Tiếng Hy Lạp Cappadocia

tiếng

Tiếng Cappadocia còn được gọi là tiếng Hy Lạp Cappadocia hoặc tiếng Hy Lạp Tiểu Á, là một ngôn ngữ trộn lẫn được nói ở Cappadocia (miền Trung Thổ Nhĩ Kỳ).[2] Ngôn ngữ ban đầu được chuyển từ tiếng Hy Lạp thời Trung cổ của Đế quốc Byzantine sau chiến thắng Đế quốc Seljuk tại trận Manzikert năm 1071. Do sự trao đổi dân cư giữa Hy LạpThổ Nhĩ Kỳ vào những năm 1920, tất cả người Hy Lạp Cappadocia đã buộc phải di cư đến Hy Lạp, nơi họ được tái định cư ở nhiều địa điểm khác nhau, chủ yếu miền Trung và Bắc Hy Lạp. Người Cappadocia nhanh chóng chuyển sang tiếng Hy Lạp hiện đại chuẩn và ngôn ngữ của họ được cho là đã biến mất kể từ những năm 1960. Vào tháng 6 năm 2005, Mark Janse (Đại học Ghent) và Dimitris Papazachariou (Đại học Patras) đã phát hiện ra người Cappadocia ở miền Trung và miền Bắc Hy Lạp vẫn có thể nói ngôn ngữ tổ tiên của họ một cách trôi chảy. Nhiều người ở độ tuổi trung niên, thế hệ thứ ba có thái độ rất tích cực đối với ngôn ngữ này, trái ngược với cha mẹ và ông bà của họ.[3] Thế hệ sau này ít nhiều có khuynh hướng nói tiếng Cappadocia và thường xuyên hơn là không chuyển sang tiếng Hy Lạp hiện đại chuẩn.

Tiếng Hy Lạp Cappadocia

Khu vựcHy Lạp, ban đầu Cappadocia (Trung Thổ Nhĩ Kỳ)
Tổng số người nói2.800
(trước đây được cho là biến mất)
Phân loạingôn ngữ trộn lẫn tiếng Hy Lạptiếng Thổ Nhĩ Kỳ
Mã ngôn ngữ
ISO 639-3cpg
Glottologcapp1239[1]

Lịch sử và nghiên cứuSửa đổi

 
Phương ngữ Hy Lạp Anatilia cho đến năm 1923. Demotic màu vàng. Pontus màu cam. Cappadocia màu xanh lá cây, với các chấm màu xanh lá cây biểu thị các làng Hy Lạp Cappadocia riêng lẻ vào năm 1910.[4]
 
Quê hương gốc của Cappadocia

Đến thế kỷ thứ năm Công nguyên, ngôn ngữ bản địa Ấn-Âu cuối cùng của Tiểu Á không còn được nói, thay thế bằng tiếng Hy Lạp Koine.[5] Đồng thời, các cộng đồng ở miền trung Tiểu Á đang tích cực tham gia vào các vấn đề của Đế quốc Đông La Mã nói tiếng Hy Lạp và một số người Cappadocia (nói tiếng Hy Lạp) như Maurice Tiberius (r. 582-602) và Heraclius (r. 610 đến 641) thậm chí vươn lên trở thành Hoàng đế.[6][7]

Tiếng Hy Lạp Cappadocia bắt đầu tách khỏi ngôn ngữ chung Hy Lạp trung đại của Đế chế Đông La Mã (Byzantine) sáu thế kỷ sau,[4] sau thất bại của Byzantine trong trận Manzikert năm 1071. Thất bại này cho phép những người nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ lần đầu tiên bước vào Tiểu Á, cắt đứt Cappadocia khỏi phần còn lại của cộng đồng Byzantine. Vào thế kỷ 20, tiếng Hy Lạp Cappadocia bị ảnh hưởng nặng nề bởi tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng không giống như tiếng Hy Lạp hiện đại chuẩn, nó không bị ảnh hưởng bởi tiếng Venicetiếng Pháp từ thời Frankokratia, sau cuộc vây hãm Constantinopolis lần thứ tư (thập tự chinh thứ tư) vào năm 1204.

Những ghi chép sớm nhất về ngôn ngữ này là trong những bài thơ macaronic của Jalal ad-Din Muhammad Rumi (1207-1273), người sống ở Iconium (Konya) và một số Ghazal của con trai ông là Sultan Walad.[8][9] Việc giải thích các văn bản tiếng Hy Lạp rất khó vì chúng được viết bằng chữ Ả Rập và trong trường hợp của Rumi không có điểm nguyên âm; phiên bản của Dedes (Δέδες) là phiên bản gần đây nhất.[10][11][12]

Vào đầu thế kỷ 20, nhiều người Cappadocia đã chuyển sang tiếng Thổ Nhĩ Kỳ hoàn toàn (được viết bằng bảng chữ cái Hy Lạp, Karamanlidika). Nơi tiếng Hy Lạp được duy trì (nhiều ngôi làng gần Kayseri, bao gồm Misthi, Malakopea, Prokopion,[13] Karvali,[14][15]Anakou), nó bị ảnh hưởng nặng nề bởi tiếng Thổ Nhĩ Kỳ xung quanh. Tuy nhiên, không có văn liệu nào trong thời Trung cổ hay thời đầu Cappadocia hiện đại vì ngôn ngữ này về cơ bản vẫn chỉ là ngôn ngữ nói.

Phát hiện gần đây về những người nói tiếng Cappadocia của Janse và Papazachariou dẫn đến việc phát hành một từ điển mới và một bộ sưu tập các văn bản.

Tiếng Hy Lạp Cappadocia nổi tiếng trong cộng đồng ngôn ngữ học bởi đây một trong những trường hợp ngôn ngữ (tưởng rằng) đã chết đầu tiên mà ta có nhiều thông tin, cũng như bởi sự khác biệt do pha trộn đáng kể các đặc điểm ngôn ngữ phi Ấn-Âu vào ngôn ngữ Ấn-Âu. Quá trình này hiện diện ở Cappadocia Tây-Nam và bao gồm việc đưa vào luật hài hòa nguyên âm và trật tự câu kết thúc bằng động từ.

Phương ngữSửa đổi

  • Cappadocia Đông Bắc (Sinasos, Potamia, Delmeso)
  • Cappadocia Tây Bắc (Silata hoặc Zila, Anaku, Flojita, Malakopi)
  • Cappadocia Trung (Axo; Misthi) (Xem Misthiotica)
  • Cappadocia Tây Nam (Aravan, Gurzono; Fertek)
  • Cappadocia Đông Nam (Oulagatz (Uluağaç), Semendere)

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Nordhoff, Sebastian; Hammarström, Harald; Forkel, Robert và đồng nghiệp biên tập (2013). “Cappadocian Greek”. Glottolog. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology. 
  2. ^ Janse, Mark. “The Resurrection of Cappadocian (Asia Minor Greek)”. Αω International: 3. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2016. 
  3. ^ “Laboratory of Ancient Greek Dialects”. University of Patras. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2016. 
  4. ^ a ă Dawkins, R.M. 1916. Modern Greek in Asia Minor. A study of dialect of Silly, Cappadocia and Pharasa. Cambridge: Cambridge University Press. https://archive.org/details/moderngreekinas00hallgoog
  5. ^ Swain, Simon; Adams, J. Maxwell; Janse, Mark (2002). Bilingualism in Ancient Society: Language Contact and the Written Word. Oxford [Oxfordshire]: Oxford University Press. tr. 246–266. ISBN 978-0-19-924506-2. 
  6. ^ Stark, Freya (2012). Rome on the Euphrates: The Story of a Frontier. Tauris Parke Paperbacks. tr. 390. ISBN 978-1-84885-314-0. Byzantium reverted to Greek (Maurice, born in Cappadocia, was its first Greek emperor); and trade and diplomacy were honored from the very founding of the Imperial city as never in Rome before. 
  7. ^ Corradini, Richard (2006). Texts and identities in the early Middle Ages. Verl. der Österr. Akad. der Wiss. tr. 57. ISBN 978-3-7001-3747-4. Emperor Maurice who is said to be the first emperor "from the race of the Greeks," ex Graecorum genere. 
  8. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2014. 
  9. ^ “Rumi”. Khamush.com. 9 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2016. 
  10. ^ Δέδες, Δ. 1993. Ποιήματα του Μαυλανά Ρουμή. Τα Ιστορικά 10.18–19: 3–22.
  11. ^ Meyer, G. 1895. Die griechischen Verse in Rabâbnâma. Byzantinische Zeitschrift 4: 401–411.
  12. ^ Burguière, P. 1952. Quelques vers grecs du XIIIe siècle en caractères arabes. Byzantion 22: 63–80.
  13. ^ Rodley, Lyn (2010). Cave Monasteries of Byzantine Cappadocia. Cambridge University Press. tr. 5. ISBN 978-0-521-15477-2. ..medieval place names in the region that can be established are known only from scant references: one Elpidios, Memorophylax of Prokopios, who attended the Council of Chalcedon (451), may have come from Hagios Prokopios (now Urgup, but still called ‘Prokopion’ by the local Greek population in the early years of this century); 
  14. ^ Oberheu, Susanne. Wadenpohl, Michael (2010). Cappadocia. BoD. tr. 270–1. ISBN 978-3-8391-5661-2. On May 1st, 1923, the agreement on the exchange of the Turkish and Greek minorities in both countries was published. A shock went through the ranks of the people affected – on both sides. Within a few months they had to pack their belongings and ship them or even sell them. They were to leave their homes, which had also been their great-grandfathers’ homes, they were to give up their holy places and leave the graves of their ancestors to an uncertain fate. In Cappadocia, the villages of Mustafapasa, Urgup, Guzelyurt and Nevsehir were the ones affected most by this rule. Often more than half the population of a village had to leave the country, so that those places were hardly able to survive…The Greeks form Cappadocia were taken to Mersin on the coast in order to be shipped to Greece from there. But they had to leave the remaining part of their belongings behind in the harbor. They were actually promised that everything would be sent after them later, but corrupt officials and numberless thieves looted the crammed storehouses, so that after a few months only a fraction of the goods or even nothing at all arrived at their new home….Today the old houses of the Greek people are the only testimony that reminds us of them in Cappadocia. But these silent witnesses are in danger, too. Only a few families can afford the maintenance of those buildings…. 
  15. ^ Güzelyurt becomes a touristic hub. AKSARAY - Anatolia News Agency. Ngày 17 tháng 7 năm 2012. In the town of Güzelyurt in Aksaray Province in the Central Anatolian region of Turkey, 250-year-old arched stone mansions have been transformed into boutique hotels to serve tourists coming to discover the area’s cultural and historical treasures. The town is an important part of the historical Cappadocia region…Much of the previously large Greek population in Güzelyurt vanished with the population exchange of the 1920s. "With the population exchange in 1924, Greeks and Turks exchanged places. Before the population exchange, rich Greeks dealing with trade in Istanbul had historical mansions in Güzelyurt," Özeş said. Some houses in the town date back 250 years and a few 100-year-old historical houses also exist, according to Özeş. "They have extremely thick walls. The height of the arches is nearly four to five meters. Each of the houses is a work of art creating an authentic environment." 

Tài liệuSửa đổi

  • Αναστασιάδης, Β. 1975. Ιστορία και γλώσσα της Καππαδοκίας και το ιδίωμα των Φαράσων. Μικρασιατικά Χρονικά 16: 150–184.
  • Αναστασιάδη-Μανουσάκη, Σ., Μνήμες Καππαδοκίας ΚΜΣ Αθήνα 2002
  • Ανδριώτης, Ν.Π. 1948. Το γλωσσικό ιδίωμα των Φαράσων.
  • Αρχέλαος, Ι.Σ. 1899. Η Σινασός. Αθήνα: Ιωάννης Νικολαΐδης. 134–139, 144–147, 150–153.
  • Costakis, A. 1964. Le Parler Grec d'Anakou. Athens: Centre d'Études d'Asie Mineure.
  • Costakis, A. 1968. Το γλωσσικό ιδίωμα της Σίλλης. Athens: Centre d'Études d'Asie Mineure.
  • Dawkins, R.M. 1916. Modern Greek in Asia Minor. A study of dialect of Silly, Cappadocia and Pharasa. Cambridge: Cambridge University Press.
  • Dawkins, R.M. 1921. Cyprus and the Asia Minor Dialects of Asia Minor. Αφιέρωμα εις Γ.Ν. Χατζιδάκιν. Αθήνα: Π.Δ. Σακελλαρίου. 42–59. passim.
  • Dawkins, R.M. 1955. The Boy's Dream. Μικρασιατικά Χρονικά 6: 268–282.
  • Θεοδωρίδης, Θ. 1960–61. Φαρασιώτικες παραδόσεις, μύθοι και παραμύθια. Λαογραφία 19: 222–259.
  • Θεοδωρίδης, Θ. 1963–64. Φαρασιώτικες παραδόσεις, μύθοι και παραμύθια (Συλλογή δευτέρα). Λαογραφία 21: 269–336.
  • Θεοδωρίδης, Θ. 1988. Βαρασώτικα τραγώδε. Μικρασιατικά Χρονικά 18: 41–89.
  • Grégoire, H. 1909. Appendice: Notes sur le dialecte de Farasha. Bulletin de Correspondance Héllénique 33: 148–159.
  • Janse, M. 1994. Son of Wackernagel. The Distribution of Object Clitic Pronouns in Cappadocian. Irene Philippaki-Warburton, Katerina Nicolaidis & Maria Sifianou (eds.): Themes in Greek Linguistics. Papers from the First International Conference on Greek Linguistics, Reading, September 1993 (Current issues in Linguistic Theory, 117. Amsterdam: Benjamins. 435–442.
  • Janse, M. 1997. Synenclisis, Metenclisis, Dienclisis. The Cappadocian Evidence. Gabriel Drachman, Angeliki Malikouti-Drachman, Jannis Fykias & Sila Klidi (eds.): Greek Linguistics ’95. Proceedings of the 2nd International Conference on Greek Linguistics (Salzburg, 22–24 Sept. 1995. Graz: Neugebauer. 695–706.
  • Janse, M. 1998a. Cappadocian Clitics and the Syntax-Morphology Interface. Brian D. Joseph, Geoffrey Horrocks & Irene Philippaki-Warburton (eds.): Themes in Greek Linguistics II (Current Issues in Linguistic Theory, 159). Amsterdam: Benjamins. 257–281.
  • Janse, M. 1998b. Grammaticalization and Typological Change. The Clitic Cline in Inner Asia Minor Greek. Mark Janse (ed.): Productivity and Creativity. Studies in General and Descriptive Linguistics in Honor of E.M. Uhlenbeck (Trends in Linguistics. Studies and Monographs, 116). Berlin: Mouton de Gruyter. 521–547.
  • Janse, M. 1998c. Le grec au contact du Turc. Le cas des relatives en Cappadocien. In Caron, B. (ed.), Proceedings of the 16th international congress of linguistics, 20–ngày 25 tháng 7 năm 1997. Amsterdam: Elsevier Science. Paper no. 338.
  • Janse, M. 1999. Greek, Turkish, and Cappadocian Relatives Revis(it)ed. Amalia Mozer (ed.): Greek Linguistics ’97. Proceedings of the 3rd International Conference on Greek Linguistics. Athens: Ellinika Grammata. 453–462.
  • Janse, M. 2001a. Morphological Borrowing in Asia Minor. Yoryia Aggouraki, Amalia Arvaniti, J.I.M. Davy, Dionysis Goutsos, Marilena Karyolaimou, Anna Panagiotou, Andreas Papapavlou, Pavlos Pavlou, Anna Roussou (eds.), Proceedings of the 4th International Conference on Greek Linguistics (Nicosia, 17–ngày 19 tháng 9 năm 1999). Thessaloniki: University Studio Press. 473–479.
  • Janse, M. 2001b. Cappadocian Variables. Mark Janse, Brian D. Joseph & Angela Ralli (eds.), Proceedings of the First International Conference of Modern Greek Dialects and Linguistic Theory. Patras: University of Patras. 79–88.
  • Janse, M. 2002. Aspects of Bilingualism in the History of the Greek Language. J.N. Adams, Mark Janse & Simon Swain (eds.), Bilingualism in Ancient Society. Language Contact and the Written Word. Oxford: Oxford University Press. 332–390.
  • Janse, M. 2004. Παλιό κρασί σε καινούρια ασκιά. Τουρκοελληνικά «αναφορικά» στην κεντρική Μικρασία. Νεοελληνική διαλεκτολογία. Τόμος 4ος. Πρακτικά του Τέταρτου Διεθνούς Συνεδρίου Νεοελληνικής Διαλεκτολογίας. Αθήνα: Εταιρεία Νεοελληνικής Διαλεκτολογίας. 173–182.
  • Janse, M. 2004. Animacy, Definiteness and Case in Cappadocian and other Asia Minor Greek Dialects. Journal of Greek Linguistics 5: 3-26.
  • Janse, M. 2006a. Η καππαδοκική διάλεκτος. Χρ. Τζιτζιλής (ed.), Νεοελληνικές διάλεκτοι. Θεσσαλονίκη: Ινστιτούτο Νεοελληνικών Σπουδών (΄Ιδρυμα Μανόλη Τριανταφυλλίδη). In press.
  • Janse, M. 2006b. Object Position in Asia Minor Greek. Mark Janse, Brian D. Joseph & Angela Ralli (eds.), Proceedings of the Second International Conference of Modern Greek Dialects and Linguistic Theory. Patras: University of Patras. In press.
  • Janse, M. 2006c. Clitic Doubling from Ancient to Asia Minor Greek. Dalina Kallulli & Liliane Tasmowski (eds.), Clitic Doubling in the Balkan Languages (Linguistics Today). Amsterdam: John Benjamins. In preparation.
  • Joseph, B.D. 1997. Cappadocian Greek αρέ 'now' and related adverbs: The effects of conflation, composition and resegmentation. Στο Φιλερήμου Αγάπησις: Τιμητικός Τόμος για τον καθηγητή Αγαπητό Γ. Τσοπανάκη. Ρόδος: Στέγη Γραμμάτων και Τεχνών Δωδεκανήσου. 115–122.
  • Καρατζά Ε. Καππαδοκία, Ο τελευταίος Ελληνισμός της περιφέρειας Ακσεράι - Γκέλβερι, Γνώση, Αθήνα 1985
  • Karatsareas, Petros. 2009. The loss of grammatical gender in Cappadocian Greek. Transactions of the Philological Society 107, 2: 196–230.
  • Karatsareas, Petros. 2011. A study of Cappadocian Greek nominal morphology from a diachronic and dialectological perspective. Unpublished PhD dissertation. University of Cambridge, Cambridge, United Kingdom.
  • Karatsareas, Petros. 2013. Understanding diachronic change in Cappadocian Greek: the dialectological perspective. Journal of Historical Linguistics 3, 2: 192–229.
  • Karatsareas, Petros. 2016a. Convergence in word structure: revisiting ‘agglutinative’ noun in ection in Cappadocian Greek. Diachronica 33(1), 31–66.
  • Karatsareas, Petros. 2016b. The adpositional cycle in Asia Minor Greek: a tale of multiple causation. Journal of Greek Linguistics 16(1), 47–86.
  • Lekakou, Marika & Petros Karatsareas. 2016. Marking definiteness multiply: evidence from two varieties of Greek. Studies in Greek Linguistics 36, 189–204.
  • Κεσίσογλου, Ι.Ι. 1951. Το γλωσσικό ιδίωμα του Ουλαγάτς. Αθήνα: Γαλλικό Ινστιτούτο Αθηνών.
  • Kooij, Jan G. & Revithiadou, Anthi. 2001. Greek Dialects in Asia Minor. Accentuation in Pontic and Cappadocian. Journal of Greek Linguistics 2: 75–117.
  • Λεβίδης, Α., Αι εν μονολίθοις μοναί Καππαδοκίοας-Λυκανονίας, Κωνσταντινούπολις 1899
  • Λουκόπουλος, Δ. & Λουκάτος, Δ.Σ. 1951. Παροιμίες των Φαράσων. Αθήνα: Institut Français d'Athènes.
  • Μαυροχαλυβίδης, Γ. & Κεσίσογλου, Ι.Ι. 1960. Το γλωσσικό ιδίωμα της Αξού. Αθήνα: Γαλλικό Ινστιτούτο Αθηνών.
  • Mirambel, A. 1965. Remarques sur les Systèmes Vocaliques des Dialects Néo-Grecs d'Asie Mineure. Bulletin de la Société Linguistique de Paris 60: 18–45.
  • Ralli, A. 2009. Morphology meets Dialectology: insights from Modern Greek Dialects. Morphology 19 (2): 87–105.
  • Ralli, A. 2012. Morphology in language contact: verbal loanblend formation in Asia Minor Greek. In M. Vanhov et al. eds. Morphologies in Contact, 177–194.
  • Revithiadou, Anthi. 2006. Prosodic Filters on Syntax. An Interface Account of Second Position Clitics. Lingua 116: 79–111.
  • Τσαλίκογλους, Ε.Ι. 1970. Πότε και πώς ετουρκοφώνησεν η Καππαδοκία. Μικρασιατικά Χρονικά 14: 9–30.
  • Φάβης, Β. 1948. Συντακτικαί παρατηρήσεις εις το γλωσσικόν ιδίωμα Φαράσων. Επετηρίς της Εταιρεία Βυζαντινών Σπουδών 18: 173–191.
  • Φωστέρης, Δ. & Κεσίσογλου, Ι.Ι. 1950. Λεξιλόγιο του Αραβανί. Αθήνα: Γαλλικό Ινστιτούτο Αθηνών.
  • Φωστέρης, Δ.Π. 1952. Το Αραβάνιον. Μικρασιατικά Χρονικά 5: 133–177.

Rumi và Sultan WaladSửa đổi

  • Δέδες, Δ. 1993. Ποιήματα του Μαυλανά Ρουμή. Τα Ιστορικά 10.18–19: 3–22.
  • Meyer, G. 1895. Die griechischen Verse in Rabâbnâma. Byzantinische Zeitschrift 4: 401–411.
  • Mertzios, C.D. 1958. Quelques vers grecs du XIIIe siècle en caractères arabes. Byzantinische Zeitschrift 51: 1516.
  • Burguière, P. 1952. Quelques vers grecs du XIIIe siècle en caractères arabes. Byzantion 22: 63–80.

Liên kết ngoàiSửa đổi

Bản mẫu:Ngôn ngữ tại Thổ Nhĩ Kỳ