Nhóm ngôn ngữ Rgyalrong (còn được gọi là Jiarong), là một nhánh của nhóm ngôn ngữ Khương của ngữ hệ Hán-Tạng,[2] mặc dù Randy LaPolla (2003) cho rằng nó có thể là một phần của nhóm ngôn ngữ Rung lớn hơn và có lẽ không liên quan đặc biệt chặt chẽ đến nhóm Khương. LaPolla (2003) cho rằng sự tương đồng giữa nhóm ngôn ngữ Rgyalrong và nhóm ngôn ngữ Khương có thể là do vị trí địa lý.

Nhóm ngôn ngữ Rgyalrong

Jiarongic
Phân bố
địa lý
Trung Quốc
Phân loại ngôn ngữ họcHán-Tạng
Ngôn ngữ con:
Glottolog:rgya1241[1]

Phân bốSửa đổi

Nhóm ngôn ngữ Rgyalrong được nói ở Tứ Xuyên, Trung Quốc, chủ yếu ở châu tự trị Tây Tạng và Khương GarzêNgawa. Những ngôn ngữ này được phân biệt bởi hình thái nguyên thuỷ và kiến trúc âm vị học của chúng, làm cho chúng có giá trị về mặt ngôn ngữ học lịch sử.

Nhóm ngôn ngữ Rgyalrong được sử dụng chủ yếu ở bốn huyện Barkam, , Tiểu KimKim Xuyênchâu Ngawa, phía tây tỉnh Tứ Xuyên.[3] Các phương ngữ/ngôn ngữ Rgyalrong khác được nói ở các huyện Heishui, Rangtang, Baoxing, Danba và Daofu lân cận.

Phân loạiSửa đổi

Nhóm ngôn ngữ Rgyalrong chia sẻ một số đặc điểm, đáng chú ý là hình thái ngôn ngữ và được phân loại thành ba nhóm:

  • Tiếng Khroskyabs (trước đây gọi là Lavrung)
  • Tiếng Horpa
  • Phân nhóm rGyalrong

Nhóm ngôn ngữ rGyalrong có bốn nhóm ngôn ngữ khó thông hiểu lẫn nhau: Rgyalrong Đông hoặc Situ, Japhug, Tshobdun và Zbu.

Tiếng Khroskyabs và tiếng Horpa được Lin (1993) phân loại là "phương ngữ phương Tây" của Rgyalrong, cùng với Rgyalrong Đông và "phương ngữ Tây Bắc" (Japhug, Tshobdun và Zbu). Mặt khác, các học giả đều đồng thuận rằng khoảng cách giữa ba bên Khroskyabs, Horpa và cụm rGyalrong lớn hơn khoảng cách giữa các ngôn ngữ con trong cụm rGyalrong với nhau. Ví dụ, Ethnologue ghi nhận mức tương đồng từ vựng là ở 75% giữa tiếng Situ và tiếng Japhug, 60% giữa tiếng Japhug và tiếng Tshobdun, nhưng chỉ có 13% giữa tiếng Situ và tiếng Horpa.

Huang (2007: 180)[4] nhận thấy tiếng Horpa (Rta'u) và tiếng Rgyalrong (Cogrtse) chỉ chia sẻ 15,2% từ vựng, với 242 từ cùng gốc trong tổng số 1.592 từ.

Tiếng Tây Tạng Khalong có lớp nền ngôn ngữ Rgyalrong.[5]

Nhóm ngôn ngữ Chamo (Lamo, Larong và Drag-yab, một nhóm gồm ba ngôn ngữ Hán-Tạng có liên quan chặt chẽ được nói ở Qamdo, miền đông Tây Tạng), cũng có thể thuộc nhóm tiếng Khương.[6][7][8]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Nordhoff, Sebastian; Hammarström, Harald; Forkel, Robert và đồng nghiệp biên tập (2013). “Gyalrongic”. Glottolog. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology. 
  2. ^ Matisoff, James. 2004. "Brightening" and the place of Xixia (Tangut) in the Qiangic subgroup of Tibeto-Burman
  3. ^ Nagano, Yasuhiko and Marielle Prins. 2013. rGyalrongic languages database. Osaka: National Museum of Ethnology (Minpaku).
  4. ^ Huang Bufan. 2007. Lawurongyu yanjiu (拉坞戎语研究) [A study of the Lavrung language]. Beijing: Minzu Press (民族出版社).
  5. ^ Tournadre, Nicolas (2005). "L'aire linguistique tibétaine et ses divers dialectes." Lalies, 2005, n°25, p. 7–56.
  6. ^ Suzuki, Hiroyuki and Tashi Nyima. 2018. Historical relationship among three non-Tibetic languages in Chamdo, TAR. Proceedings of the 51st International Conference on Sino-Tibetan Languages and Linguistics (2018). Kyoto: Kyoto University.
  7. ^ Zhao, Haoliang. 2018. A brief introduction to Zlarong, a newly recognized language in Mdzo sgang, TAR. Proceedings of the 51st International Conference on Sino-Tibetan Languages and Linguistics (2018). Kyoto: Kyoto University.
  8. ^ Jacques, Guillaumes. 2016. Les journées d'études sur les langues du Sichuan.

Liên kết ngoàiSửa đổi

Bản mẫu:Ngữ hệ Hán-Tạng