Mở trình đơn chính
Bản đồ thời nhà Chu gồm Hoa Hạ bao quanh là Tứ Di: Đông Di, Bắc Địch, Tây NhungNam Man

Tứ di (四夷) là thuật ngữ miệt thị trong lịch sử Trung Quốc hình thành từ thời nhà Chu để chỉ các bộ lạc dân tộc ngoài Trung Nguyên cổ đại bao quanh Trung Quốc.

Lý thuyết Địa lý Trung Quốc thời phong kiến coi "Trung Quốc" là "nước ở trung tâm" và người ở đó được coi là người đã giáo hóa văn minh, còn xung quanh bốn phương là Tứ di: man di mọi rợ. Vùng đất khởi phát của người Trung Quốc là vùng Hoa Hạ (華夏) [1], và là nguồn của các thuật ngữ Trung Hoa, người Hoa. Người ở phương đông gọi là Đông Di (東夷), phương tây gọi là Tây Nhung (西戎), phương Nam gọi là Nam Man (南蠻), và phương Bắc gọi là Bắc Địch (北狄), trong đó các chữ tượng hình chỉ các nhóm này đều có phần biểu thị "sâu bọ thú vật", ví dụ họ khuyển (chó) [2][3]. Ngày nay chữ Hán đã lược bỏ phần biểu tượng này đi, nên trong các chữ Hán dẫn ra ở trên chỉ còn có ở chữ Địch (狄).

Quá trình bành trướng đồng hóa các vùng lãnh thổ được mở rộng, dẫn đến biên giới với tứ di xê dịch.

Thuật ngữSửa đổi

Lý thuyết vũ trụ quan "Trung Hoa" (Sinocentric) có từ thời nhà Chu (cỡ 1046–256 TCN) đưa ra khái niệm "trời tròn đất vuông", coi "thiên hạ" (天下) là bao trùm gồm Hoa Hạ (華夏) ở tâm, và bao quanh là các dân tộc Tứ di (man di mọi rợ) không phải người Trung Quốc.

Cấu trúc Tứ di hoặc tương tự, là một điều cần thiết hợp lý cho hệ thống "thiên hạ" cổ đại. Liu Junping và Huang Deyuan (2006:532) mô tả quốc vương phổ quát với các cơ quan chính trị, tôn giáo và văn hóa kết hợp: "Theo người Trung Quốc thời xưa, trời và đất là kết hợp với âm dương, với thiên đàng (dương) ở trên và trái đất (âm) kém hơn, và người Trung Quốc với tư cách là một thực thể phù hợp với các nhóm dân tộc thấp kém bao quanh nó theo bốn hướng để các vị vua có thể được coi trọng và những kẻ man rợ có thể bị coi thường." Liu và Huang (2006:535) đề xuất rằng các ý tưởng của Trung Quốc về "quốc gia" và "nhà nước" của Trung Quốc đã phát triển từ "việc sử dụng thông thường các khái niệm như "thiên hạ", "hainei" (?, bốn góc trên biển) và "bốn nhóm man rợ" (tứ di, 四夷) ở bốn hướng.[4]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Liu, Xuediao [劉學銚] (2005). 中國文化史講稿 (bằng tiếng Trung). Taipei: 知書房出版集團. tr. 9. ISBN 978-986-7640-65-9. 
  2. ^ Cioffi-Revilla, Claudio; Lai, David (1995). “War and Politics in Ancient China, 2700 BC to 722 BC”. The Journal of Conflict Resolution 39 (3): 471–72. 
  3. ^ Guo, Shirong; Feng, Lisheng (1997). “Chinese Minorities”. Trong Selin, Helaine. Encyclopaedia of the history of science, technology and medicine in non-western cultures. Dordrecht: Kluwer. tr. 197. ISBN 978-0-79234066-9. During the Warring Stares (475 BC–221 BC), feudalism was developed and the Huaxia nationality grew out of the Xia, Shang, and Zhou nationalities in the middle and upper reaches of the Yellow River. The Han evolved from the Huaxia. 
  4. ^ Liu Junping and Deyuan Huang (2006), "The Evolution of Tianxia Cosmology and Its Philosophical Implications", Frontiers of Philosophy in China 1.4: 517-538.

Liên kết ngoàiSửa đổi