, Joseph E. A Historical Atlas of South Asia, 2nd ed. (University of Minnesota, 1992), Plate III.B.4b (p.18) and Plate XIV.1a-c (p.145)
  5. ^ Hermann Kulke 2004, tr. 69-70.
  6. ^ Stein, Burton (2010), A History of India, John Wiley & Sons, tr. 74, ISBN 978-1-4443-2351-1, In the past it was not uncommon for historians to conflate the vast space thus outlined with the oppressive realm described in the Arthashastra and to posit one of the earliest and certainly one of the largest totalitarian regimes in all of history. Such a picture is no longer considered believable; at present what is taken to be the realm of Ashoka is a discontinuous set of several core regions separated by very large areas occupied by relatively autonomous peoples.
  7. ^ Ludden, David (2013), India and South Asia: A Short History, Oneworld Publications, tr. 29–3, ISBN 978-1-78074-108-6, The geography of the Mauryan Empire resembled a spider with a small dense body and long spindly legs. The highest echelons of imperial society lived in the inner circle composed of the ruler, his immediate family, other relatives, and close allies, who formed a dynastic core. Outside the core, empire travelled stringy routes dotted with armed cities. ... In most janapadas, the Mauryan Empire consisted of strategic urban sites connected loosely to vast hinterlands through lineages and local elites who were there when the Mauryas arrived and were still in control when they left.
  8. ^ a ă â Coningham, Robin; Young, Ruth (2015), The Archaeology of South Asia: From the Indus to Asoka, c.6500 BCE – 200 CE, Cambridge University Press, tr. 451–466, ISBN 978-1-316-41898-7
  9. ^ Coningham, Robin; Young, Ruth (2015), The Archaeology of South Asia: From the Indus to Asoka, c.6500 BCE – 200 CE, Cambridge University Press, tr. 453, ISBN 978-1-316-41898-7
  10. ^ Dyson, Tim (2018), A Population History of India: From the First Modern People to the Present Day, Oxford University Press, tr. 16–17, ISBN 978-0-19-882905-8, Magadha power came to extend over the main cities and communication routes of the Ganges basin. Then, under Chandragupta Maurya (c.321–297 bce), and subsequently Ashoka his grandson, Pataliputra became the centre of the loose-knit Mauryan 'Empire' which during Ashoka's reign (c.268–232 bce) briefly had a presence throughout the main urban centres and arteries of the subcontinent, except for the extreme south.
  11. ^ Avari, Burjor (2007). India, the Ancient Past: A History of the Indian Sub-continent from C. 7000 BC to AD 1200 Taylor & Francis. ISBN 0415356156. pp. 188-189.
  12. ^ Taagepera, Rein (1979). “Size and Duration of Empires: Growth-Decline Curves, 600 B.C. to 600 A.D.”. Social Science History. 3 (3/4): 132. doi:10.2307/1170959. JSTOR 1170959.
  13. ^ Turchin, Peter; Adams, Jonathan M.; Hall, Thomas D (tháng 12 năm 2006). “East-West Orientation of Historical Empires”. Journal of World-Systems Research. 12 (2): 223. ISSN 1076-156X. Bản gốc lưu trữ 20 tháng Năm năm 2019. Truy cập 16 tháng Chín năm 2016.
  14. ^ Thanjan, Davis K. (2011). Pebbles (bằng tiếng Anh). Bookstand Publishing. ISBN 9781589098176.
  15. ^ Kulke, Hermann; Rothermund, Dietmar (2004), A History of India, 4th edition. Routledge, Pp. xii, 448, ISBN 0-415-32920-5
  16. ^ Thapar, Romila (1990), A History of India, Volume 1, New Delhi and London: Penguin Books. Pp. 384, ISBN 0-14-013835-8
  17. ^ a ă â Rajadhyaksha, Abhijit (ngày 2 tháng 8 năm 2009). “The Mauryas: Chandragupta”. Historyfiles.co.uk. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2012.
  18. ^ The First Great Political Realist: Kautilya and His Arthashastra - Roger Boesche - Google Books. Books.google.co.in. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2012.
  19. ^ Encyclopedia of population - Google Books. Books.google.co.in. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2012.

Tham khảoSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi