Bách Việt

Thuật ngữ mơ hồ của người Trung Quốc để ám chỉ chủng tộc,văn hoá chung ở tại Miền Nam Trung Quốc cùng Miền Bắc Việt Nam.

Việt (chữ Hán: 越/粵; bính âm: yuè), hoặc Bách Việt (chữ Hán: 百越/百粵; bính âm: bǎi yuè, bǎik wyuèt), là thuật ngữ mà người Trung Quốc thời cổ đặt cho các nhóm dân cư thuộc Ngữ hệ Nam ÁNgữ hệ Kra-Dai định cư và sinh sống ở tại vùng đất phía Nam Trường Giang, mà ngày nay thuộc Trung QuốcViệt Nam.[1][2] Đây cũng là từ cổ chỉ vùng đất mà tộc này đã sinh sống. Trong tiếng Trung Quốc cổ, các chữ (越, 粵, 鉞) đã thường được dùng thay thế nhau cho nghĩa "Yue". Từ "Baiyue" lần đầu tiên thấy chép là trong Sử ký Tư Mã Thiên thời nhà Hán năm 91 TCN.[3]

Bách Việt
Yue statue.jpg
Tượng một người đàn ông với mái tóc ngắn kiểu Việt điển hình và những hình xăm trên cơ thể từ nước Việt thời Xuân Thu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc)
Tiếng Trung百越
Nghĩa đenBách Việt

Các sách cổ do Trung Quốc viết có nói đến nhiều nhóm Bách Việt khác nhau, trong đó có Câu Ngô (句吳), Ư Việt (於越), Điền Việt (滇越 / 盔越), Dương Việt (揚越), Cán Việt (干越), Sơn Việt (山越), Dạ Lang (夜郎), Mân Việt (閩越), Lạc Việt (雒越), Âu Việt (甌越 - hay còn gọi là Tây Âu - 西甌)... Tuy được gọi chung là "Bách Việt", nhưng thực tế các bộ tộc Bách Việt không phải là khối thống nhất (tức là không có nhà nước và lãnh thổ chung). Giữa các bộ tộc này cũng có nhiều khác nhau về địa bàn cư trú, văn hoá, ngôn ngữ cũng như ranh giới quyền lợi, và nhiều khi các xứ Bách Việt còn giao tranh với nhau, như Đông Âu từng có chiến tranh với Mân Việt, Âu Việt có chiến tranh với Lạc Việt (cũng giống như người bản địa châu Mỹ được người châu Âu gọi chung là "người da đỏ", nhưng thực tế người da đỏ có rất nhiều bộ lạc với các ngôn ngữ và văn hóa khác nhau).

Các ký hiệu được phát hiện trên di tích như trống đồng có lẽ là 1 hệ thống văn hóa hoặc vật tượng trưng trong đời sống của xã hội họ. Ngày nay rất khó xác định chi tiết lịch sử của các bộ tộc Bách Việt, vì các nhóm bộ tộc này không có chữ viết nên không để lại các văn bản khảo cổ.

Sau khi nhà Tần thống nhất các nước Hoa Hạ với nhau để trở thành vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử phong kiến Trung Quốc thì phần lớn các tộc Bách Việt đã bị đánh bại sau cuộc chinh phạt xuống phía Nam của nhà Tần ở trong giai đoạn 220-210 TCN. Ở trong thời nhà Hán thì họ hoàn toàn thất bại, biên giới Trung Quốc dưới thời nhà Hán đã kéo dài đến miền Bắc Việt Nam, các bộ tộc Bách Việt dần bị đồng hóa với người Trung Hoa để trở thành tổ tiên của người Hán phía Nam Trường Giang hiện nay. Nhà Hán đẩy mạnh việc đàn áp và đồng hóa các bộ tộc Bách Việt sau khi đã dập tắt Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (năm 43 Công nguyên). Phần lớn các bộ tộc Bách Việt đều đã bị các triều đại Trung Hoa ở phía Bắc đồng hóa trở thành người Hán, hoặc dần chuyển hóa thành một số dân tộc thiểu số khác cư trú tại miền nam Trung Quốc ngày nay.

Chỉ còn sót lại Âu ViệtLạc Việt (tổ tiên trực tiếp của người Việt và một số dân tộc thiểu số tại phía Bắc Việt Nam ngày nay) là không bị đồng hóa, đến năm 939 thì họ giành độc lậpphát triển thành nước Việt Nam ngày nay. Có giả thuyết cho rằng tộc Âu Việt cũng là tổ tiên của người Tàyngười Nùng sống tại khu vực miền Bắc Việt Nam hiện nay.

Nguồn gốcSửa đổi

 
Rìu đồng phong cách Bách Việt tìm thấy tại tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.

Vào thời nhà Chu, người Trung Quốc (Hoa Hạ, sau này gọi là người Hán) chỉ chung các dân tộc sống ở đất đai phía Nam Trường Giang bằng một cái tên chung quy là "man di" còn trong các sách chính sử thì có ghi chép đến cái tên "yue". Bắt đầu từ thời nhà Hán thì gom chung lại, sử sách thường nói đến cái tên Bai yue nhằm làm cụ thể hóa và nhấn mạnh tới cái tên gọi yue khi lãnh thổ của họ kéo dài tới khu vực Bắc Việt Nam hiện nay; với nghĩa "một trăm bộ lạc Việt". Sách Hán thư (漢書) đã viết rằng là: "Trong vòng 7 hoặc 8 nghìn dặm từ Giao Chỉ (đồng bằng sông Hồng) tới Cối Kê (thuộc vùng Bắc Chiết Giang), ở đâu cũng có Bách Việt, mỗi nhóm có các thị tộc của mình." Cổ sử Trung Quốc gọi tên là Việt vì Việt là tên một loại vũ khí độc đáo giống như rìu của các bộ tộc phía Nam Trường Giang, đồng thời cũng có nghĩa là "vượt qua" (vượt Trường Giang xuống lưu vực phía Nam), chỉ phạm vi mà văn hóa Trung Hoa thời đó chưa vươn tới (Thực tế thì họ đã gọi người phía Nam bằng chữ Việt từ thời nhà Thương - có lẽ là từ cuối thời nhà Thương (Ân Thương) nhưng tại đây thì ta tính từ Việt có từ thời nhà Chu vì thời Chu thì văn minh Trung Hoa mới đạt tới Bắc Trường Giang, con sông này là biên giới chung phân biệt 2 dân tộc.

Nhà sử học người Trung Quốc là La Hương Lâm (羅香林) đã cho rằng các dân tộc cổ này nguyên thủy có cùng tổ tiên với người Hán ở vùng đất phương Bắc.Tuy nhiên, các di chỉ khảo cổ có niên đại thuộc Thời đại đồ đá mới (Neolithic) tại Quảng Tây và ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là các ngôi mộ chum được tìm thấy nhiều ở Việt Nam và một số ở Quảng Tây, đã phản bác lại và cho thấy người bản địa có nguồn gốc ở phía Nam và có quan hệ gần gũi với các nền văn hóa Hòa Bình (9000-5600 TCN) và Bắc Sơn (8300-5900 TCN) ở Việt Nam [4].

Các nhà ngôn ngữ dân tộc học cho rằng phát âm của từ 越 (Việt, Yue, Yueh) có thể có liên quan đến một loại sợi cây gai dầu (麻) được làm tại nơi mà nay là Chiết Giang. Chính chữ Việt (越) có liên quan đến chữ "việt" (鉞 - cái rìu lớn, một thứ binh khí thời xưa), thường được coi là biểu tượng của hoàng gia hoặc quyền lực hoàng đế (vua). Nhiều rìu đá đã được tìm thấy tại vùng Hàng Châu, và còn có bằng chứng rằng loại rìu đó là một phát minh của vùng đất phía Nam.

Các sách cổ nói đến nhiều nhóm người Việt, trong đó có Câu Ngô (句吳), Ư Việt (於越), Dương Việt (揚越), Cán Việt (干越), Sơn Việt (山越), Dạ Lang (夜郎), Điền Việt (滇越 / 盔越), Lạc Việt (雒越, tổ tiên trực tiếp của người ViệtViệt Nam ngày nay,... và Âu Việt (甌越, hay còn gọi là Tây Âu - 西甌). Đa số những cái tên này tồn tại được đến các thời đế chế sơ khai ở Trung Quốc và có thể được giải thích gần đúng là các nhóm văn hóa.

Theo huyền sử hư cấu của Việt Nam, một trăm người con của Lạc Long QuânÂu Cơ là tổ tiên của các dân tộc Bách Việt. Lãnh thổ nước Văn Lang (hay Lĩnh Nam) của các Hùng Vương, theo huyền sử cũng trùng với vùng đất Bách Việt.[5] Các bằng chứng về ngôn ngữ học cho thấy Vietic Nguyên thủy (Proto-Vietic), ngôn ngữ tổ tiên của tiếng Việt, tiếng Mường, Chứt, tiếng Thavưng (Thaveung), Cuối,... có nguồn gốc từ các tỉnh KhammouaneBolikhamxay thuộc Lào với một số phân bố qua sườn bên kia của dãy Sai Phou Louang (Annamite) (tức dãy Trường Sơn), phía bắc đến Nghệ An và phía đông đến Quảng Bình, nghĩa là xa về phía nam của đồng bằng sông Hồng.[note 1][note 2][note 3]

Đặc điểm và phân loạiSửa đổi

 
Trống đồng của nước Nam Việt lấy từ mộ số 1 La Bạc Loan, Quảng Tây. Trống đồng là biểu trưng quyền lực quốc gia của các tộc Bách Việt.

Nhận thấy các điểm khác biệt quan trọng giữa các nhóm tộc Việt, các học giả Trung Quốc đã cố gắng phân loại các nhóm Việt khác nhau, thường dựa trên phép gọi tên của các học giả Hán cổ hơn. Ở phía Nam, vùng Quảng Đông, Quảng Tây, vùng đất mà từ thời nhà Tần đã thường được gọi là Lĩnh Nam, người Hán đã xác định các nhóm với tên Dương Việt, Tây Âu, Lạc Việt, Ư Việt, Điền Việt, Dạ Lang, v.v.. Vào đầu thời nhà Hán, Bách Việt được chia thành các nhóm/vương quốc, trong đó: Đông Âu (東甌), Mân Việt (閩越) và Nam Việt (南越, bao gồm cả Tây Âu, Lạc Việt) là các nhóm chính với các ranh giới cụ thể, nhà Hán đã cố gắng phân loại một cách rất hệ thống:

  1. Nước Đông Âu, nằm ở vùng trước là lãnh thổ của các nước NgôViệt. (ngày nay là vùng Ôn Châu (溫州), Chiết Giang, Trung Quốc).
  2. Nước Mân Việt, cũng nằm trong lãnh thổ cũ của nước Việt (tỉnh Phúc Kiến ngày nay), được cho là tổ tiên của người Mân ở Trung Quốc hiện đại - bao gồm người dân đảo Đài Loan (những người nói tiếng Mân Nam)
  3. Nước Nam Việt, trong địa bàn tỉnh Quảng Đông ngày nay, về sau phát triển vào địa bàn tỉnh Quảng Tây và vùng phía Nam. Họ được cho là tổ tiên của người Quảng Đông hiện đại.
    1. Tây Âu, trong vùng ngày nay là miền Tây tỉnh Quảng Đông và miền Nam tỉnh Quảng Tây
    2. Lạc Việt, khu vực miền Bắc Việt Nam ngày nay, là tổ tiên trực tiếp của người Việt hiện đại cùng một số dân tộc thiểu số khác như người Mường... là 1 ví dụ điển hình.[cần dẫn nguồn]

Cho đến gần đây, các học giả Trung Quốc mới bắt đầu cố gắng phân biệt các nhóm một cách nghiêm túc hơn. Trong khi nhiều học giả vẫn dựa quá nhiều vào việc trích dẫn các sách cổ, các kết quả khảo cổ học gần đây đã bắt đầu đơn giản hóa quá trình phân tích.

Một số học giả [6][7] liệt kê các đặc điểm văn hóa của các nhóm tộc Việt như sau:

  1. Tục cắt tóc ngắn và xăm mình
  2. Xây nhà sàn
  3. Trang phục đặc trưng bởi quần ngắn hoặc váy quấn (kilt) và đầu đội khăn xếp (turban)
  4. Chế độ ăn nhiều sò hến và ếch
  5. Tục nhổ răng, thường là răng nanh hoặc răng cửa trên
  6. Tục lệ người cha tham gia quá trình đỡ đẻ, sau đó chăm sóc con nhỏ để người mẹ quay lại với việc làm đồng
  7. Đúc và sử dụng trống đồng trong các nghi lễ
  8. Bói bằng xương chim, đặc biệt là xương gà
  9. Thờ vật tổ, đặc biệt là chim, bò sát, và cóc/ếch
  10. Tục táng trên vách đá
  11. Sử dụng nhiều đến thuyền bè và điêu luyện về thủy chiến
  12. Hình dáng hình học của đồ gốm sứ
  13. Kỹ thuật dệt phát triển cao

Tuy nhiên, không phải tất cả các đặc điểm trên đều có ở mỗi nhóm tộc Việt. Chẳng hạn, người Việt ven biển phía Đông Nam Trung Quốc, cũng như ở Việt Nam, sử dụng rìu đá có vai, còn người ở vùng biển phía Bắc và xa phía Tây Nam Trung Quốc thì không.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng cách phân chia hữu ích nhất là chia các tộc Việt thành hai nhánh:

Các kết quả khảo cổ học có hỗ trợ cho cách phân chia đơn giản này. Các cổ vật đặc trưng cho nhóm thứ nhất, nhóm Bắc, bao gồm đồ gốm hình học (geometric pottery), xẻng đá lớn (large stone shovel), và đồ đồng kiểu Sở. Đặc điểm của nhóm thứ hai, nhóm Nam, là các đồ đồng kiểu tây nam, việc sử dụng các loại dụng cụ đồ đá đa dạng, hầu như không thấy đồ gốm hình học và xẻng đá lớn [8]. Nhóm phía Nam bắt đầu từ Việt Nam và kéo dài theo vùng ven biển lên tới khu vực Tây Nam tỉnh Quảng Đông.[9] Phát triển từ các nhóm văn hóa thời đại đồ đá cũ bản địa, sự tiếp nối của nhóm này đã được ghi nhận. Đó là các xã hội phát triển cao với một nền tảng nông nghiệp và một bộ đầy đủ các loại đồ gốm và đồ đá. Một điểm khác biệt rõ nét khác để phân tách hai nhóm chính là sự phát triển của một trong những loại cổ vật quan trọng nhất của khu vực: trống đồng được tìm thấy chủ yếu ở các vùng Vân Nam, Quảng Tây, và miền Bắc Việt Nam. Xem thêm bài Trống đồng.

Hướng tới một phân loại cụ thể hơn, các nhà học giả khác đã sử dụng cách chia ba để phân tách các nhóm văn hóa Việt. Ba nhóm này bao gồm:

  1. Nhóm Nam Việt (khác với tên nước Nam Việt của nhà Triệu[10]): phân bố tại miền Trung và miền Bắc Quảng Đông, và trong thời kỳ đầu còn bao gồm cả Phúc Kiến, Chiết Giang, và Nam Giang Tô. (trùng với nhóm Bắc của cách chia đôi)
  2. Nhóm Tây Âu, còn gọi là Âu Việt (甌越): phân bố ở các vùng Quế Giang (桂江) và Tây Giang (西江) của Quảng Tây(廣西).
  3. Nhóm Lạc Việt: phân bố ở Tây Nam Quảng Đông kéo tới Đông Nam Quảng Tây và Bắc Việt Nam.

Tuy hai nhóm Tây Âu (phía Tây Nam) và Lạc Việt (phía Đông Nam) có thể xếp vào một nhóm khi phân biệt với nhóm Việt phía Bắc, giữa hai nhóm này cũng có những điểm khác biệt quan trọng về cấp độ phát triển. Địa lý là một nhân tố quan trọng để giải thích sự khác biệt này. Phía Tây là vùng đồi núi, do đó, giao thông liên lạc khó khăn và các đa dạng địa phương có thể được bảo tồn lâu dài hay tiếp tục phát triển. Ở miền Đông Nam và các khu vực ven biển, giao thông liên lạc dễ dàng hơn, do đó, sự thâm nhập của các văn hóa bên ngoài cũng dễ dàng hơn, và theo thời gian, các đa dạng văn hóa địa phương có xu hướng phát triển về phía một dạng văn hóa chung. Theo các kết quả khảo cổ học, tuy chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi các nhóm văn hóa vùng Đông Nam Trung Quốc và Việt Nam, các nhóm văn hóa vùng Tây Nam Trung Quốc thể hiện các khác biệt địa phương nổi bật cho thấy một giai đoạn phát triển thấp hơn, đặc biệt về kinh tế nông nghiệp.

Lịch sửSửa đổi

Thời tiền sửSửa đổi

Bên cạnh các di chỉ khảo cổ về các nền văn hóa Hòa Bình (9000-5600 TCN) và Bắc Sơn (8300-5900 TCN) tại Việt Nam, ở phía Nam Trung Quốc cũng có các di chỉ khảo cổ được cho là của các tộc người Bách Việt cổ bản địa, các di chỉ ở Quảng Tây dường như có tương đồng với các di chỉ tại miền bắc Việt Nam.

Hai địa điểm khảo cổ thời Đồ Đá Mới được biết nhiều đến ở Quảng Tây là động Bailian gần Liễu Châu (柳州) và Zhenpi Yan gần Quế Lâm (桂林). Các đồ vật tìm thấy tại Bailian Dong được xác định theo định tuổi bằng cacbon-14 cách đây khoảng từ 30.000 đến 7.500 năm. Còn niên đại tại Zhenpi Yan được xác định vào khoảng 10.000 năm trước. Có hơn 400 mộ được cho là của tổ tiên người Tráng đã được phát hiện ở vùng này. Trong các mộ này, xác người được chôn ở tư thế nằm co, một kiểu chôn rất hiếm thấy ở Trung Quốc nhưng lại được tìm thấy rất nhiều ở Việt Nam. Theo Jeffrey Barlow,[11], những người thổ dân của vùng này có nguồn gốc ở phía Nam và có mối quan hệ gần gũi với các nền văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn ở Việt Nam.

Ở vùng Nam Ninh thuộc phía Tây Nam Quảng Tây, người ta tìm thấy các di chỉ với vỏ sò hến nước ngọt lẫn trong lớp tro bếp. Các di chỉ này thường nằm ven bờ các khúc sông, gần các khu đất bằng phẳng, nhà thường quay lưng vào đồi núi. Tại nhiều địa điểm, các nhà khảo cổ học cũng tìm được mộ. Tuy nhiên, ngoài kiểu chôn nằm co phổ biến, còn có các kiểu khác như nằm thẳng hoặc nằm nghiêng. Đặc biệt là các kiểu táng đa dạng này lại được tìm thấy tại cùng một địa điểm.

Rìu đá có vai, đặc trưng của các di chỉ Đồ đá mới tại Quảng Đông và Bắc Việt Nam, cũng được tìm thấy tại các địa điểm trên, nhưng được tìm thấy nhiều hơn theo hướng xuôi theo sông.

Cùng với các loại di chỉ, sự phân bố trên cho thấy ở phía Đông Nam các nền văn hóa địa phương phức tạp và có tính gắn kết hơn là phía Tây Nam. Sự khác biệt này có thể được giải thích bằng điều kiện địa lý: vùng Tây Nam nhiều đồi núi hơn nên các nền văn hóa ở đây khó giao lưu với nhau hơn.

Dòng di cư của người Hán và chiếm đấtSửa đổi

 
Kiếm bằng đồng xanh có hình đầu người Bách Việt

Từ thế kỷ IX trước Công nguyên, hai nhóm Việt ở phía Bắc, Câu NgôƯ Việt, bị ảnh hưởng ngày càng nhiều bởi láng giềng Trung Hoa (người Hán) ở phía Bắc. Hai nước này, một nước có lãnh thổ ở phía Nam Giang Tô, nước kia ở vùng Bắc Chiết Giang. Giới quý tộc lãnh đạo học chữ Hán, tiếp nhận các thể chế chính trị và kỹ thuật quân sự Trung Hoa. Người ta đã cho rằng sự thay đổi về văn hóa này là do Tể tướng nước Ngô là Ngô Thái Bá (吳太伯) - một vương tử của nhà Chu đã chạy về phía Nam lánh nạn. Vùng đất đầm lầy ở phía Nam đã mang lại cho Câu NgôƯ Việt những đặc điểm độc đáo. Họ không chú trọng vào làm ruộng mà dựa nhiều hơn vào nghề thủy sản (aquaculture). Giao thông đường thủy có tầm quan trọng lớn ở phía Nam, do đó hai nước này đã tiến lên trình độ cao về kỹ thuật đóng tàu thuyền và kỹ thuật thủy chiến. Họ còn được biết đến với những thanh bảo kiếm.

Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, hai nước này, bấy giờ có tên là NgôViệt, đã tham gia ngày càng sâu vào chính trị Trung Hoa. Năm 512 TCN, Ngô đánh Sở - nước lớn nhất ở miền Trung sông Dương Tử. Một chiến dịch tương tự đã diễn ra vào năm 506, lần này Ngô chiếm được kinh đô của Sở - thành Dĩnh (郢). Cũng năm đó, chiến tranh nổ ra giữa Ngô và Việt và tiếp diễn thêm 3 thập kỷ nữa. Năm 473 TCN, Việt Vương Câu Tiễn (雒句踐 - Lạc Câu Tiễn) cuối cùng đã đánh bại nước Ngô và được các nước phía Bắc là TềTấn (晉) công nhận. Năm 333 TCN, đến lượt Việt bị Sở diệt.

 
Bản đồ các khu vực lẻ tẻ do nhà Tần chiếm được của các nhóm tộc Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử sau năm 210 TCN.

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, vùng đất của Bách Việt bị nhập vào đế quốc Trung Hoa. Quân Tần còn tiến xa hơn về phía Nam dọc theo sông Tương (湘江) tới vùng đất nay là Quảng Đông và thiết lập các quận dọc theo các tuyến giao thông chính. Trong suốt thời nhà Hán, có hai nhóm Việt được nhắc đến, đó là Nam Việt ở phía cực Nam, sống chủ yếu tại các vùng Quảng Đông, Quảng Tây, và miền Bắc Việt Nam; và nhóm Mân Việt ở phía Đông Bắc, tập trung tại sông Mân Giang (閩江) ở vùng Phúc Kiến ngày nay.

Quá trình Hán hóa các dân tộc này được thực hiện bởi sự kết hợp giữa sức mạnh quân sự đế quốc và định cư của người Hán. Các khó khăn về vận tải và thủy thổ phương Nam đã làm cho việc chiếm đất và cuối cùng là đồng hóa các dân tộc Việt diễn ra một cách chậm chạp. Khi người Hán đến tiếp cận với các dân tộc Việt địa phương, họ thường giành lấy quyền kiểm soát lãnh thổ hoặc khuất phục dân địa phương bằng bạo lực. Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa vào năm 40, tướng Mã Viện của nhà Hán đã đem một lực lượng gồm 20.000 quân đến đánh dẹp. Trong khoảng từ năm 100 đến 184 đã có không dưới 7 cuộc nổi dậy bằng quân sự, nhà Hán đã thường phải dùng đến các hoạt động phòng vệ mạnh.

Khi dân nhập cư người Hán tăng dần, các tộc Việt dần dần bị buộc phải chuyển đến những vùng đất xấu hơn ở khu vực miền núi. Tuy nhiên, không giống với các dân tộc du mục ở miền Trung Á, chẳng hạn người Hung Nô hoặc người Tiên Ti (鮮卑), các dân tộc Việt chưa bao giờ là mối đe dọa lớn đối với sự bành trướng hay quyền kiểm soát của người Hán. Đôi khi, họ thực hiện các cuộc tấn công quy mô nhỏ vào vùng định cư của người Hán - các nhà sử học truyền thống của Trung Quốc gọi đây là "các cuộc nổi loạn". Về phần mình, người Hán coi các dân tộc Việt chỉ là những tộc người rất kém văn minh và có xu hướng gây chiến lẫn nhau.

Tuy nhiên, dưới đời nhà Tầnnhà Hán, các tộc Bách Việt vẫn cư ngụ ở vùng đất cũ của họ với các tổ chức xã hội và chính trị của riêng họ, sự cai trị của chính quyền người Hán chỉ là trên danh nghĩa. Từ thế kỷ IV, khi Trung Quốc bắt đầu bị các tộc du mục phương Bắc đánh chiếm - những người đã chiếm được toàn bộ vùng Bắc Trung Quốc và thiết lập Ngũ Hồ thập lục quốcBắc triều, chiến tranh đã gây ra những đợt lớn dân di cư từ phía Bắc về đổ về Nam Trung Quốc. Điều này đã tăng tốc quá trình Hán hóa (giao thoa văn hóa giữa người Bách Việt và người Hán) ở vùng Nam Trung Quốc, dân cư địa phương đã dần dần bị nhập vào văn hóa Hán hoặc phải dời đi nơi khác. Theo thời gian, từ "Bách Việt" đã không còn được sử liệu của Trung Quốc nhắc đến. Phần nhiều các tộc Bách Việt đã bị Hán hóa và đồng nhất với người Hán (hoặc nói cách khác, người Hán di cư làm phong phú thêm văn hóa Bách Việt phía nam Trung Hoa). Một số trở thành tổ tiên của các dân tộc thiểu số như người Tráng, người Bố Y (布依族), người Đồng (侗族), người Hỏa (火族)... ở miền Nam Trung Quốc.

Trong khi hầu hết các dân tộc Bách Việt cuối cùng đã bị đồng hóa vào nền văn hóa Hán, người Việt, hậu duệ trực tiếp của nhóm Lạc Việt, đã giữ được bản sắc dân tộc của mình và cuối cùng thoát khỏi sự thống trị của Trung Hoa vào thế kỷ X.[12][note 3]

Di sản của Bách ViệtSửa đổi

Sự sụp đổ của nhà Hán và giai đoạn phân chia sau đó đã đẩy nhanh quá trình Hán hóa. Các giai đoạn bất ổn và chiến tranh ở vùng phía bắc Trung Quốc, như là Nam Bắc triều và trong thời nhà Tống đã dẫn đến nhiều cuộc di dân lớn của người Hán. Hôn nhân giữa các sắc tộc và giao tiếp giữa các nền văn hóa đã dẫn đến sự pha trộn của người Hán và các dân tộc khác ở phía nam. Vào thời nhà Đường, từ "Việt" đã gần như trở thành một địa danh hơn là một từ mang tính văn hóa. Chẳng hạn, trong thời Ngũ Đại Thập Quốc, một nước tại vùng ngày nay là tỉnh Chiết Giang đã dùng tên nước là Ngô Việt. Cũng giống như vậy, từ "Việt" trong "Việt Nam" có gốc từ chữ "Việt" (越) này.

Ảnh hưởng của văn hóa Bách Việt đối với văn hóa Trung Hoa chưa được người Hán khẳng định một cách chính thức, nhưng rõ ràng ảnh hưởng đó là đáng kể. Các ngôn ngữ của những quốc gia cổ như Ngô và Việt đã hình thành nền tảng cho tiếng Ngô hiện đại (吳語 - Ngô văn) và ở một mức độ nào đó cũng là nền tảng cho tiếng Mân (閩方言)[cần dẫn nguồn] - các ngôn ngữ của vùng Phúc Kiến[cần dẫn nguồn]. Các nhà nhân học ngôn ngữ cũng đã khẳng định rằng một số lượng lớn các từ trong tiếng Trung Quốc có nguồn gốc từ các từ Việt cổ. Một ví dụ là từ "giang" (江), nghĩa là "sông". Các con sông ở phía Bắc Trung Quốc đều được gọi là "hà" (河), trong khi các con sông ở phía Nam Trung Quốc được gọi là "giang" (江). Dấu vết của ngôn ngữ Việt, đặc biệt là cấu trúc "tính từ đi sau danh từ" (ngược lại với tiếng Trung Quốc) vẫn còn lại trong các tác phẩm văn thơ kinh điển của Trung Quốc như Kinh Thi[13], và trong tên gọi của các vị thần/vương truyền thuyết mà người Trung Quốc coi là của họ như Thần Nông, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Khốc [14].

Ở một mức độ nào đó, một số dấu vết còn lại của các dân tộc Bách Việt và văn hóa của họ còn có thể được thấy trong một số dân tộc thiểu số ở Trung Quốc, đặc biệt là người Tráng, và nhiều dân tộc ở Việt Nam[cần dẫn nguồn].

Một số học giả đặt giả thuyết rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn minh Thần Nông ở phía Nam sông Dương Tử (nghĩa là thuộc vùng đất Bách Việt). Có người còn cho rằng đây là sản phẩm của người Âu ViệtLạc Việt[15][16][17][18][19], với các lập luận chẳng hạn như: có thể thấy một số khái niệm giống như Kinh Dịch được mã hóa trên các họa tiết trống đồngtranh Đông Hồ; một số tên quẻ cũng như diễn giải quẻ của người Trung Quốc từ xưa tới nay đôi khi còn rất mơ hồ... Tuy nhiên, những giả thuyết này mang tính suy diễn chủ quan, vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của truyền thuyết và cũng chưa tìm được các bằng chứng khảo cổ để chứng minh, nên chưa đủ sức thuyết phục ngay cả đối với giới học giả trong nước Việt Nam. Mặt khác, đối chiếu niên đại thì các giả thuyết này thể hiện sự vô lý: trống đồng của người Việt có niên đại cổ nhất là khoảng gần 2.800 năm trước, tranh Đông Hồ thì chỉ mới xuất hiện vài trăm năm trước, trong khi các yếu tố của Kinh Dịch đã được người Trung Quốc ghi lại trên giáp cốt văn từ thời nhà Thương cách đây 3.500 năm rồi, nên càng không có căn cứ để nói rằng Kinh Dịch là sáng tạo của người Việt.

Cách dùng hiện đạiSửa đổi

Trong tiếng Trung Quốc hiện đại, các chữ "越" và "粵" là khác nhau. Chữ thứ nhất thường được dùng để chỉ vùng đất nguyên thủy của Vương quốc Việt, một khu vực phía bắc của Chiết GiangThượng Hải, đặc biệt là các khu vực xung quanh Thiệu HưngNinh Ba. Hát tuồng Chiết Giang, chẳng hạn, được gọi là "Việt kịch" (越劇). Chữ "越" cũng được dùng để chỉ Việt Nam (越南). Chữ thứ hai "粵" (yuè) được dùng làm tên gọi tắt của tỉnh Quảng Đông. Tiếng Quảng Đông, được sử dụng tại Quảng Đông, Quảng Tây, Hồng Kông, Ma Cao và trong nhiều cộng đồng Hoa kiều ở các nước trên thế giới, còn được gọi là "Việt ngữ" (粵語).

Trong chữ Hán-Nôm mà người Việt Nam sử dụng, chữ "越" cũng được dùng trong tên Việt Nam - "越南".

Văn hóaSửa đổi

Nước Việt, nước Ngônước Sở thời Xuân Thu có cư dân bản địa là các bộ tộc Bách Việt. Do vị trí địa lý nên họ là các nhóm Bách Việt tiếp xúc sớm nhất với người Trung Hoa, và đã bắt đầu "Trung Hoa hóa" từ thời nhà Thương. Sử ký chép rằng vua của 3 nước này đều là quý tộc từ Trung Hoa di cư đến rồi lập quốc tại đây, và họ đều được Nhà Chu phong tước để trở thành chư hầu. Cho đến thời Xuân Thu thì cư dân bản địa tại các nước này đã "Trung Hoa hóa" khá nhiều, tuy nhiên họ vẫn giữ lại một số nét văn hóa riêng, khác với người Trung Hoa ở những vùng khác.

Chiến Quốc sách mô tả về người nước Việt (Ư Việt) và nước Ngô thời Xuân Thu (nay thuộc các tỉnh Giang Tô, Chiết Giang - Trung Quốc) như sau:

Người Ư Việt để tóc ngắn và xăm trổ trên người, vai phải để trần và buộc chặt quần áo bên trái. Ở nước Ngô, họ đánh răng đen và làm cho khuôn mặt sần sùi, họ đội những chiếc mũ làm bằng da cá và [quần áo] được khâu lại bằng một chiếc dùi.[20]

Người Hán gọi các dân tộc "man rợ" không phải người Hán khác nhau ở miền nam Trung Quốc là "Bách Việt", nói rằng họ có những thói quen thích ứng với nước, cắt tóc ngắn và xăm mình.[21] Người Hán cũng nói rằng ngôn ngữ của họ giống như "súc vật kêu" và họ thiếu luân lý, khiêm tốn, văn minh và văn hóa.[22][23] Theo lời kể của một người Hán nhập cư vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên: Người Việt cắt tóc ngắn, xăm trổ đầy mình, sống trong những rặng tre, không thành thị hay làng mạc, không sở hữu cung tên, ngựa hay xe ngựa."[24][25][26] Họ cũng nhuộm đen răng.[27]

Về mặt quân sự, các nước Việt và Ngô thời Xuân Thu khác với các quốc gia Hán tộc khác vì họ sở hữu hải quân.[28] Không giống như các nhà nước khác của Trung Quốc thời đó, họ cũng đặt tên cho thuyền và kiếm.[29] Một văn bản Trung Quốc mô tả nước Việt thời Xuân Thu đã sử dụng thuyền làm xe và mái chèo làm ngựa của họ.[30] Vùng đất đầm lầy ở phía nam đã tạo cho người Câu Ngô và Ư Việt những đặc điểm riêng biệt. Theo Robert Marks, các tộc Bách Việt sống ở khu vực ngày nay là tỉnh Phúc Kiến kiếm sống chủ yếu từ đánh cá, săn bắn và một số loại hình canh tác nương rẫy.[31] Trước khi người Hán di cư từ phương bắc đến, các bộ tộc Bách Việt trồng lúa nước, đánh cá và đốt nương làm rẫy, thuần hóa trâu nước, xây dựng nhà sàn, xăm mặt và thống trị các vùng ven biển từ bờ biển đến các thung lũng màu mỡ ở vùng núi nội địa.[32][33][34][35][36][37][38] Giao thông đường thủy là tối quan trọng ở phía Nam, vì vậy hai nước Ngô và Việt đã trở nên tiên tiến trong việc đóng tàu và phát triển công nghệ chiến tranh hàng hải, lập bản đồ các tuyến đường thương mại đến các bờ biển phía Đông của Trung Quốc và Đông Nam Á.[39][40]

KiếmSửa đổi

Nước Việt thời Xuân Thu nổi tiếng về kiếm thuật và sản xuất những thanh kiếm tốt. Theo Ngô Việt Xuân Thu, Việt vương Câu Tiễn đã gặp một nữ kiếm sĩ tên là Nanlin (Việt nữ), người đã thể hiện sự tinh thông kiếm thuật và vì vậy ông đã sai năm người tùy tướng của mình học hỏi kiếm thuật của cô. Kể từ đó, môn kiếm thuật này được biết đến với cái tên "Việt Nữ Kiếm". Người Việt cũng được biết đến với việc sở hữu những thanh kiếm thần bí có sức mạnh bùa chú của rồng hoặc các sinh vật lưỡng cư khác.[41]

Người phụ nữ đang đi về phía bắc để yết kiến vua [Câu Tiễn của nước Việt] thì gặp một ông già trên đường, ông ta tự giới thiệu mình là Lãnh chúa Nguyên. Anh ta hỏi người phụ nữ: “Tôi nghe nói rằng cô giỏi kiếm thuật, tôi muốn được thấy tận mắt.” Người phụ nữ nói: “Tôi không dám giấu giếm điều gì; thưa ngài, ngài có thể thử thách tôi." Lãnh chúa Nguyên sau đó đã chọn một cây trúc, phần ngọn của nó đã bị héo. Anh ta bẻ [những chiếc lá] và ném chúng xuống đất nhưng người phụ nữ đã nhặt được chúng [trước khi chúng rơi xuống đất]. Lãnh chúa Nguyên sau đó nắm lấy đầu dưới của cây tre và đâm người phụ nữ. Cô phản đòn, họ đánh nhau ba trận và ngay khi người phụ nữ nâng cây gậy để tấn công anh ta, Lãnh chúa Nguyên bay vào ngọn cây và trở thành một con vượn trắng (Nguyên).[42]


Chiến Quốc sách có đề cập đến chất lượng cao của kiếm phương nam và khả năng chém xuyên qua trâu, ngựa, bát, chậu nhưng sẽ vỡ nếu chém trúng cột hoặc đá. Kiếm của nước Ngô và nước Việt được đánh giá cao và những người sở hữu chúng hầu như không bao giờ sử dụng chúng vì sợ hư hại. Tuy nhiên, ở nước Ngô và nước Việt, những thanh kiếm này là bình thường và được đối xử kém tôn kính hơn.[43] Việt Tuyệt Thư (Ghi chép về những thanh kiếm quý) đề cập đến một số thanh kiếm nổi danh: Trạm Lư (湛卢), Haocao (Dũng cảm), Cự Khuyết (巨阙), Lutan (Màn sương), Thuần Quân (纯钧), Thắng Tà (胜邪), Ngư Trường (鱼肠), Long Uyên (龙渊), Thái A (泰阿) và Công Bố (工布). Nhiều thanh danh kiếm trong số này được rèn bởi thợ rèn kiếm người Việt là Âu Dã Tử.[44]

Kiếm giữ một vị trí đặc biệt trong văn hóa của các vương quốc Ngô và Việt cổ đại. Truyền thuyết về thanh kiếm được ghi lại ở đây sớm hơn và chi tiết hơn nhiều so với bất kỳ vùng nào khác của Trung Quốc và điều này phản ánh cả sự phát triển của công nghệ chế tạo kiếm tinh vi và tầm quan trọng của những lưỡi kiếm này trong nền văn hóa cổ đại ở miền Nam Trung Quốc. Cả Ngô và Việt đều nổi tiếng trong số các nước đương thời về số lượng và chất lượng của những thanh kiếm mà họ sản xuất, nhưng mãi đến sau này, vào thời nhà Hán, truyền thuyết về chúng mới lần đầu tiên được thu thập. Những câu chuyện này đã trở thành một phần quan trọng của thần thoại Trung Quốc và giới thiệu những thợ rèn huyền thoại như Can Tương 干將 và Mạc Tà 莫耶 trong những câu chuyện nổi tiếng trong nhiều thiên niên kỷ. Những câu chuyện này sẽ giữ cho danh tiếng của nghề rèn kiếm của nước Ngô và Việt tồn tại, nhiều thế kỷ sau khi các vương quốc này biến mất và thực sự vào một thời kỳ mà kiếm đã trở nên hoàn toàn lỗi thời ngoài mục đích nghi lễ bởi sự phát triển của công nghệ quân sự.[45]

— Olivia Milburn


Ngay cả sau khi Ngô và Việt được hòa nhập vào các triều đình lớn hơn ở Trung Quốc, ký ức về những thanh kiếm của họ vẫn còn tồn tại. Vào thời nhà Hán, Việt vương Lưu Tỵ (195-154 TCN) có một thanh kiếm mang tên Ngô Kiếm để tôn vinh lịch sử chế tác kim loại ở vương quốc của ông.[46]

Xem thêmSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Các ngôn ngữ trong nhóm Vietic đa dạng nhất tại khu vực miền trung Việt Nam và tây Trường Sơn thuộc Lào và các phương ngữ của tiếng Việt có mức độ đa dạng nhất tại miền trung Việt Nam. James R. Chamberlain cho rằng nguồn gốc của các cư dân nói nhóm ngôn ngữ Vietic, mà bao gồm hai nhóm chính:một nhóm bị Hán hóa nặng nề là người Kinh (Việt) và một nhóm bị các cư dân Tai-Kadai ảnh hưởng (người Mường), bắt nguồn từ khu vực đông Trường Sơn thuộc khu vực miền trung Việt Nam và các tỉnh KhammouaneBorikhamxay thuộc Lào. Họ di cư từ phía Nam lên vùng đồng bằng sông Hồng chứ không phải từ phía Bắc, tức Nam Trung Hoa, xuống và cũng không phải cư dân bản địa của khu vực đồng bằng sông Hồng. Xem Chamberlain, James R. (1998). The Origin of the Sek: Implications for Tai and Vietnamese History". Journal of the Siam Society 86.1 & 86.2: 27-44.
  2. ^ Cần xem lại nhận xét "không phải cư dân bản địa của khu vực đồng bằng sông Hồng", vì rằng các bằng chứng: 1. Những dấu vết tiếng Malay trong tiếng Việt (Xem: Bình-nguyên Lộc. Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam).; 2. Những người Chăm cổ ở vùng Đèo NgangQuảng Bình, Quảng Trị nay đã Việt hóa; 3. Hiện tượng giao chỉ, tức ngón chân cái choãi ra nên khi đứng thì đầu ngón chân cái giao nhau, chỉ có ở người phương Nam (người Negrito?)- dấu tích nay chỉ còn ở số rất ít người; 4. Có thông tin rằng sau cuộc Khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại thì nhiều thị tộc mẫu hệ di cư sang Sumatra thành người Minangkabau (Xem: Những bí ẩn về tộc người Việt cổ sống ở Indonesia). Khả dĩ hơn thì phải coi là tại đồng bằng sông Hồng các cư dân Vietic, Malay-PolynesiaTai-Kadai sống xen nhau, do quá trình di cư thời tiền sử.
  3. ^ a ă Ghi chú đã dời vào trang Thảo luận:Bách Việt

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Meacham, William (1996). “Defining the Hundred Yue”. Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association. 15: 93–100. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011.
  2. ^ Barlow, Jeffrey G. (1997). “Culture, ethnic identity, and early weapons systems: the Sino-Vietnamese frontier”. Trong Tötösy de Zepetnek, Steven; Jay, Jennifer W. (biên tập). East Asian cultural and historical perspectives: histories and society—culture and literatures. Research Institute for Comparative Literature and Cross-Cultural Studies, University of Alberta. tr. 1–15. ISBN 978-0-921490-09-8.
  3. ^ [1]
  4. ^ Meacham, William "Origins and Development of Yue Coastal Neolithic: A Microcosm of Cultural Change on the Mainland of East Asia," Berkeley: University of California Press, 1983. Tác giả gọi nền văn hóa vùng nam Trung Quốc là 'Bắc Sơn Nam Trung Quốc' (South China Bacsonian)
  5. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư. Quyển I. Kỷ Hồng Bàng thị: "Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam)"
  6. ^ Yu Tianji, Qin Shengmin, Lan Riyong, Liang Xuda and Qin Cailan (eds.) Gu Nan Yue Guo Shi., [The History of the State of Ancient Yue.] Nanning: Guangxi Renmin Chubanshe, 1988., pp. 179-188.
  7. ^ Chen Guoqiang, Wu Nianji, Jiang Bingzhao and Qin Tucheng, Bai Yue Minzu Shi, [The History of the Bai Yue People.] Beijing: Zhongguo Shehui Kexue Chubanshe, 1988, pp. 41-61.
  8. ^ Yu Tianzi, Qin Shengmin, Lann Riyong, Liang Xuda, Qin Cailan (eds.) pp. 194-8. Lu Mingtian, "Qin Han Qianhou Lingan Bai Yue Zhuyao Zhixide Fenbu ji qi Zu Cheng." [The Distribution and Names of the Important Branches of the Bai Yue Peoples of the Lingnan Before and After the Qin and Han.] pp. 143-159 in Bai Yue Minzu Shi Yanjiu Huipian, [The Research Committee of the History of the Bai Yue Peoples] (eds) Bai Yue Minzushi Lun Cong, [A Collection of Essays on the History of the Bai Yue Peoples.] Nanning: Guangxi Renmin Chubanshe, 1985. pp. 144-5 bổ sung sự có mặt của các loại rìu đá có vai (shouldered axe) trong cái mà tác giả gọi một đặc điểm nổi bật của văn hóa phía Đông Nam.
  9. ^ Meacham, pps. 147-177.
  10. ^ Vì "Nhóm Nam Việt" còn bao gồm Phúc Kiến, Chiết Giang và phía nam Giang Tô. Điều này khác hoàn toàn với lãnh thổ nước Nam Việt của nhà Triệu
  11. ^ Jeffrey Barlow, The Zhuang. Chương 1. Mục 1.1 Lưu trữ 2007-02-08 tại Wayback Machine, Pacific University
  12. ^ Khoảng thế kỷ XII-XIII, khi quân Mông Cổ diệt nước Đại Lý, dân nước này chạy về phía Nam và trở thành tổ tiên của người Thái hiện là sắc tộc chính tại Thái LanLào, và là dân tộc thiểu số tại Việt NamMiến Điện
  13. ^ Một trong nhiều ví dụ:
    Trung tâm dao dao (Thử ly: trong lòng nao nao)
    Tại bỉ trung hà (Bách châu: giữa dòng sông)
  14. ^ Không phải "Nông Thần", "Nghiêu Đế", "Thuấn Đế"....
  15. ^ Kim Định, Dịch Kinh linh thể, [2]
  16. ^ Kim Định, Gốc rễ triết Việt, Ghi chú về Lạc Thư là sách của Lạc dân
  17. ^ Trần Quang Bình, Kinh Dịch, sản phẩm văn hóa của nền văn minh Âu Lạc [3]
  18. ^ Kinh Dịch - di sản sáng tạo của Việt Nam? Loạt bài trên Thanh Niên Online Lưu trữ 2006-12-22 tại Wayback Machine
  19. ^ Tìm về cội nguồn Kinh Dịch- Nguyễn Vũ Tuấn Anh
  20. ^ Milburn 2010, tr. 2.
  21. ^ Marks, Robert B. (1998). Tigers, Rice, Silk, and Silt: Environment and Economy in Late Imperial South China (Studies in Environment and History). Cambridge University Press. tr. 54.
  22. ^ Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association, Issue 15. Indo-Pacific Prehistory Association. 1996. tr. 94.
  23. ^ Indo-Pacific Prehistory Association. Congress (1996). Indo-Pacific Prehistory: The Chiang Mai Papers, Volume 2. Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association. Volume 2 of Indo-Pacific Prehistory: Proceedings of the 15th Congress of the Indo-Pacific Prehistory Association, Chiang Mai, Thailand, 5–12 January 1994. The Chiang Mai Papers. Indo-Pacific Prehistory Association, Australian National University. tr. 94.
  24. ^ Kiernan, Ben (2017). A History of Vietnam, 211 BC to 2000 AD. Oxford University Press. tr. 63. ISBN 978-0195160765.
  25. ^ Hutcheon, Robin (1996). China–Yellow. Chinese University Press. tr. 4. ISBN 978-962-201-725-2.
  26. ^ Mair, Victor H.; Kelley, Liam C. (2016). Imperial China and Its Southern Neighbours. Institute of Southeast Asian Studies (xuất bản 28 tháng 4 năm 2016). tr. 25–33.
  27. ^ Milburn 2010, tr. 1-2.
  28. ^ Holm 2014, tr. 35.
  29. ^ Kiernan 2017, tr. 49-50.
  30. ^ Kiernan 2017, tr. 50.
  31. ^ Marks (2017), tr. 142.
  32. ^ Marks, Robert B. (1998). Tigers, Rice, Silk, and Silt: Environment and Economy in Late Imperial South China (Studies in Environment and History). Cambridge University Press. tr. 55.
  33. ^ Sharma, S. D. (2010). Rice: Origin, Antiquity and History. CRC Press. tr. 27. ISBN 978-1-57808-680-1.
  34. ^ Brindley 2015, tr. 66.
  35. ^ Him & Hsu (2004), tr. 8.
  36. ^ Peters, Heather (tháng 4 năm 1990). H. Mair, Victor (biên tập). “Tattooed Faces and Stilt Houses: Who were the Ancient Yue?” (PDF). Department of East Asian Languages and Civilizations, University of Pennsylvania. East Asian Collection. Sino-Platonic Papers. 17: 3.
  37. ^ Marks (2017), tr. 72.
  38. ^ Marks (2017), tr. 62.
  39. ^ Lim, Ivy Maria (2010). Lineage Society on the Southeastern Coast of China. Cambria Press. ISBN 978-1604977271.
  40. ^ Lu, Yongxiang (2016). A History of Chinese Science and Technology. Springer. tr. 438. ISBN 978-3-662-51388-0.
  41. ^ Brindley 2015, tr. 181-183.
  42. ^ Milburn 2010, tr. 291.
  43. ^ Milburn 2010, tr. 247.
  44. ^ Milburn 2010, tr. 285.
  45. ^ Milburn 2010, tr. 273.
  46. ^ Milburn 2010, tr. 276.

Liên kết ngoàiSửa đổi

Tiếng Việt:

Tiếng Anh: