Mở trình đơn chính
Bản đồ thời nhà Chu gồm Hoa Hạ bao quanh là Tứ Di: Đông Di, Bắc Địch, Tây NhungNam Man
Những bộ lạc man rợ theo Trung Quốc. Những người ở phương Đông gọi là Đông Di (東夷), phương Tây gọi là Tây Nhung (西戎), phương Nam gọi là Nam Man (南蠻), và phương Bắc gọi là Bắc Địch (北狄).

Nam Man (南蠻, nghĩa là "người man rợ phương Nam") là thuật ngữ miệt thị trong lịch sử Trung Quốc để chỉ các bộ lạc dân tộc ngoài Trung Nguyên cổ đại ở phía Nam Trung Quốc.

Thuật ngữ nằm trong lý thuyết Địa lí Trung Quốc thời phong kiến, coi "Trung Quốc" là "nước ở trung tâm" và người ở đó được coi là người đã giáo hóa văn minh, còn xung quanh là bốn phương "man di mọi rợ", gọi là Tứ di. Vùng đất khởi phát của người Trung Quốc là vùng Hoa Hạ (華夏) [1], và là nguồn của các thuật ngữ Trung Hoa, người Hoa. Người ở phương Đông gọi là Đông Di (東夷), phương Tây gọi là Tây Nhung (西戎), phương Nam gọi là Nam Man (南蠻), và phương Bắc gọi là Bắc Địch (北狄), trong đó các chữ tượng hình chỉ các nhóm này đều có phần biểu thị "sâu bọ thú vật" [2][3]. Ngày nay chữ Hán đã lược bỏ phần biểu tượng này đi, nên trong các chữ Hán dẫn ra ở trên chỉ còn có ở chữ Địch (狄).

Tam Miêu và di cư của người H'Mông

Xung đột lớn và kéo dài của người Hoa với Nam Man là xung đột với vương quốc Tam Miêu, vương quốc hùng mạnh ở phía nam sông Trường Giang vào thế kỷ 3 trước Công nguyên do người Miêu dẫn đầu. Người Hoa đã chinh phục, đồng hóa thành vùng trong lịch sử gọi là "Bách Việt", và đẩy dần Nam Man về phương nam. Trong thời kỳ Tam Quốc, người Miêu dưới sự lãnh đạo của Mạnh Hoạch đã nhiều lần nổi lên chống lại Thục Hán, sau khi Mạnh Hoạch bị Gia Cát Lượng bắt và thả 7 lần đã quy phục Thục Hán [4]. Nam Chiếu thường xuyên cống nộp thông qua Kiếm Nam Tiết độ sứ (劍南節度使).

Trong thời nhà Đường, người Miêu (Hmong) ở khu vực tây nam cùng với người Bạchngười Di (người Lô Lô) lập ra Mông Xá Chiếu (蒙舍詔) hay Nam Chiếu (南詔), đã thống nhất Lục Chiếu và thành lập nhà nước độc lập đầu tiên đầu thế kỷ 6. Khi nhà Đường dần suy yếu, Nam Chiếu, sau là Vương quốc Đại Lý, giành được độc lập nhiều hơn. Tuy nhiên năm 1253 vương quốc bị Nhà Nguyên chinh phục và đồng hóa. Tuy nhiên, một số ảnh hưởng của nền văn hóa Nam Chiếu đã được truyền xuống phía Nam.

Trong quá trình đó thành viên khác của Nam Man là người Việt được Ngô Quyền lãnh đạo đánh bại quân Nam Hán, giành được độc lập năm 938, và giữ được đất nước đến nay.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Liu, Xuediao [劉學銚] (2005). 中國文化史講稿 (bằng tiếng Trung). Taipei: 知書房出版集團. tr. 9. ISBN 978-986-7640-65-9. 
  2. ^ Cioffi-Revilla, Claudio; Lai, David (1995). “War and Politics in Ancient China, 2700 BC to 722 BC”. The Journal of Conflict Resolution 39 (3): 471–72. 
  3. ^ Guo, Shirong; Feng, Lisheng (1997). “Chinese Minorities”. Trong Selin, Helaine. Encyclopaedia of the history of science, technology and medicine in non-western cultures. Dordrecht: Kluwer. tr. 197. ISBN 978-0-79234066-9. During the Warring Stares (475 BC–221 BC), feudalism was developed and the Huaxia nationality grew out of the Xia, Shang, and Zhou nationalities in the middle and upper reaches of the Yellow River. The Han evolved from the Huaxia. 
  4. ^ La Quán Trung. Tam Quốc diễn nghĩa.