Nimravidae là một họ thú có vú ăn thịt đã tuyệt chủng từng sống ở Bắc Mỹlục địa Á-Âu. Tuy không phải "mèo thực sự" (họ Felidae), Nimravidae vẫn có quan hệ gần và hiện được phân loại là một họ trong phân bộ Dạng mèo. Hóa thạch Nimravidae có niên đại từ giữa Eocen đến cuối Miocen (tầng Barton đến tầng Tortona, 40,4-7,2 triệu năm trước), tồn tại trong 33,2 triệu năm.[1]

Nimravidae
Thời điểm hóa thạch: Giữa Eocen đến cuối Miocen, 40–7.246 triệu năm trước đây
Hoplophoneus.jpg
Hoplophoneus mentalis
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Carnivora
Họ (familia)Nimravidae
Cope, 1880
Chi

Các loài nay thuộc Barbourofelidae từng được coi tạo nên một phân họ trong họ Nimravidae, song đến năm 2004, chúng được chuyển sang họ riêng.[2]

Hình thái học và tiến hóaSửa đổi

Hầu hết các loài Nimravidae có vóc dáng thấp, lắm cơ bắp, giống mèo, với chân và đuôi ngắn hơn (tính theo tỉ lệ) so với mèo. Không như các họ dạng Mèo con sinh tồn, Nimravidae có cấu trúc xương nhỏ trong tai khác thường. Tai giữa của các loài họ Mèo (Felidae) nằm trong một cấu trúc ngoại vi gọi là bọng thính giác (auditory bulla) có hai khoang do vách ngăn chia cách. Hóa thạch Nimravidae cho thấy chúng hoặc có bọng xương hóa không vách ngăn hoặc hoàn toàn thiếu bọng. Có lẽ chúng có một cấu trúc sụn trong tai.[3] Chân các loài Nimravidae ngắn, cho thấy lúc đi chúng áp hoặc nửa áp gang bàn chân xuống mặt đất.[4]

Dù bề ngoài tựa như hổ răng kiếm trong chi Smilodon, hai bên không có quan hệ gần,[5] sự tương đồng hình dáng là do tiến hóa song song. Chúng chia sẻ đặc điểm phái sinh với Barbourofelidae ở hộp sọ, xương hàm dưới, bộ răngphần sau sọ.[6] Chúng còn có gờ chìa ra ở mặt trước xương hàm dưới mặc dù không nổi bật như ở Thylacosmilus vẫn kéo dài ngang độ dài nanh.

Phân loạiSửa đổi

Họ Nimravidae do nhà cổ sinh học Mỹ Edward Drinker Cope đặt tên năm 1880,[7] với chi Nimravus lấy làm loài điển hình. Họ này được xếp vào Fissipedia (theo Cope (1889)); vào Caniformia (theo Flynn và Galiano (1982)); vào Aeluroidea (theo Carroll (1988)); vào Feliformia (theo Bryant (1991)); và vào Carnivoramorpha (theo Wesley-Hunt và Werdelin (2005)).[8]

Một số học giả nhóm một số chi Nimravidae thành tông nhằm cho thấy rõ hơn mối quan hệ nội tại trong họ. Một số loài họ Nimravidae có vóc dáng to lớn, nanh hàm trên bè dẹt, hàm dưới có gờ chìa ra. Số khác có bộ răng giống mèo, nanh bé hơn.

Không chỉ có sự đa dạng ở bộ răng, hình thái của chúng cũng đa dạng ngang với của họ Mèo. Một số to cỡ báo hoa mai, số khác ngang ngửa hổsư tử, và một chi-Nanosmilus, chỉ bằng một con linh miêu đuôi cộc nhỏ.

Phân loạiSửa đổi

Cây phát sinhSửa đổi

Cây phát sinh dưới đây dựa trên Peigné et al. (2003),[10] với chỉnh sửa của Averianov et al. (2016).[9]

Nimravidae


Maofelis



MA-PHQ 348



Nimravini


Dinaelurus



Nimravus brachyops



Nimravus intermedius





Eofelis




Dinailurictis



Quercylurus




Dinictis



Pogonodon


Hoplophoneini


Nanosmilus




Hoplophoneus primaevus




Hoplophoneus occidentalis




Hoplophoneus mentalis




Hoplophoneus dakotensis


Eusmilus


Eusmilus bidentatus




Eusmilus cerebralis




Eusmilus villebramarensis



Eusmilus sicarius















Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Bản mẫu:Paleodb
  2. ^ Morlo, Michael; Peigné, Stéphane; Nagel, Doris (tháng 1 năm 2004). “A new species of Prosansanosmilus: implications for the systematic relationships of the family Barbourofelidae new rank (Carnivora, Mammalia).”. Zoological Journal of the Linnean Society 140 (1): 43. doi:10.1111/j.1096-3642.2004.00087.x. 
  3. ^ Turner, Alan (1997). The Big Cats and their Fossil Relatives: an illustrated guide. New York: Columbia University Press. tr. 234. ISBN 0-231-10228-3. 
  4. ^ Antón, Mauricio (2013). Sabertooth. Bloomington, Indiana: University of Indiana Press. tr. 90. ISBN 9780253010421. 
  5. ^ “Meet the Cat Family”. Junior Observer. The Sunday Observer (Colombo, Sri Lanka: Associated Newspapers of Ceylon). 16 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2013. 
  6. ^ Bryant, Harold N. (tháng 2 năm 1991). “Phylogenetic Relationships and Systematics of the Nimravidae (Carnivora)”. Journal of Mammalogy (Lawrence, Kansas: American Society of Mammalogists) 72 (1): 56. doi:10.2307/1381980. 
  7. ^ Cope, E. D. (1889). “Synopsis of the Families of Vertebrata”. The American Naturalist 23: 1–29. 
  8. ^ Flynn, John J.; Galiano, Henry (1982). “Phylogeny of early Tertiary Carnivora, with a description of a new species of Protictis from the middle Eocene of Northwestern Wyoming”. American Museum Novitates.  Đã bỏ qua tham số không rõ |hdl= (trợ giúp)
  9. ^ a ă Averianov, Alexander; Obraztsova, Ekaterina; Danilov, Igor; Skutschas, Pavel; Jin, Jianhua (10 tháng 5 năm 2016). “First nimravid skull from Asia”. Scientific Reports (bằng tiếng Anh) 6 (1). ISSN 2045-2322. PMC 4861911. PMID 27161785. doi:10.1038/srep25812. 
  10. ^ Peigne, Stéphane (tháng 5 năm 2003). “Systematic review of European Nimravinae (Mammalia, Carnivora, Nimravidae) and the phylogenetic relationships of Palaeogene Nimravidae”. Zoologica Scripta (bằng tiếng Anh) 32 (3): 199–229. ISSN 0300-3256. doi:10.1046/j.1463-6409.2003.00116.x – qua Wiley Online Library. 
  • Zoological Journal of the Linnean Society, 2003, 138, 477–493