Trò Xuân Phả là các trò diễn dân gian mô tả cảnh 5 quốc gia cổ (thuộc Trung Hoa, Hòa Lan, Tú Huần, Chăm Pa, Ai Lao) đem lễ vật cùng với những tiết mục múa hát đặc sắc của quốc gia họ để chúc mừng Hoàng đế nước Việt xưa. Trò Xuân Phả được hình thành và phát triển hơn nghìn năm để trở thành một tổ hợp múa dân gian đặc sắc, độc nhất vô nhị diễn ra hàng năm ở Nghè Xuân Phả, xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa và được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Trò Xuân Phả gồm có 5 điệu múa rất đặc biệt với tên gọi Hoa Lang, Tú Huần, Ai Lao, Ngô QuốcXiêm Thành. Trò Xuân Phả thường diễn ra vào các ngày từ 10 đến 12 tháng 2 âm lịch hàng năm tại di tích Nghè Xuân Phả.[1]

Nguồn gốcSửa đổi

Trò Xuân Phả mang đậm dấu ấn của lịch sử và đời sống xã hội thời Lê sơ. Thông điệp của người xưa gửi lại cho thế hệ muôn sau còn in rõ trên Lam Sơn Vĩnh Lăng Bi (Bia Vĩnh Lăng, Lam Sơn) soạn thảo vào năm Thuận Thiên thứ 6 (1433). Sau chiến thắng quân Minh uy thế của nước Đại Việt được các nước lân bang nể phục: “Hai nước từ đó thông sứ hòa hảo. Nam, Bắc yên việc. Mang Lễ, Ai Lao, đều vào bản đồ. Chiêm Thành, Đồ Bà, vượt bể đến cống”. [2]

Điệu Ai Lao, thể hiện đoàn vương quốc Vạn tượng do đích thân vua vào chúc mừng. Đi đầu là voi và hổ múa cùng những người thợ săn. Vua Ai Lao đầu đội mũ cánh chuồn mặc áo chàm xanh, có người theo sau đấm lưng. 10 quân (hai người sau cùng gánh cỏ cho voi) đội mũ rễ si, tay cầm xênh tre xếp thành hai hàng với những điệu múa mô phỏng việc săn bắn hái lượm.

Điệu Tú Huần còn gọi là Lục hồn Nhung, trang phục trò Tú Huần đầu đội mũ, đeo mặt nạ gỗ miêu tả bà cố, mẹ và 10 người con. Mặt người mẹ thì già nua còn 10 người con được chia thành 5 cặp, mặt vẽ theo độ tuổi từ trẻ đến già với 1, 2... 5 cái răng. Nghe hồi trống, cụ cố già, người hầu bên cạnh cầm quạt, lượn hai vòng quanh sân nghè, vái chào. Bà mẹ gõ xênh nhảy theo nhịp ba gần ban thờ, quỳ vái. Theo nhịp trống, 10 con chia thành từng đôi, tiến lùi theo mẹ múa.

Điệu Chiêm Thành, thể hiện đoàn sứ của vương quốc Champa tới chúc mừng, gồm có ông chúa, bà nàng, một người hầu, hai phỗng hầu và 16 quân. Chúa và quân. Sau khi chúa đọc văn tế và hai phỗng dâng hương, đoàn quân ngậm mặt nạ gỗ kỳ dị nhảy múa, giống các tư thế trong các tượng Chàm cổ.

Điệu Ngô Quốc chính là đoàn múa của người Trung Hoa. Nhân vật trong trò này có hai nàng tiên, ông chúa và mười quân đầu đội nón lính, áo màu lam, tay cầm mái chèo trông như người Mãn Thanh. Kết thúc trò cũng là điệu chèo thuyền với lời ca lưu luyến: ... Gió tăm tắp buồm chạy ra khơi/ Chàng về Bắc quốc, em thời An Nam/ Mưa đâu chớp đấy cho cam/ Mưa qua thành Lạng chớp ngàn mây xanh...

Trò Xuân Phả mô tả cảnh năm phương đến chầu, múa hát những tiết mục nghệ thuật đặc sắc của các quốc gia chúc mừng nhà vua và triều đình Đại Việt sau chiến thắng ca khúc khải hoàn hoặc trong một cuộc đại lễ long trọng.

Ngũ quốc lân bangSửa đổi

Đặc trưng của trò Xuân Phả với 5 điệu múa dân gian đặc sắc có tên gọi "Ngũ quốc lân bang đồ tiến cống" gồm:

Trò Hoa Lang Tượng trưng cho người Hà Lan (Công ty Đông Ấn) tiến cống. [3] Trò Hoa Lang với các nhân vật ông, cháu, mế nàng và mười quân. Trang phục gồm áo dài, đầu đội mũ cao da bò, tay trái cầm quạt tay phải mái chèo, đeo mặt nạ cũng làm bằng da bò phết sơn trắng, mắt có lông công. Mũ Chúa được chạm rồng, chạm mặt nguyệt ở mũ Quân.

Trò Tú Huần hay Lục Hồn Nhung Không rõ nguồn gốc. Trò Tú Huần đầu đội mũ loóng làm từ tre, đeo mặt nạ gỗ miêu tả bà cố, mẹ và mười người con. Mũ tre đan như rế nồi úp ngược có lạt tre làm tóc bạc, đội trên miếng khăn vuông vải đỏ bịt đầu tóc. Mặt nạ gỗ sơn trắng vẽ mắt mồm màu đen rất "kinh dị". Mặt bà cố nhăn nheo, mặt người mẹ thì già nua còn mười người con được chia thành năm cặp, mặt vẽ theo độ tuổi từ trẻ đến già với 1, 2,…5 cái răng tương xứng.

Trò Ai Lao Tượng trưng người Thái-Lào tiến cống. Trò Ai Lao gồm có Chúa Lào, người hầu, lính bảo vệ (mười quân), voi và hổ nhảy múa theo tiếng xênh tre được gõ nhịp liên hồi, biểu trưng cho sức mạnh săn bắt nhưng cũng rất mềm mại, uyển chuyển. Chúa đầu đội mũ cánh chuồn mặc áo chàm xanh. Quân lính đội mũ rễ si, quấn phá ngang vai, chân mang xà cạp và tay cầm xênh tre.

Trò Ngô Quốc Tượng trưng người Trung Hoa tiến cống. Trò Ngô Quốc có hai nàng tiên, ông chúa và mười quân đầu đội nón lính, áo màu lam, tay cầm mái chèo. Đầu màn có xuất hiện nhân vật người bán thuốc, người bán kẹo và thầy địa lý múa một đoạn ngẫu hứng rồi nhường chỗ cho các nàng tiên cùng chúa và đoàn quân đi ra. Màn diễn gồm các điệu múa quạt, múa khăn rồi múa mái chèo.

Trò Xiêm Thành Tương trưng người Champa tiến cống. Trò Chiêm Thành ngoài chúa, quân còn có thêm nhân vật phỗng. Áo chúa bằng đậu, áo quân bằng lụa, đều nhuộn màu đỏ hồng và không thêu thùa hoa văn. Chúa và quân đều vấn khăn vuông đỏ thành hai sừng thẳng đứng trên đầu. Áo phỗng là cổ sòi, cổ xiêm quấn xung quanh mình.

Giá trị nghệ thuậtSửa đổi

Tháng 10/2016, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch Việt Nam đã chính thức ghi danh Trò Xuân Phả (xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa) vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia.[4]

Đặc trưng ở Trò Xuân Phả là các “vũ công” nam có những động tác phóng khoáng, tay chân mở rộng, khỏe, thể hiện “trong nhu có cương, trong cương có nhu” với nhiều động tác múa, tuyến múa, đội hình múa, làm tôn nên sắc thái văn hóa lúa nước, vẻ duyên dáng, tinh tế, kín đáo nhưng cũng rất mạnh mẽ của người Việt. Trong năm điệu múa của Trò Xuân Phả, có ba điệu mà người diễn phải dùng mặt nạ, đó là điệu Chiêm Thành, Hoa Lang và Tú Huần.

Trong 5 trò múa thì chỉ ba điệu Hoa Lang, Tú Huần và Xiêm Thành có mặt nạ. Đặc biệt trò Hoa Lang, Xiêm Thành người ta không đeo mà ngậm mặt nạ nửa mặt dưới bởi một nút gỗ vào miệng.[5]

Một số nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam nhận định, Trò Xuân Phả có những nét khá giống một “lễ hội hóa trang” của người phương Tây, tuy nhiên Trò Xuân Phả lại mang đậm yếu tố cung đình và dân gian Việt trong từng điệu múa. Với những điệu múa độc đáo, có sự pha trộn yếu tố cung đình và dân gian mang đầy tính chất ước lệ nhưng Trò Xuân Phả cũng rất huyền bí, lộng lẫy, phản ánh quan niệm thẩm mỹ của dân tộc nói chung, của người nông dân nơi nó được sinh ra nói riêng.

Bảo tồn và phát huySửa đổi

Vào dịp ngày 10/2 âm lịch hàng năm, dân làng Xuân Phả mở trại hội tại Nghè Xuân Phả với việc tái diễn các tích trò Xuân Phả lên ngài Chúa đất Đại Hải Long Vương. Ngoài ra, Trò Xuân Phả còn được biểu diễn thường xuyên tại các lễ hội đền thờ Lê Hoàn, lễ hội Lam Kinh ở Thọ XuânLễ hội Hoa LưNinh Bình.

Năm 1935, trò Xuân Phả trình diễn tại hội chợ nông sản huyện Thọ Xuân, có các quan đầu tỉnh người Việt và người Pháp đến dự. Năm 1936, vua Bảo Đại mời người dân Xuân Trường về biểu diễn trò Xuân Phả tại Kinh đô Huế.[6]

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Độc đáo trò Xuân Phả”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2014.
  2. ^ [1]
  3. ^ [2]
  4. ^ Trò Xuân Phả chuyện bây giờ mới kể
  5. ^ “Vị thế của Quốc gia Đại Việt qua Trò Xuân Phả”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2015.
  6. ^ Trò Xuân Phả - Trò diễn “độc nhất vô nhị” ở Thanh Hóa

Tham khảoSửa đổi

  • Hoàng Anh Nhân, Phạm Minh Khang, Hoàng Hải - Khảo sát Trò Xuân Phả- Nhà xuất bản Âm nhạc.

Liên kết ngoàiSửa đổi