Thiên Nham Nguyên Trường

Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Không tông phái

Thiền sư ni

Cư sĩ


Thiền sư Thiên Nham Nguyên Trường (zh: 千巖元長, ja: Sengan Genchō, 1284-1357), thiền sư trung quốc, còn có hiệu(pháp tự) là Vô Minh, thuộc tông Lâm Tế, từng sống dưới thời nhà Nguyên. Sư là một trong những pháp tử nổi trội nhất của Thiền sư Trung Phong Minh Bản và có đệ tử nối pháp là Thiền sư Vạn Phong Thời Uỷ.

Tiểu sửSửa đổi

Sư họ Đổng, quê ở Tiêu Sơn, vùng Việt Châu, tỉnh Triết Giang. Năm 7 tuổi, sư theo tỳ kheo Đàm Phương tu học tại Pháp Môn Viện và đến năm 19 tuổi mới cạo tóc xuất gia rồi thọ giới cụ túc. Đầu tên sư theo học về giới luật ở Linh Chi Tự ở Triết Giang.

Sau đó, sư đến yết kiến và học Thiền với Thiền sư Trung Phong Minh Bản và được ngài dạy cho tham cứu công án Con chó của Triệu Châu(Con chó không có Phật tính) và chuyên tâm đề khán công án này suốt 3 năm. Một hôm, sư nghe tiếng chim hót, bèn đại ngộ, mừng rỡ tìm đến ngài Trung Phong cầu ấn chứng. Tuy nhiên, khi sư trình sở ngộ, Thiền sư Trung Phong không chấp nhận và gạt bỏ hết, làm sư cảm thấy rất ấm ức. Nhưng nhờ điều này mà sư gắng sức chuyên tâm tham cứu hơn, quyết ngộ bản tâm cho triệt để.

Đêm hôm đó, có con chuột chạy làm đổ chén thức ăn của mèo rơi xuống đất phát ra tiếng động, sư nghe tiếng bát vỡ liền triệt ngộ(đại ngộ triệt để). Nhân đây mọi nghi tình từ trước đều tan vỡ hết, không còn chổ nghi ngại, thấu triệt Phật Tính. Và đến cầu Thiền sư Trung Phong ấn chứng lần nữa. Thiền sư Trung Phong hỏi:

-Vì sao Triệu Châu không nói?

Sư đáp: -Chuột ăn cơm  mèo!

Trung Phong bảo: -Chưa được!

Sư đáp: -Chén cơm đổ bể!

Trung Phong hỏi: -Bể rồi thì sao?

Sư đáp: -Vỡ thành gạch vụn!

Đến đây Thiền sư Trung Phong Minh Bản mới hoàn toàn chấp nhận, mỉm cười vui vẻ ấn khả chứng minh và truyền pháp Lâm Tế Chính Tông cho sư.

Sau khi đạt đạo, chúng thỉnh sư đến trụ trì tại Vô Minh Tự (無明寺) và bắt đầu công cuộc hoằng hóa. Đến năm 1327, sư tiến hành trùng tu Thánh Thọ Tự (聖壽寺) và tiếp tục hoằng pháp ở đây.

Sư được vua Nguyên kính trọng và từng nhiều lần ban các danh hiệu cao quý như: Phổ Ứng Diệu Trí Hoằng Biện, Phật Huệ Viên Giám Đại Nguyên Phổ Tế, Phật Huệ Viên Minh Quảng Chiếu Vô Biên Phổ Lợi Đại Thiền Sư.

Đến ngày 14 tháng 6 năm 1357, sư có chút bệnh, bèn gọi chúng đến dăn dò rồi ngồi kiết già viết kệ thị tịch:

Bình sinh lắm lời

Nay đà thua thiệt

Một câu vang trời

Chính pháp nhãn diệt

Viết xong, sư an nhiên thị tịch, hưởng thọ 74 tuổi đời và 56 hạ lạp. Sư có để lại tác phẩm Thiên Nham Hòa Thượng Ngữ Lục (千巖和尚語錄) gồm 1 quyển.

Tham khảoSửa đổi

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.